Chương I: Cơ sở lý luận về quản lý chi ngân sách nhà nước cấp huyện và kinh nghiệm một địa phương Chương II: Thực trạng quản lý chi ngân sách Nhà nước huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ Chương III: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý chi ngân sách Nhà nước của huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC CẤP HUYỆN VÀ KINH NGHIỆM MỘT SỐ ĐỊA PHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC CẤP HUYỆN 1. Khái niệm quản lý chi ngân sách nhà nƣớc cấp huyện 1. Khái niệm ngân sách nhà nước * Khái niệm ngân sách nhà nước: Trong lịch sử, thuật ngữ NSNN xuất hiện khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời, nghĩa là khi nền sản xuất xã hội đã phát triển đến một giai đoạn nhất định.
Sự xuất hiện của phạm trù NSNN gắn liền với sự xuất hiện của nền kinh tế hàng hóa và nhà nước. Chính vì vậy, NSNN vừa là một phạm trù kinh tế, vừa mang bản chất chính trị. Từ khi xuất hiện đến nay, xoay quanh khái niệm về NSNN vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau.Taylor: “Ngân sách nhà nước là chương trình tài chính chủ yếu của Chính phủ, tập trung các dữ liệu thu và chi trong khoảng thời gian tài khóa bao hàm các chương trình hoạt động phải thực hiện và các phương tiện tài trợ cho các hoạt động ấy” [19, tr. Các nhà xã hội học quan niệm, NSNN thể hiện các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình nhà nước thực hiện huy động và chi tiêu các khoản bằng tiền.
Theo Điều 1, Luật NSNN được Quốc hội khóa XI nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 2, năm 2002: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” [18, tr. Xét về biểu hiện bên ngoài, NSNN là một bản dự toán thu, chi bằng tiền của Nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm. Xét về bản chất kinh tế: Bản chất kinh tế của NSNN là mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa Nhà nước và các chủ thể khác trong nền kinh tế. Mối quan hệ này được thể hiện thông qua quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ NSNN.
Để tạo lập được một NSNN bền vững, các chủ thể quản lý tài chính công phải giải quyết hài hòa mối quan hệ về lợi ích giữa Nhà nước và các chủ thể trong nền kinh tế. Tóm lại, có thể hiểu một cách khái quát: Xét về hình thức, biểu hiện bên ngoài của NSNN là một bản dự toán thu, chi bằng tiền của Nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định. Xét về mặt bản chất, NSNN phản ánh mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa Nhà nước và các chủ thể khác trong nền kinh tế. NSNN là công cụ chủ đạo được Nhà nước sử dụng để động viên, phân phối nguồn lực tài chính quốc gia, nhằm duy trì sự hoạt động của bộ máy nhà nước và đảm bảo cho Nhà nước thực hiện các chức năng, nhiệm vụ về KT-XH.
* Những đặc điểm cơ bản của ngân sách nhà nước: Thứ nhất, các hoạt động thu, chi của NSNN luôn gắn chặt với quyền lực kinh tế - chính trị của Nhà nước và việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Thứ hai, các hoạt động thu, chi NSNN đều được tiến hành dựa trên cơ sở những văn bản luật nhất định. Các luật lệ này bao gồm: luật thuế; các tiêu chuẩn, định mức thu, chi; các chế độ thu, chế độ chi …Đây là một đặc điểm mang tính khách quan vì NSNN có sự tác động tới mọi chủ thể trong nền kinh tế và có phạm vi hoạt động trên mọi lĩnh vực. Thứ ba, NSNN được hình thành từ nguồn tài chính chủ yếu là giá trị thặng dư của sản phẩm xã hội, thông qua quá trình phân phối lại.
Thứ tư, các hoạt động thu, chi NSNN chứa đựng trong nó các mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa Nhà nước và các chủ thể khác trong nền kinh tế, gắn liền với quá trình tạo tập, phân phối và sử dụng quỹ NS. Thứ năm, hoạt động thu, chi của NSNN được thực hiện chủ yếu theo nguyên tắc hoàn trả không trực tiếp. Nhà nước không mắc nợ khi thu và không được hoàn trả khi chi (trừ các khoản ngân sách cho vay) Thứ sáu, NSNN cũng có những đặc điểm như các quỹ tiền tệ khác nhưng có nét khác biệt: được chia thành nhiều quỹ nhỏ có tác dụng riêng, sau đó mới được chi dùng cho các mục đích đã định. * Vai trò của NSNN: NSNN có vai trò rất quan trọng đối với toàn bộ nền KT -XH của một đất nước.
NSNN là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền KT-XH, định hướng phát triển sản xuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả và điều chỉnh đời sống xã hội. Khái niệm chi ngân sách nhà nước Chi NSNN là quá trình Nhà nước phân phối và sử dụng quỹ NSNN để thực hiện các nhiệm vụ KT-XH của mình trong từng thời kỳ nhất định. Phạm vi chi NSNN rất rộng, rất đa dạng, bao trùm mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến mọi đối tượng. Điều này xuất phát từ vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước trong việc phát triển KT-XH.
Luật NSNN năm 2002, tại Điều 2 có ghi rõ: “Chi ngân sách nhà nước bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật” [18, tr.6] Chi NSNN bao gồm hai quá trình: quá trình phân phối và quá trình sử dụng quỹ NSNN. Quá trình phân phối là quá trình cấp phát kinh phí từ NSNN để hình thành các loại quỹ trước khi đưa vào sử dụng. Quá trình sử dụng là quá trình trực tiếp chi dùng khoản tiền cấp phát từ NSNN mà không phải trải qua việc hình thành các loại qũy trước khi đưa vào sử dụng. Theo quy định tại khoản 2, Điều 5 của Luật Ngân sách nhà nước năm 2002, chi NSNN chỉ được thực hiện khi có đủ các điều kiện sau: - Đã có trong dự toán ngân sách được giao, trừ trường hợp quy định của luật; - Đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định.
- Đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người được ủy quyền quyết định chi. Chi NSNN gắn liền với vai trò và chức năng của Nhà nước nên có những đặc trưng cơ bản sau: Thứ nhất, chi NSNN đảm bảo hoạt động của bộ máy nhà nước, gắn liền với những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà Nhà nước đảm nhiệm trong từng thời kỳ. Nguồn NSNN là có hạn, do đó nó hạn chế phạm vi hoạt động của Nhà nước, buộc Nhà nước phải lựa chọn phạm vi hoạt động của mình. Nhà nước phải xác định rõ những nhiệm vụ trọng tâm, khoanh rõ phạm vi hoạt động để xác định phạm vi chi NSNN, không được chi một cách tràn lan, phải tập trung giải quyết những vấn đề lớn của đất nước.
Thứ hai, chi NSNN gắn liền với quyền lực nhà nước và mang tính pháp lý cao. Cơ quan quyền lực nhà nước các cấp (Quốc hội, Chính phủ, HĐND các cấp) là chủ thể quyết định cơ cấu, nội dung, mức độ của các khoản chi NSNN. Thứ ba, hiệu quả của các khoản chi NSNN được xem xét trên tầm vĩ mô. Hiệu quả chi NSNN khác với hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp, nó phải được xem xét một cách toàn diện, là hiệu quả KT-XH, an ninh quốc phòng.
Thứ tư, các khoản chi của NSNN chủ yếu mang tính chất không hoàn trả trực tiếp. Các khoản chi của NSNN cho các cấp, các ngành, các hoạt động văn hóa - xã hội, xóa đói giảm nghèo, cung cấp các dịch vụ công cộng… không đòi hỏi phải hoàn trả lại cho Nhà nước. Đặc điểm này xuất phát từ chức năng của Nhà nước đối với sự đảm bảo phát triển KT-XH đất nước. Thứ năm, chi NSNN là một bộ phận cấu thành và gắn chặt với sự vận động của các luồng tiền tệ.
Những sự điều chỉnh trong chi NSNN sẽ có sự tác động mạnh mẽ đến tổng cung và tổng cầu về vốn tiền tệ và do đó sẽ tác động đến tổng cung, tổng cầu của nền kinh tế. Đặc điểm này dẫn đến chi NSNN sẽ có tác động đến sự vận động của các phạm trù giá trị khác như: giá cả, tiền lương, lãi suất, tỷ giá hối đoái… Muốn thực hiện tốt công tác quản lý chi NSNN đòi hỏi phải phân loại các khoản chi, hay nói cách khác là làm rõ nội dung chi NSNN. Có nhiều cách để phân loại các khoản chi NSNN, ví dụ như phân loại theo tính chất phát sinh, theo nội dung kinh tế, theo mục đích sử dụng cuối cùng, theo phương thức quản lý chi… Trong phạm vi của luận văn, tác giả tiếp cận cách phân loại theo nội dung kinh tế. Theo cách phân loại này, các khoản chi NSNN được chia thành: chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển, chi trả nợ gốc và lãi các khoản tiền do Chính phủ vay, chi viện trợ của ngân sách trung ương cho các chính phủ và tổ chức ngoài nước, chi cho vay của ngân sách trung ương, chi trả gốc và lãi các khoản huy động đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính, chi bổ sung ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới, chi chuyển nguồn ngân sách từ ngân sách năm trước sang ngân sách năm sau.
Trong các khoản chi của NSNN, hai khoản chi chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn là chi đầu tư phát triển, trong đó nghiên cứu cụ thể chi đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) và chi thường xuyên. Trong phạm vi của luận văn, tác giả tập trung vào nghiên cứu hoạt động quản lý hai khoản chi lớn này của NSNN. Chi đầu tư phát triển của NSNN: là quá trình phân phối và sử dụng một phần vốn tiền tệ từ quỹ NSNN để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KT-XH, phát triển sản xuất và dự trữ vật tư hàng hóa của Nhà nước, nhằm thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng khinh tế và phát triển xã hội.