CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIÊN VÈ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CÁP HUYỆN 1. Khái quát về chỉ ngân sách nhà nước 1. Khái niệm, đặc điểm ngân sách nhà nước 1. Khái niệm ngân sách nhà nước Theo Luật Ngân sách Nhà nước được Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 25/6/2015, có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2017 thì "Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thâm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước".
Trong pháp luật thực định, theo khoản 14 Điều 4 Luật ngân sách nhà nước năm 2015, khái niệm ngân sách nhà nước được hiểu như sau: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định đề bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”. Theo phương diện này, ngân sách nhà nước cũng không có nhiều khác biệt so với phương diện kinh tế, nó đều nói về các khoản thu, chi do co quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm. Khi tiếp cận ngân sách nhà nước qua phương diện kinh tế, ta thấy đó là một bảng kế hoạch tài chính không lồ của một quốc gia, trong đó dự liệu các khoản thu chi và tiền tệ trong một năm. Còn ở phương diện pháp lý, ngân sách nhà nước được hiểu là một đạo luật đặc biệt của mỗi quốc gia do Quốc hội ban hành và chính phủ thực hiện trong một thời hạn xác định.
Nhưng khác với những đạo luật thông thường, ngân sách nhà nước được cơ quan lập pháp tạo ra theo trình tự thủ tục riêng và hiệu lực thi hành của đạo luật này được xác định rỏ ràng là một năm. Theo Bộ Tài chính, thì "Ngân sách huyện (quận, thị xã, thành phó trực thuộc tỉnh) là quỹ tiền tệ tập trung của huyện (quận, thị xã, thành phó trực thuộc tỉnh) được hình thành bằng các nguồn thu và đảm bảo các khoản chỉ trong phạm vi huyện (quận thị xã, thành phó trực thuộc tỉnh). Trong hệ thống tài chính, ngân sách nhà nước (NSNN) là bộ phận chủ đạo, là điều kiện vật chất quan trọng để Nhà nước thực hiện các nhiệm vụ của mình. Mặt khác nó còn là công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện điều tiết vĩ mô nền kinh tế xã hội.
Xét theo biểu hiện bên ngoài: NSNN bao gồm những nguồn thu cụ thể, những khoản chỉ cụ thể và được định hướng các nguồn thu đều được nộp vào một quỹ tiền tệ — quỹ NSNN và các khoản đều được xuất ra từ quỹ tiền tệ ấy. Những khoản thu nộp và cấp phát qua quỹ NSNN là các quan hệ được xác định trước, được định lượng và Nhà nước sử dụng chúng đề điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế. Bởi vậy, trên phương diện kinh tế, có nhiều định nghĩa về NSNN khác nhau: - Dưới góc độ hình thức: NSNN là một bản dự toán thu và chi tài chính hàng năm của nhà nước do Chính phủ lập ra, đệ trình Quốc hội quyết định và giao cho chính phủ thực hiện. - Dưới góc độ về thực thể: NSNN bao gồm các nguồn thu cụ thể, những khoản chỉ cụ thể và được định lượng.
Các nguồn thu đều được nộp vào một quỹ tiền tệ và các khoản chỉ đều được xuất ra từ quỹ tiền tệ ấy. Thu chỉ quỹ này có quan hệ ràng buộc nhau gọi là cân đối ngân sách đây là một cân đói lớn trong nền kinh tế thị trường. Xét về bản chất kinh tế chứa đựng trong NSNN: Các hoạt động thu chỉ Ngân sách đều phản ánh những quan hệ kinh tế giữa nhà nước với các chủ thê khác trong xã hội gắn với quá trình tạo lập quản lý và sử dụng quỹ NSNN. Hoạt động đó đa dạng được tiến hành trên hầu khắc các lĩnh vực và có tác động đến moi chi thé kinh tế xã hội.
Những quan hệ thu nộp cấp phát qua quỹ NSNN là những quan hệ được xác định trước, được định lượng và nhà nước sử dụng chúng đề điều tiết vĩ mô kinh tế xã hội. Nhu vậy, trên phương diện kinh tế có thể hiểu NSNN phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ chung của Nhà nước khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của mình trên cơ sở luật định. Theo Điều 6 của Luật Ngân sách nhà nước 2015 và Điều 6 của Nghị định 163/2016/NĐ-CP quy định về hệ thống ngân sách nhà nước như sau: - Ngân sách nhà nước gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương; - Ngân sách địa phương gồm ngân sách của các cấp chính quyền địa phương, trong đó: + Ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là ngân sách tỉnh), bao gồm ngân sách cấp tỉnh và ngân sách của các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương; + Ngân sách huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phó thuộc thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là ngân sách huyện), bao gồm ngân sách cấp huyện và ngân sách của các xã, phường, thị trấn; + Ngân sách các xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã); NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VIỆT NAM ị NGÂN SÁCH M TRƯNG ƯƠNG NGÂN SÁCH CÁP TỈNH NGÂN | SÁCH NGÂN SÁCH ĐỊA CÁP HUYỆN PHƯƠNG | NGÂN SÁCH CÁP XÃ Sơ đồ 1. Hệ thống ngân sách Nhà nước ở Việt Nam Nguôn: Tác giả tổng hợp 1.
Đặc điểm ngân sách nhà nước Từ những phân tích về khái niệm ngân sách nhà nước, có thể thấy ngân sách nhà nước bao gồm những đặc điểm sau: Thứ nhất, ngân sách nhà nước là một kế hoạch tài chính khổng lồ nhất cần được quốc hội biểu quyết thông qua trước khi thi hành. Đặc điểm này cho ta thấy việc thiết lập ngân sách nhà nước không chỉ là vấn đề kĩ thuật nghiệp vụ mà còn là vấn đề mang tính kĩ thuật pháp lý, do đó nó vừa phản ánh các hành vi kinh tế (lập dự trù các khoản thu, chi sẽ được thực hiện trong tương lai), vừa thể hiện các hành vi pháp lý của chủ thể có thẩm quyền (cơ quan hành pháp có trách nhiệm lập dự toán ngân sách và cơ quan lập pháp có thâm quyền quyết định bản dự toán đó). Thứ hai, ngân sách nhà nước không phải là một bản kế hoạch tài chính thuần túy mà còn là một đạo luật. Theo thông lệ, sau khi bản dự toán ngân sách nhà nước đã được soạn thảo bởi cơ quan hành pháp thì nó sẽ được chuyền sang cho cơ quan lập pháp xem xét quyết định và ban bố dưới hình thức một đạo luật để thi hành.
Thứ ba, ngân sách nhà nước là kế hoạch tài chính của toàn quốc gia, được trao cho chính phủ tổ chức thực hiện nhưng phải đặt dưới sự giám sát của quốc hội. Việc thiết lập quyền giám sát của quốc hội đối với hoạt động thi hành ngân sách của chính phủ nhằm kiểm soát nguy cơ lạm quyền của cơ quan hành pháp trong quá trình thực thi ngân sách nhà nước. Thứ tư, ngần sách nhà nước được thiết lập và thực thi hoàn toàn vì mục tiêu mưu cầu lợi ích chung cho toàn thê quốc gia, không phân biệt người hưởng thụ các lợi ích đó là ai, thuộc thành phần kinh tế nào hay đăng cấp nào trong xã hội. Thứ năm, ngân sách nhà nước luôn phản ánh mối tương quan giữa quyên lập pháp và quyền hành pháp trong quá trình xây dựng và thực hiện ngân sách.
Theo đó, cơ quan lập pháp ban hành ra ngân sách nhà nước dựa trên sự xây dựng của chính phủ, sau đó chính phủ là người trực tiếp thi hành bản ngân sách này dưới sự giám sát của cơ quan lập pháp. Khái niệm, đặc điểm chỉ ngân sách nhà nước 1. Khái niệm chỉ ngân sách nhà nước Chi ngân sách Nhà nước là việc phân phối và sử dụng quỹ ngân sách Nhà nước nhằm đảm bảo thực hiện chức năng của Nhà nước theo những nguyên tắc nhất định. Cơ cấu chỉ ngân sách Nhà nước là nội dung các khoản chỉ và tỉ trọng của các khoản chỉ trong tổng chỉ ngân sách Nhà nước.
Quan lý chỉ ngân sách nhà nước là quá trình triển khai thực hiện một cách hệ thống các biện pháp, quy trình thủ tục phân phối và sử dụng quỹ NSNN để đáp ứng nhu cầu chỉ tiêu và thực hiện chức năng của nhà nước. Điều kiện chỉ ngân sách nhà nước do pháp luật quy định. Tùy mức độ vi phạm mà người thực hiện các khoản chỉ tiêu trái với điều kiện chỉ ngân sách nhà nước bị xử lí về hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Luật ngân sách nhà nước và các văn bản pháp luật quy định chỉ tiết, hướng dẫn thi hành có các quy định cụ thể về điều kiện chỉ ngân sách nhà nước.
Đặc điểm chỉ ngân sách nhà nước Thứ nhất, gắn với bộ máy Nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà Nhà nước đảm đương trong từng thời kỳ. Chỉ ngân sách nhà nước phải đảm bảo các hoạt động của Nhà nước trên tất cả các lĩnh vực, nhưng nguồn thu ngân sách nhà nước có được trong từng năm, từng thời kỳ lại có hạn, điều này làm hạn chế phạm vi hoạt động của Nhà nước, buộc Nhà nước phải lựa chọn để xác định rõ phạm vi chi ngân sách nhà nước. Thứ hai, gắn với quyền lực của Nhà nước. Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất quyết định qui mô, nội dung, co cau chỉ ngân sách nhà nước và phân bồ nguồn vốn ngân sách nhà nước cho các mục tiêu quan trọng nhất.
Chính phủ là cơ quan hành pháp, có nhiệm vụ quản lý, điều hành các khoản chi ngân sách nhà nước. Thứ ba, đánh giá hiệu quả phải xem xét trên tầm vĩ mô Hiệu quả chỉ ngân sách nhà nước khác với hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp, nó dược xem xét trên tầm vĩ mô và là hiệu quả kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng. dựa vào việc hoàn thành các mục tiêu kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng. mà các khoản chỉ ngân sách nhà nước đảm nhận.
Thứ tư, chỉ ngân sách nhà nước là những khoản chỉ không hoàn trả trực tiếp.