mở đầu của một chu trình NSNN. Những khoản chi thường xuyên một khi đã được ghi vào dự toán chi và đã được cơ quan quyền lực Nhà nước xét duyệt được coi là chi tiêu pháp lệnh. Xét trên giác độ quản lý, số chi thường xuyên đã được ghi trong dự toán thể hiện sự cam kết của cơ quan chức năng quản lý tài chính Nhà nước với các đơn vị thụ hưởng NSNN, từ đó nảy sinh nguyên tắc quản lý chi thường xuyên theo dự toán. Hai, nguyên tắc tiết kiệm hiệu quả.
Tiết kiệm, hiệu quả là một trong những nguyên tắc quan trọng hàng đầu của quản lý kinh tế tài chính, bởi lẽ nguồn lực có hạn nhưng nhu cầu vô hạn. Do vậy, trong quá trình phân bổ và SV: Nguyễn Thu Hà Lớp: CQ49/01.03 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận Văn Tốt Nghiệp 8 Học Viện Tài Chính sử dụng nguồn lực khan hiếm đó luôn phải tính toán sao cho với chi phí thấp nhất phải đạt được hiệu quả cao nhất. Mặt khác, do đặc thù hoạt động NSNN diễn ra trên phạm vi rộng, đa dạng và phức tạp, nhu cầu chi từ NSNN luôn gia tăng trong khi khả năng huy động nguồn thu có hạn, nên càng phải tôn trọng nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả trong quản lý chi thường xuyên NSNN. Ba, Nguyên tắc chi trưc tiếp qua KBNN.
Một trong những chức năng của KBNN là quản lý NSNN. Vì vậy, KBNN vừa có quyền, vừa có trách nhiệm phải kiểm soát chặt chẽ mọi khoản chi NSNN, đặc biệt là các khoản chi thường xuyên. Để tăng cường vai trò của KBNN trong kiểm soát chi thường xuyên của NSNN, hiện nay nước ta đang thực hiện việc chi trực tiếp qua KBNN như là một nguyên tắc trong quản lý khoản chi này.Chu trình quản lý chi thường xuyên NSNN cho SNGD NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được CQNN có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước. Một chu trình ngân NSNN có ba khâu nối tiếp nhau là: lập ngân sách, chấp hành ngân sách và quyết toán NSNN.
Như vậy, chu trình quản lý chi thường xuyên NSNN cho SNGD cũng gồm 3 khâu: 1.Lập dự toán chi thường xuyên NSNN cho SNGD Hình thành ngân sách là quá trình bao gồm các công việc lập ngân sách, phê chuẩn ngân sách và thông báo ngân sách. Lập ngân sách là công việc khởi đầu có ý nghĩa quyết định đến toàn bộ các khâu của chu trình quản lý ngân sách. Lập dự toán chi thường xuyên NSNN cho SNGD thực chất là dự toán các khoản chi thường xuyên cho SNGD một cách đúng đắn, có cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn, sẽ có tác dụng quan trọng đối với kế hoạch thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu đã đặt ra của đơn vị trong năm ngân sách. SV: Nguyễn Thu Hà Lớp: CQ49/01.03 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận Văn Tốt Nghiệp 9 Học Viện Tài Chính Lập dự toán là một trong những khâu quan trọng của công tác quản lý chi.
Một dự toán khi lập thể hiện được tính khoa học, chính xác, kịp thời, gần với thực tế thì sẽ có tính thực hiện cao. Các căn cứ để lập dự toán chi: - Nhiệm vụ phát triển KT-XH và bảo đảm quốc phòng, an ninh. - Chính sách, chế độ thu ngân sách; định mức phân bổ ngân sách, chế độ, tiêu chuẩn định mức chi ngân sách do cấp có thẩm quyền quy định. - Những quy định về phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi NSNN (đối với dự toán năm đầu thời kỳ ổn định ngân sách); tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu và mức bổ sung cân đối của ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới đã được quy định (đối với dự toán năm tiếp theo của thời kỳ ổn định).
- Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng kế hoạch phát triển KT-XH và dự toán ngân sách năm sau; thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính về việc lập dự toán ngân sách; thông tư hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về xây dựng kế hoạch phát triển KT-XH, kế hoạch vốn đầu tư phát triển thuộc NSNN và văn bản hướng dẫn của UBND cấp tỉnh về lập dự toán ngân sách ở các cấp địa phương. - Số kiểm tra về dự toán thu, chi NSNN do Bộ Tài chính thông báo và số kiểm tra về dự toán chi đầu tư phát triển do Bộ Kế hoạch và Đầu tư thông báo cho các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở Trung ương và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; UBND cấp trên thông báo số kiểm tra cho các đơn vị trực thuộc và UBND cấp dưới. - Tình hình thực hiện ngân sách các năm trước.Chấp hành dự toán chi thường xuyên NSNN cho SNGD Sau khi dự toán chi thường xuyên NSNN cho SNGD được phê chuẩn và năm ngân sách bắt đầu, việc thực hiên ngân sách được triển khai. Nội dung SV: Nguyễn Thu Hà Lớp: CQ49/01.03 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận Văn Tốt Nghiệp 10 Học Viện Tài Chính của quá trình này là bố trí cấp kinh phí của NSNN cho các nhu cầu đã được phê chuẩn của SNGD.
Việc chấp hành NSNN thuộc về tất cả pháp nhân và thể nhân dưới sự điều hành của Chính phủ, trong đó Bộ Tài Chính có vị trí quan trọng. Mục đích của việc chấp hành dự toán chi là đảm bảo đầy đủ, kịp thời nguồn kinh phí của ngân sách cho hoạt động của đơn vị đã được hoạch định trong năm kế hoạch. Thực chất của việc chấp hành dự toán chi là việc tổ chức cấp phát kinh phí sao cho tiết kiệm, đúng chế độ và đạt hiệu quả cao. Những căn cứ để tổ chức công tác điều hành, cấp phát và sử dụng các khoản chi NSNN cho SNGD: - Dựa vào mức chi đã được duyệt của từng chỉ tiêu trong dự toán.
Đây là căn cứ tác động có tính bao trùm đến việc cấp phát và sử dụng các khoản chi bởi vì mức chi của từng chỉ tiêu cụ thể hóa mức chi tổng hợp đã được cơ quan quyền lực Nhà nước phê duyệt. - Dựa vào thực lực nguồn kinh phí NSNN đáp ứng chi NSNN cho SNGD trong quản lý và điều hành NSNN. Mức chi trong dự toán mới chỉ là con số dự kiến, khi thực hiện phải căn cứ vào điều kiên thực tế của năm kế hoạch thì mới chuyển hóa được chỉ tiêu dự kiến thành hiện thực. - Dựa vào định mức, chế độ chỉ tiêu sử dụng kinh phí NSNN hiện hành.
Đây là căn cứ có tính pháp lý bắt buộc quá trình cấp phát sử dụng các khoản chi phải tuân thủ, là căn cứ để đánh giá tính hợp lệ, hợp pháp của việc cấp phát và sử dung các khoản chi.Quyết toán chi thường xuyên NSNN cho SNGD Quyết toán chi thường xuyên NSNN cho SNGD là khâu cuối cùng trong chu trình quản lý NSNN. Thông qua quyết toán NSNN, người quản lý thấy toàn cảnh bức tranh hoạt động của đơn vị trong thời gian qua, hình dung được hoạt động NSNN với tư cách là công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước, từ đó SV: Nguyễn Thu Hà Lớp: CQ49/01.03 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận Văn Tốt Nghiệp 11 Học Viện Tài Chính rút ra được kinh nghiệm cần thiết trong việc điều hành NSNN. Do đó, yêu cầu của quyết toán NSNN là đảm bảo tính chính xác, trung thực và kịp thời. Nội dung của quyết toán bao gồm: - Quyết toán vốn ngân sách.
- Tình hình sử dụng vốn ngân sách. Công tác quyết toán được tiến hành theo nguyên tắc đơn vị dự toán cấp dưới nộp báo cáo quyết toán cho đơn vị cấp trên xét duyệt. Việc quyết toán được tiến hành theo các bước sau: các trường học, đơn vị thuộc SNGD phải báo cáo quyết toán của đơn vị mình gửi lên cơ quan quản lý cấp trên để cơ quan quản lý cấp trên tiến hành kiểm tra và quyết toán. SV: Nguyễn Thu Hà Lớp: CQ49/01.03 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận Văn Tốt Nghiệp 12 Học Viện Tài Chính Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHI NSNN CHO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC HUYỆN SƠN DƯƠNG – TUYÊN QUANG 2.Khái quát về đặc điểm KT-XH huyện Sơn Dương Sơn Dương là một huyện miền núi nằm ở phía Nam của tỉnh Tuyên Quang, cách trung tâm thành phố Tuyên Quang 30km về phía Đông Nam.
Ranh giới của huyện tiếp giáp với các đơn vị hành chính theo các hướng cụ thể như sau: - Phía Bắc giáp huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang - Phía Nam giáp huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc - Phía Đông giáp huyện Định Hóa và huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên - Phía Tây giáp huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang và huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ. Dân số của huyện là 179. Diện tích là 788km2. Huyện bao gồm 33 đơn vị hành chính cấp xã (01 thị trấn và 32 xã): thị trấn Sơn Dương, xã Bình Yên, xã Cấp Tiến, xã Chi Thiết, xã Đại Phú, xã Đông Lợi, xã Đồng Quý, xã Đông Thọ, xã Hào Phú xã Hồng Lạc, xã Hợp Hòa, xã Hợp Thành, xã Kháng Nhật, xã Lâm Xuyên, xã Lương Thiện, xã Minh Thanh, xã Ninh Lai, xã Phú Lương, xã Phúc Ứng, xã Quyết Thắng, xã Sầm Dương, xã Sơn Nam, xã Tam Đa, xã Tân Trào, xã Thanh Phát, xã Thiện Kế, xã Thượng Ấm, xã Trung Yên, xã Tú Thịnh, xã Tuân Lộ, xã Văn Phú, xã Vân Sơn, xã Vĩnh Lợi.
Trên địa bàn huyện có tuyến Quốc lộ 37, Quốc lộ 2C chạy qua (tuyến giao thông chính nối huyện Sơn Dương với tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Phú Thọ) tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy phát triển KT-XH của huyện. SV: Nguyễn Thu Hà Lớp: CQ49/01.03 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận Văn Tốt Nghiệp 13 Học Viện Tài Chính Huyện có di tích lịch sử là chiến khu Tân Trào. Tân Trào cũng là tên của một nông trường chè và một nhà máy chế biến chè của huyện. Đất đai ở Sơn Dương thích hợp cho việc trồng các loại cây như chè, mía, cây nguyên liệu giấy, các loại cây ăn quả như nhãn, vải…và chăn nuôi bò thịt.
Sơn Dương cũng là nơi tập trung các cơ sở chế biến khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng như: quặng thiếc, quặng Volfam, fenspat, Barit; khai thác đá, sỏi, cát, sản xuất gạch đất sét nung, sản xuất vôi bột… Ngoài ra còn có các cơ sở chế biến chè, đường, phân vi sinh và các ngành tiểu thủ công nghiệp như may mặc, gò hàn, sản xuất đồ mộc gia dụng.