Chương 1: Tổng quan nghiên cứu cơ sở lý luận và những vấn đề cơ bản về quản lý chi NSNN huyện Chương 2: Phương pháp nghiên cứu đề tài Chương 3: Phân tích thực trạng công tác quản lý chi NSNN tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội Chương 4: Phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi NSNN cho quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NSNN CẤP QUẬN 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Từ trƣớc đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học, bao gồm các bài viết, các luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ, chuyên đề thực tập tốt nghiệp nghiên cứu liên quan đến quản lý chi NSNN. Một số công trình công bố đã để lại những bài học, kinh nghiệm quản lý cho các cơ quan quản lý nhà nƣớc, những ngƣời tham gia hoạch định chính sách.
Trong số đó, có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu: - Đề tài: “Hoàn thiện công tác quản lý NSNN huyện Đức Phổ” năm 2011 của Huỳnh Thị Cẩm Liên – Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Đại học Đà Nẵng. Tác giả đã đề cập những vấn đề mang tính thời sự trong quản lý ngân sách cấp huyện, trong đó có chi thƣờng xuyên ở cấp huyện nên rất đáng để học hỏi. Đóng góp mới của Luận văn này là lần đầu tiên đã đánh giá đúng thực chất vai trò, tình hình quản lý NSNN cấp huyện, góp phần thúc đẩy quá trình dân chủ hóa, thực hiện công khai hoạt động tài chính – ngân sách và đƣa ra các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả quản lý NSNN cấp huyện. Tuy nhiên, đề tài tập trung vào cân đối thu – chi ngân sách huyện nên chƣa đi sâu vào những vấn đề cụ thể trong chi ngân sách cấp huyện.
- Đề tài: “Đổi mới quản lý NS địa phương các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng” năm 2009 của tác giả Trần Quốc Vinh- Luận án Tiến sĩ kinh tế. Tác giả đã hệ thống hóa và làm rõ thêm những vấn đề về quản lý NSNN, quản lý NS địa phƣơng, các nhân tố ảnh hƣởng đến quản lý NS địa phƣơng; qua phân tích thực trạng quản lý NS địa phƣơng ở các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng đề xuất các giải pháp nhằm tiếp tục đổi mới quản lý NS địa phƣơng các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng đến 2020. Sử dụng phƣơng pháp thống kê, so sánh, tổng hợp và phân tích số liệu thu, chi, Tô Thiện Hiền (2012) đã làm sáng tỏ về mặt lý luận hiệu quả quản lý ngân sách nhà nƣớc, phân tích thực trạng các hình thức thu, chi NSNN tỉnh trong giai đoạn 2006 – 2010, chỉ ra những thành tích cũng nhƣ những hạn chế của công tác quản lý 4 thu, chi NSNN tỉnh An Giang, từ đó đề xuất những giải pháp cơ bản để hoàn thiện quản lý NSNN tỉnh nhằm đảm bảo tăng trƣởng và phát triển kinh tế bền vững của địa phƣơng tầm nhìn đến năm 2020. Những giải pháp toàn diện đƣợc đƣa ra là: tăng cƣờng, chấn chỉnh quản lý thu, bồi dƣỡng nguồn thu, khuyến khích tăng thu; quản lý nguồn thu tập trung vào NSNN; quản lý và sử dụng có hiệu quả các khoán chi NSNN; hoàn thiện cơ chế tự chủ và tự chịu trách nhiệm về tài chính đối với các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp; hoàn thiện, đổi mới cơ chế phân cấp quản lý và điều hành ngân sách nhà nƣớc các cấp; đổi mới quy trình lập, chấp hành và quyết toán NSNN; tăng cƣờng thanh tra, kiểm tra, khen thƣởng và xử lý kịp thời vi phạm trong quản lý NSNN; và nâng cao trình độ quản lý ngân sách nhà nƣớc.
Bên cạnh các đề tài nghiên cứu tiêu biểu trên, một số đề tài về phân cấp, quản lý thu chi ngân sách các cấp, có liên quan đến đề tài nghiên cứu nhƣ: Vũ Sỹ Cƣờng (2012) phân tích tổng quan phân cấp quản lý ngân sách, so sánh tình hình thu, chi ngân sách địa phƣơng của Việt Nam với các nƣớc đang phát triển và đang chuyển đổi và chỉ ra những kết quả phân cấp quản lý ngân sách Việt Nam đã đạt đƣợc cùng với những bất cập hạn chế còn tồn tại. Nhận định rõ ƣu, khuyết điểm, đề tài đƣa ra một số hƣớng cải cách phân cấp quản lý ngân sách, cụ thể: Thiết kế lại hệ thống ngân sách nhà nƣớc; Trao cho địa phƣơng quyền tự chủ cao hơn trong quyết định và quản lý nguồn thu; Các khoản thu đƣợc phân chia cho các cấp ngân sách; Mở rộng quyền tự chủ của địa phƣơng trong quyết định chi tiêu; Đổi mới quy trình lập, phân bổ, chấp hành và quyết toán ngân sách; Tăng cƣờng tính minh bạch và trách nhiệm giải trình về tài chính ở các cấp địa phƣơng, thực hiện nghiêm kỷ luật tài khóa và Cho phép linh hoạt nhất định trong điều hành ngân sách địa phƣơng để đối phó với những biến động. Nhƣ vậy, mặc dù có khá nhiều đề tài nghiên cứu các vấn đề về ngân sách cấp huyện, song chƣa có đề tài nào đề cập đến quản lý chi NSNN Quận Bắc Từ Liêm, đặc biệt trong giai đoạn chuyển giao từ Huyện Từ Liêm cũ thành 2 quận Bắc Từ Liêm và Nam Từ Liêm. Các đề tài nghiên cứu trên sẽ là cơ sở lý luận, tài liệu tham khảo hữu ích phục vụ cho đề tài nghiên cứu này.
Cơ sở lý luận về quản lý NSNN cấp quận 1. Ngân sách nhà nước quận 1. Khái niệm NSNN là phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử. Sự hình thành và phát triển của NSNN gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của kinh tế hàng hóa – tiền tệ trong các phƣơng thức sản xuất của các cộng đồng và nhà nƣớc của từng cộng đồng.
Nói cách khác, sự ra đời của Nhà nƣớc, sự tồn tại của nền kinh tế hàng hóa – tiền tệ là những tiền đề cho sự phát triển của NSNN. Luật ngân sách nhà nƣớc đã đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 25/06/2015 (có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2017, thay thế cho Luật ngân sách nhà nƣớc số 01/2002/QH11) đã định nghĩa: “Ngân sách nhà nƣớc là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nƣớc đƣợc dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nƣớc”. Quản lý NSNN thực chất là quản lý thu, chi NSNN và cân đối hệ thống NSNN. Quản lý thu NSNN là việc Nhà nƣớc dùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ NSNN nhằm thỏa mãn các chi tiêu của Nhà nƣớc.
Quản lý chi NSNN là việc Nhà nƣớc phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm đảm bảo thực hiện chức năng của Nhà nƣớc theo những nguyên tắc đã đƣợc xác lập. Về phƣơng diện pháp lý, thu NSNN bao gồm những khoản tiền Nhà nƣớc huy động vào NS để thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của xã hội. Chi NSNN là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã đƣợc tập trung vào NSNN và đƣa chúng đến mục đích sử dụng. Do đó, chi NSNN là những việc cụ thể không chỉ dừng lại trên các định hƣớng mà phải phân bổ cho từng mục tiêu, từng hoạt động và từng công việc thuộc chức năng của Nhà nƣớc.
Quá trình phân phối là quá trình cấp phát kinh phí từ NSNN để hình thành các loại quỹ trƣớc khi đƣa vào sử dụng. Quá trình sử dụng là trực tiếp chi dùng khoản tiền cấp phát từ NSNN là các loại quỹ đã đƣợc hình thành trƣớc khi đƣa vào sử dụng. 6 Các khoản thu NSNN bao gồm: Các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí, các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nƣớc, các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân, các khoản viện trợ, các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. Các khoản chi NSNN bao gồm: Các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo đảm các hoạt động của bộ máy Nhà nƣớc, chi trả nợ Nhà nƣớc, chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
Phân cấp quản lý ngân sách là việc xác định phạm vi, trách nhiệm và quyền hạn của chính quyền các cấp, các đơn vị dự toán ngân sách trong việc quản lý ngân sách Nhà nƣớc phù hợp với yêu cầu phân cấp quản lý kinh tế - xã hội (Luật Ngân sách Nhà nƣớc - số 83/2015/QH13). Cụ thể, hệ thống ngân sách nhà nƣớc Việt Nam gồm ngân sách trung ƣơng và ngân sách địa phƣơng, trong đó: - Ngân sách trung ƣơng là các khoản thu ngân sách nhà nƣớc phân cấp cho cấp trung ƣơng hƣởng và các khoản chi ngân sách nhà nƣớc thuộc nhiệm vụ chi của cấp trung ƣơng. - Ngân sách địa phƣơng là các khoản thu ngân sách nhà nƣớc phân cấp cho cấp địa phƣơng hƣởng, thu bổ sung từ ngân sách trung ƣơng cho ngân sách địa phƣơng và các khoản chi ngân sách nhà nƣớc thuộc nhiệm vụ chi của cấp địa phƣơng, chia thành các cấp (Hình 1.1): + Ngân sách cấp Tỉnh: Ngân sách cấp Tỉnh, Thành phố trực thuộc trung ƣơng + Ngân sách cấp Huyện: gồm Ngân sách cấp Huyện, Quận, Thị xã và Thành phố thuộc tỉnh. + Ngân sách cấp xã, phƣờng: Ngân sách cấp xã, phƣờng, thị trấn Việc phân cấp NSNN phải đảm bảo đƣợc tính thống nhất của hệ thống NSNN, phải đƣợc thực hiện đồng bộ với tổ chức bộ máy hành chính, phù hợp với chức năng – nhiệm vụ của từng cấp chính quyền, đồng thời phải đảm bảo đƣợc vai trò chủ đạo của ngân sách trung ƣơng, cũng nhƣ đảm bảo tính độc lập, tự chủ của ngân sách địa phƣơng, thể hiện tính công bằng, minh bạch trong phân cấp.
Hệ thống Ngân sách nhà nƣớc Việt Nam (Nguồn: tác giả tổng hợp) Quản lý hệ thống ngân sách nhà nƣớc dựa trên các nguyên tắc đƣợc quy định trong Điều 8 – Luật ngân sách nhà nƣớc, điển hình nhƣ: - Ngân sách nhà nƣớc đƣợc quản lý thống nhất, tập trung dân chủ, hiệu quả tiết kiệm, công khai, minh bạch, công bằng; có phân công, phân cấp quản lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm của cơ quan quản lý các cấp. - Toàn bộ các khoản thu, chi ngân sách phải đƣợc dự toán, tổng hợp đầy đủ. - Các khoản thu thực hiện theo quy định của các luật thuế và chế độ theo quy định của pháp luật.