phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý chi ngân sách nhà nƣớc. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng quản lý chi ngân sách nhà nƣớc trên địa bàn thành phố Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên. Chƣơng 4: Giải pháp tăng cƣờng quản lý chi ngân sách nhà nƣớc trên địa bàn thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1. Cơ sở lý luận về quản lý chi ngân sách Nhà nƣớc cấp huyện 1. Một số khái niệm cơ bản * K i niệm N ân s c n à nước: Theo Luật ngân sách Nhà nƣớc số 83/2015/QH13 ngày 25 tháng 6 năm 2015 đã xác định: “N ân s c N à nước là toàn bộ các khoản thu, chi của N à nước đã được cơ quan N à nước có thẩm quyền quyết địn và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năn , n iệm vụ của N à nước. Ngân sách Nhà nước có thể hiểu là một kế hoạch tài chính quốc gia bao gồm chủ yếu các khoản thu và chi của N à nước được mô tả dưới hình thức cân đối bằng giá trị tiền tệ.
Phần thu thể hiện các nguồn tài c ín được uy độn vào n ân s c N à nước; phần chi thể hiện chính sách phân phối các nguồn tài c ín đã uy độn được để thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội. N ân s c N à nước được lập và thực hiện cho một thời gian nhất địn , t ường là một năm và được Quốc hội phê chuẩn thông qua”. NSNN biểu hiện ra ngoài là một bản dự toán thu, chi bằng tiền của Nhà nƣớc trong một khoảng thời gian nhất định, thƣờng là một năm. Nhƣng về bản chất, đằng sau những con số thu, chi đó là mối quan hệ kinh tế về lợi ích giữa Nhà nƣớc với các chủ thể khác trong nền kinh tế nhƣ: doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân trong và ngoài nƣớc.
Mối quan hệ này đƣợc phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ NSNN, đòi hỏi các chủ thể quản lý NSNN phải giải quyết một cách hài hòa mối quan hệ về lợi ích giữa Nhà nƣớc với các chủ thể trong nền kinh tế. Bởi vì đối tƣợng phân phối để tạo lập nguồn thu cho NSNN là giá trị của cải xã hội; mục đích phân phối, sử dụng nguồn vốn NSNN là đáp ứng các nhu cầu gắn liền với việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nƣớc trong từng thời gian cụ thể. Hệ thống NSNN nói chung gồm NSTW và NSĐP, tùy theo điều kiện kinh tế - chính trị và mô hình tổ chức chính quyền của từng quốc gia mà hệ thống NSNN có thể độc lập hay lồng ghép. Đối với Việt Nam hệ thống NSNN mang tính lồng ghép và NSTW giữ vai trò chủ đạo.
5 * Khái niệm chi NSNN: Chi NSNN là việc phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm đảm bảo thực hiện chức năng của Nhà nƣớc theo những nguyên tắc nhất định. Chi NSNN là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã đƣợc tập trung vào NSNN và đƣa chúng đến mục đích sử dụng. Do đó, chi NSNN là những việc cụ thể không chỉ dừng lại trên các định hƣớng mà phải phân bổ cho từng mục tiêu, từng hoạt động và từng công việc thuộc chức năng của Nhà nƣớc (Nguyễn Thị Bất, 2017). Chi NSNN là hình thức cơ bản nhất của chi tiêu công, đó là quá trình Nhà nƣớc phân phối và sử dụng quỹ NSNN theo dự toán đã đƣợc cấp có thẩm quyền quyết định, nhằm duy trì hoạt động của bộ máy nhà nƣớc và đảm bảo thực hiện các chức năng của Nhà nƣớc theo những nguyên tắc luật định trong mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn cụ thể.
Quá trình phân phối là quá trình phân bổ, cấp phát kinh phí từ NSNN cho các đơn vị sử dụng ngân sách. Quá trình sử dụng là quá trình trực tiếp chi dùng kinh phí đƣợc NSNN cấp để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nƣớc đối với từng cơ quan, đơn vị. Mục đích của chi NSNN là thực hiện chức năng và nhiệm vụ của nhà nƣớc. Chi NSNN là nội dung của chấp hành NSNN nên thuộc trách nhiệm và quyền hạn của hệ thống cơ quan chấp hành và hành chính nhà nƣớc các cấp.
Căn cứ để thực hiện chi NSNN là dự toán ngân sách hàng năm, quy định của pháp luật và định mức, tiêu chuẩn chi ngân sách. Nếu hoạt động thu NSNN là nhằm thu hút các nguồn vốn tiền tệ để hình thành nên quỹ NSNN thì chi NSNN là chu trình phân phối, sử dụng các nguồn vốn tiền tệ đã đƣợc tập trung vào NSNN. Do hoạt động thu NSNN vừa là tiền đề, vừa là cơ sở thực hiện hoạt động chi NSNN nên phạm vi và quy mô của hoạt động chi NSNN phụ thuộc phần lớn vào kết quả của hoạt động thu NSNN. Quá trình chi NSNN là sự phối hợp giữa hai quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN.
Quá trình phân phối là quá trình cấp phát kinh phí từ NSNN để hình thành các loại quỹ trƣớc khi đƣa vào sử dụng. Quá trình sử dụng là quá trình trực tiếp chi dùng khoản tiền cấp phát từ ngân sách không trải qua việc hình thành các loại quỹ trƣớc khi đƣa vào sử dụng (Lê Thị Kim Nhung, 2015). 6 Phạm vi của chi NSNN rất rộng và đa dạng, bao trùm mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, có liên quan một cách trực tiếp hoặc gián tiếp tới mọi đối tƣợng xuất phát từ vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nƣớc trong việc phát triển chính trị - kinh tế - văn hóa - xã hội của quốc gia. Khái niệm về quản lý chi ngân sách Nhà nước Trên thực tế tồn tại nhiều cách tiếp cận khái niệm “quản lý”.
Thông thƣờng, quản lý đồng nhất với các hoạt động tổ chức chỉ huy, điều khiển, động viên, kiểm tra, điều chỉnh… Theo giáo trình Khoa học quản lý (2001): “Quản lý là sự tác động có hƣớng đích của chủ thể quản lý đến một hệ thống nào đó nhằm biến đổi nó từ trạng thái này sang trạng thái khác theo nguyên lý phá vỡ hệ thống cũ để tạo lập hệ thống mới và điều khiển hệ thống”. Quản lý kinh tế là sự tác động giữa chủ thể quản lý và đối tƣợng quản lý. Trong đó chủ thể quản lý là những tổ chức, cá nhân và nhà quản lý cấp trên. còn đối tƣợng quản lý hay còn gọi là khách thể quản lý là những tổ chức, cá nhân, nhà quản lý cấp dƣới, cũng nhƣ các tập thể, cá nhân ngƣời lao động.
Sự tác động trong mối quan hệ quản lý mang tính hai chiều và đƣợc thực hiện thông qua các hoạt động tổ chức, lãnh đạo, lập kế hoạch, kiểm tra điều chỉnh…Quản lý chi NSNN chính là 1 hoạt động trong quản lý kinh tế. Từ đó, ta có khái niệm về quản lý chi NSNN: “Quản lý c i NSNN là qu trìn N à nước vận dụng các quy luật khách quan sử dụng hệ thốn c c p ươn p p, côn cụ quản lý t c độn đến các hoạt động chi NSNN phục vụ tốt nhất việc thực hiện các chức năn , n iệm vụ của N à nước và t úc đẩy phát triển kinh tế xã hội” (Đặn Văn Du, 2010). Vấn đề quan trọng trong quản lý chi NSNN là việc tổ chức quản lý giám sát các khoản chi tiết kiệm và có hiệu quả cao, để làm đƣợc điều này cần lƣu ý các nội dung sau: - Quản lý chi phải gắn chặt với việc bố trí các khoản chi làm cơ sở cho việc quản lý xây dựng quy chế kiểm tra, kiểm soát. - Bảo đảm yêu cầu tiết kiệm và hiệu quả trong việc bố trí và quản lý các khoản chi tiêu ngân sách Nhà nƣớc.
- Quản lý chi phải thực hiện các biện pháp đồng bộ, kiểm tra giám sát trƣớc, trong và sau khi chi. 7 - Phân cấp quản lý các khoản chi cho các cấp chính quyền địa phƣơng và các tổ chức trên cơ sở phải phân biệt rõ nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội (KT-XH) của các cấp theo Luật Ngân sách để bố trí các khoản chi cho thích hợp. - Quản lý chi NSNN phải kết hợp quản lý các khoản chi ngân sách thuộc vốn Nhà nƣớc với các khoản chi thuộc nguồn của các thành phần kinh tế để tạo ra sức mạnh tổng hợp, nâng cao hiệu quả chi. - Quản lý chi NSNN là hoạt động không thể thiếu ở mọi quốc gia, hoạt động này không chỉ giúp tiết kiệm những khoản chi không cần thiết mà còn hạn chế tình trạng thâm hụt ngân sách, tham ô, tham nhũng.
ặc điểm và vai trò của quản lý chi ngân sách Nhà nước 1. Đặc điểm của quản lý c i n ân s c N à nước a. Đơn vị quản lý c i n ân s c là c c cơ quan n à nước và thực hiện quản lý c i trên cơ sở c c quy định hiện hành của Pháp Luật. Đơn vị quản lý chi ngân sách đƣợc tổ chức chặt chẽ từ Trung ƣơng đến địa phƣơng và là cơ sở để trực tiếp quản lý và điều hành các mặt hoạt động của đời sống xã hội.
Ở cấp Trung ƣơng, quản lý chi NSNN đƣợc thực hiện bởi hệ thống cơ quan quản lý nhà nƣớc Trung ƣơng nhƣ Chính Phủ; Bộ và các cơ quan ngang Bộ. Ở cấp địa phƣơng, việc quản lý chi ngân sách đƣợc thực hiện bởi UBND các cấp, các sở, phòng, ban của địa phƣơng. Việc quản lý chi ngân sách của các cơ quan quản lý nhà nƣớc các cấp đƣợc thực hiện trên cơ sở quy định hiện hành của Pháp luật nhằm đảm bảo tính khách quan, minh bạch, chuẩn hóa. Đây là điểm khác biệt quan trọng giữa quản lý chi ngân sách nhà nƣớc và quản lý tài chính của các chủ thể không phải là Nhà nƣớc (Đặng Văn Du, 2010).
Quản lý c i n ân s c n à nước vừa mang tính chất chính trị, vừa mang tính quản trị tài chính công Tính chất chính trị thể hiện ở chỗ quản lý chi NSNN hƣớng tới các mục tiêu chính trị nhƣ phân bổ hợp lý ngân sách giữa các tầng lớp dân cƣ, giữa các lĩnh vực khác nhau trong nền kinh tế đã đƣợc cấp có thẩm quyền phê chuẩn.