Chương 1: Cơ sở khoa học về quản lý chi đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách nhà nước. Chương 2: Thực trạng quản lý chi đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách nhà nước ở quận Ba Đình, thành Phố Hà Nội. Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý chi đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước ở quận Ba Đình, thành Phố Hà Nội 4 Luan van CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ CHI ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1. TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHI ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1.
Ngân sách Nhà nƣớc và chi đầu tƣ xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nƣớc. Ngân sách nhà nước Điều 1 của Luật ngân sách nhà nước được Quốc hội khoá XI nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa việt nam thông qua tại kỳ họp thứ hai, năm 2002 c ng khẳng định: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước” về bản chất của ngân sách nhà nước, đằng sau những con số thu, chi đó là các quan hệ lợi ích kinh tế giữa Nhà nước với các chủ thể khác như Doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân trong và ngoài nước gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng qu ngân sách. Ngân sách nhà nước Việt Nam gồm: Ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân.
Ph hợp với mô hình tổ chức chính quyền nhà nước ta hiện nay, ngân sách địa phương bao gồm: ngân sách cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là ngân sách cấp tỉnh) ngân sách cấp quận, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sách cấp quận) ngân sách cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã). 5 Luan van Trong hệ thống tài chính quốc gia ngân sách nhà nước luôn giữ vai trò chủ đạo, với những đặc điểm riêng biệt. Việc tạo lập và sử dụng ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với quyền lực và việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Nói một cách cụ thể hơn, quyền lực của Nhà nước và chức năng, nhiệm vụ của nó là những nhân tố trực tiếp quyết định mức thu, mức chi, nội dung và cơ cấu thu - chi của ngân sách nhà nước.
Bên cạnh đó, các hoạt động thu, chi của ngân sách nhà nước đều được tiến hành trên cơ sở những điều luật nhất định. Đó là các luật thuế, pháp lệnh thuế, chế độ thu, chế độ chi, tiêu chuẩn, định mức do Nhà nước ban hành. Việc dựa trên cơ sở pháp luật để tổ chức các hoạt động thu, chi của ngân sách nhà nước là một yêu cầu có tính khách quan, nó bắt nguồn từ phạm vi hoạt động của ngân sách nhà nước được tiến hành trên mọi lĩnh vực và có tác động đến mọi chủ thể kinh tế xã hội. Ngoài ra, nguồn tài chính chủ yếu hình thành nên ngân sách nhà nước, một qu tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước, là từ giá trị sản phẩm thặng dư của xã hội và được hình thành chủ yếu qua quá trình phân phối lại, mà trong đó thuế là hình thức thu phổ biến chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng thu ngân sách.
Ẩn sau các hoạt động thu, chi của ngân sách nhà nước là việc xử lý các mối quan hệ kinh tế, quan hệ lợi ích trong xã hội khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia. Ngân sách nhà nước luôn chứa đựng lợi ích chung, lợi ích công cộng, lợi ích toàn thể được đặt lên hàng đầu và chi phối các mặt lợi ích khác. Tóm lại: Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước. Chi ngân sách nhà nước * Khái niệm chi NSNN Chi NSNN là việc Nhà nước phân phối và sử dụng qu NSNN nhằm bảo đảm điều kiện vật chất để duy trì sự hoạt động và thực hiện các chức năng đáp ứng nhu cầu đời sống KT - XH dựa trên các nguyên tắc nhất định.
6 Luan van Phạm vi chi NSNN rất rộng, bao tr m mọi lĩnh vực đời sống, liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến mọi đối tượng. Từ khái niệm chi NSNN có thể thấy: + Quyền quyết định chi NSNN do Nhà nước (Quốc hội, Chính phủ hay cơ quan công quyền được ủy quyền) quyết định. + Chi NSNN không mang tính lợi nhuận, chú trọng đến lợi ích cộng đồng, lợi ích KT - XH. + Sự quản lý chi NSNN phải tôn trọng nguyên tắc công khai và minh bạch và có sự tham gia của công chúng.
* Đặc điểm của chi NSNN + Chi NSNN luôn gắn chặt với những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội. + Chi NSNN được thể hiện ở tầm vĩ mô và mang tính toàn diện cả về hiệu quả kinh tế trực tiếp, hiệu quả về mặt xã hội và chính trị, ngoại giao. + Xét về mặt tính chất, phần lớn các khoản chi ngân sách nhà nước đều là các khoản cấp phát không hoàn trả trực tiếp và mang tính bao cấp. * Nội dung chi NSNN Trong quản lý tài chính, chi NSNN được chia làm hai nội dung chi lớn: chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển.
- Chi thường xuyên Chi thường xuyên là quá trình phân phối, sử dụng qu tiền tệ của Nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về quản lý KT - XH. Chi thường xuyên là những khoản chi mang những đặc trưng cơ bản: + Chi thường xuyên nhằm duy trì ổn định duy trì cho sự hoạt động của bộ máy Nhà nước. + Là các khoản chi mang tính chất tiêu d ng xã hội: Trang trải cho các nhu cầu về quản lý hành chính Nhà nước, về quốc ph ng, an ninh, về các hoạt động xã hội khác do Nhà nước tổ chức. 7 Luan van + Phạm vi, mức chi thường xuyên gắn chặt với cơ cấu tổ chức của bộ máy Nhà nước và sự lựa chọn của Nhà nước trong việc cung ứng các hàng hóa công cộng.
Các khoản chi thường xuyên thường được tập hợp theo từng lĩnh vực và nội dung chi, bao gồm 3 khoản chi cơ bản sau: + Chi quản lý hành chính Nhà nước: Nhằm đảm bảo sự hoạt động của hệ thống các cơ quan hành chính Nhà nước. + Chi quốc ph ng, an ninh và trật tự an toàn xã hội. + Chi sự nghiệp văn hóa xã hội: Là các khoản chi mang tính chất tiêu d ng xã hội, liên quan đến sự phát triển đời sống tinh thần của các tầng lớp dân cư. - Chi đầu tư phát triển Đầu tư phát triển là hình thức đầu tư có liên quan đến sự tăng trưởng quy mô vốn đầu tư của Nhà nước và quy mô vốn trên toàn xã hội.
Xét theo mục đích, chi đầu tư phát triển bao gồm: + Chi xây dựng các công trình thuộc kết cấu hạ tầng KT - XH không có khả năng hoàn vốn. + Đầu tư, hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp Nhà nước, góp vốn cổ phần, góp vốn liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước + Chi hỗ trợ các qu hỗ trợ phát triển các ngành nghề ưu đãi và các v ng khó khăn theo quy định của Chính phủ. + Chi dự trữ Nhà nước nhằm mục đích dự trữ những vật tư, thiết bị, hàng hóa chiến lược ph ng khi nền kinh tế gặp những biến cố bất ngờ về thiên tai, địch họa,. đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định.
Các vấn đề cơ bản về quản lý chi đầu tƣ xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nƣớc * Khái niệm quản lý chi NSNN Quản lý chi NSNN là một khái niệm phản ánh hoạt động tổ chức điều khiển và đưa ra quyết định của Nhà nước đối với quá trình phân phối và sử dụng nguồn lực NSNN nhằm thực hiện các chức năng vốn có của Nhà nước trong việc quản lý nhà nước, cung cấp hàng hóa công, phục vụ lợi ích KT - XH cho cộng đồng. Xét về phương diện cấu trúc, quản lý chi NSNN bao gồm hệ thống các yếu tố sau: Đối tượng quản lý chi NSNN: Là toàn bộ các khoản chi ngân sách nhà nước. Chủ thể quản lý chi NSNN: Nhà nước là người trực tiếp tổ chức, điều khiển quá trình phân phối, sử dụng qu NSNN. Mục tiêu quản lý chi NSNN: Thúc đẩy kinh tế tăng trưởng nhanh, bền vững và ổn định trong khuôn khổ nguồn lực và kỷ luật tài chính.
Quản lý chi đầu tư XDCB từ nguồn NSNN cho được hiểu là việc các cơ quan nhà nước được giao thẩm quyền trong việc phân phối, sử dụng NSNN cho mục đích đầu tư XDCB. Việc chi đầu tư XDCB từ nguồn NSNN là một trong những khoản chi đầu tư phát triển quan trọng nhằm nâng cao đời sống vật chất và kinh tế k thuật của đất nước. Đầu tư XDCB có tính chất đa dạng và phức tạp. Vì thế, việc quản lý đầu tư XDCB từ nguồn NSNN là tất yếu do: - Chi đầu tư XDCB là khoản chi lớn của NSNN nhưng không có tính chất ổn định.
Chi đầu tư XDCB là yêu cầu tất yếu nhằm đảm bảo sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Trước hết, chi đầu tư XDCB của NSNN nhằm để tạo ra cơ sở vật chất, k thuật, năng lực sản xuất cần thiết cho nền kinh tế; đó là nền tảng về hạ tầng bảo đảm cho sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Đồng thời, để tạo ra môi trường thuận lợi nhằm thu hút các 9 Luan van nguồn vốn trong nước và ngoài nước vào đầu tư phát triển các hoạt động kinh tế xã hội theo định hướng của Nhà nước trong từng thời kỳ. Quy mô và tỷ trọng chi NSNN cho đầu tư XDCB trong từng thời kỳ phụ thuộc vào chủ chương đường lối phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước và khả năng nguồn vốn NSNN.