Tổng quan nghiên cứu

Tại thủ đô Viên Chăn, tổng lượng rác thải đô thị ghi nhận đạt khoảng 350 đến 400 tấn mỗi ngày, trong đó rác thải y tế là nguồn thải nguy hại cần kiểm soát đặc biệt. Bệnh viện Sết Tha là cơ sở y tế tuyến trung ương trọng điểm tại Lào với diện tích 7 héc-ta, quy mô 218 giường bệnh thuộc 29 khoa chuyên môn, tiếp nhận hơn 250.000 lượt khám chữa bệnh trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2012. Hoạt động y tế liên tục làm phát sinh trung bình 600 kg chất thải rắn mỗi ngày, gồm 450 kg rác sinh hoạt và khoảng 100 kg chất thải y tế đặc thù. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ thực trạng hạ tầng xử lý rác tại chỗ còn lạc hậu, đặc biệt là lò đốt thủ công vận hành bằng củi và dầu gây ô nhiễm không khí và gia tăng rủi ro lây nhiễm mầm bệnh. Mục tiêu của đề tài là đánh giá toàn diện hiện trạng phát sinh chất thải rắn, phân tích quy trình phân loại, thu gom, lưu giữ nội bộ và đề xuất các giải pháp kỹ thuật kết hợp thể chế nhằm nâng cao hiệu quả quản lý. Nghiên cứu thực hiện khảo sát thực địa chi tiết vào tháng 4 năm 2014 kết hợp phân tích chuỗi số liệu môi trường liên tục suốt 6 năm. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc cung cấp bộ chỉ số định lượng chuẩn xác, hỗ trợ nâng tỷ lệ phân loại đúng tại nguồn lên trên 95%, kiểm soát 100% lượng rác nguy hại phát sinh và bảo vệ an toàn cho 491 cán bộ y tế cùng cộng đồng dân cư xung quanh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết quản lý vòng đời chất thải y tế kết hợp nguyên tắc phòng ngừa theo Tuyên ngôn Rio de Janeiro năm 1992. Nguyên tắc này khẳng định các nguồn thải có nguy cơ cao phải được kiểm soát nghiêm ngặt ngay tại nguồn phát sinh để ngăn chặn suy thoái môi trường. Mô hình người gây ô nhiễm phải chi trả và nguyên tắc xử lý lân cận được tích hợp nhằm xác định rõ trách nhiệm tài chính, quy trình vận chuyển và tiêu hủy chất thải trong phạm vi an toàn. Hệ thống y tế Lào được tổ chức phân cấp từ Bộ Y tế, Tổng cục Y tế, Sở Y tế cấp tỉnh đến các phòng y tế huyện và trạm y tế xã, trực tiếp quản lý 3 bệnh viện tuyến trung ương tại thủ đô Viên Chăn cùng 18 bệnh viện đa khoa tỉnh. Bốn khái niệm chính được làm rõ gồm chất thải rắn y tế, chất thải lây nhiễm, chất thải sắc nhọn và chất thải thông thường. Trong đó, khái niệm giảm thiểu tại nguồn giữ vai trò cốt lõi, hướng đến việc cắt giảm khối lượng và độc tính của hóa chất, dược phẩm trước khi bước vào quy trình xử lý cuối cùng.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn kết hợp giữa dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp thực địa. Dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ báo cáo thống kê định kỳ giai đoạn 2007 đến 2012 của Tổ chống nhiễm khuẩn Bệnh viện Sết Tha, bao gồm số lượt phẫu thuật, số giường bệnh và khối lượng rác giao nhận. Dữ liệu sơ cấp được thu thập trong đợt khảo sát thực địa vào tháng 4 năm 2014. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 100 đối tượng khảo sát là bác sĩ, y tá, nhân viên thu gom và người dân sinh sống lân cận. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên theo vị trí công tác và mức độ tiếp xúc rác thải được lựa chọn nhằm bảo đảm tính đại diện cho toàn bộ 29 khoa phòng. Tác giả áp dụng phương pháp phân tích thống kê mô tả và đánh giá tổng hợp đa tiêu chí nhằm lượng hóa chính xác mối tương quan giữa lượng bệnh nhân tiếp nhận với tốc độ gia tăng chất thải rắn, phản ánh khách quan mức độ tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật trong suốt timeline nghiên cứu từ năm 2014 đến năm 2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tổng lượng chất thải rắn phát sinh tại Bệnh viện Sết Tha tăng nhanh qua các năm, đạt mốc 600 kg mỗi ngày vào năm 2012. Chất thải lây nhiễm tăng từ 10 kg mỗi ngày năm 2007 lên 30 kg mỗi ngày năm 2012, tương ứng mức tăng 200%. Chất thải sắc nhọn tăng từ 1,5 kg mỗi ngày lên 5 kg mỗi ngày, ghi nhận mức tăng 233,3%. Chất thải thông thường tăng từ 200 kg mỗi ngày lên 450 kg mỗi ngày, tăng 125%.

Thứ hai, định mức phát sinh rác theo giường bệnh đạt 2,06 kg rác thông thường trên một giường bệnh mỗi ngày, 0,13 kg rác lây nhiễm trên một giường bệnh mỗi ngày và 0,02 kg vật sắc nhọn trên một giường bệnh mỗi ngày. Tổng lượng rác sinh hoạt toàn viện ước tính đạt khoảng 93,525 tấn mỗi năm và chất thải rắn y tế chiếm khoảng 10 tấn mỗi năm.

Thứ ba, nguồn chất thải nguy hại tập trung cao nhất tại phòng mổ với 10 kg rác lây nhiễm mỗi ngày, phòng phụ sản đóng góp 8 kg mỗi ngày, phòng phân tích sinh vật phát sinh 2 kg mỗi ngày và phòng X-quang thải ra khoảng 1,3 lít dung dịch tráng phim mỗi ngày.

Thứ tư, điều kiện cơ sở vật chất thu gom còn thiếu đồng bộ khi toàn viện chỉ có 58 thùng rác y tế màu vàng dung tích 120 lít và 58 thùng rác sinh hoạt màu đen chia cho 29 khoa. Lò đốt rác y tế tại chỗ sử dụng củi và dầu đốt thủ công đã xuống cấp nghiêm trọng, phát tán khói đen và khí độc ra khuôn viên bệnh viện.

Thảo luận kết quả

Khối lượng chất thải gia tăng xuất phát trực tiếp từ áp lực tiếp nhận hơn 250.000 lượt khám trong 6 năm, trong đó bệnh cảm cúm đạt 5.658 lượt khám và tiểu đường đạt 5.136 lượt khám. Sự thiếu hụt quy trình ghi chép định lượng tại từng khoa phòng tạo ra nguy cơ thất thoát chất thải nguy hại trong quá trình lưu chuyển nội bộ. So với tiêu chuẩn tại Việt Nam theo Quyết định 43 năm 2007 của Bộ Y tế chia rác thành 5 nhóm với 4 màu quy ước, quy định của Lào chỉ chia 3 nhóm và dùng chung màu vàng cho cả rác lây lan lẫn vật sắc nhọn, dễ gây nhầm lẫn khi thu gom. Để tối ưu hóa quản lý, dữ liệu phát thải nên được trực quan hóa qua biểu đồ cột chồng nhiều năm thể hiện động thái gia tăng tải lượng theo từng khoa, kết hợp bảng ma trận luân chuyển dòng thải từ 29 khoa về khu lưu giữ trung tâm nhằm thiết lập lại lộ trình vận chuyển an toàn.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, nâng cấp công nghệ xử lý chất thải nguy hại. Ban Giám đốc Bệnh viện Sết Tha cùng Sở Y tế Viên Chăn cần dừng vận hành lò đốt củi dầu thủ công, chuyển giao toàn bộ 30 kg đến 100 kg chất thải y tế mỗi ngày cho Công ty Môi trường Đô thị vận chuyển về khu xử lý tập trung tại Km 32. Mục tiêu là xử lý đạt chuẩn môi trường 100% dòng rác nguy hại trong thời gian 12 tháng.

Thứ hai, chuẩn hóa phương tiện phân loại tại nguồn. Ban Môi trường bệnh viện cần trang bị bổ sung ít nhất 116 thùng chứa đạt chuẩn có nắp đậy và cần đạp chân cho 29 khoa phòng, dán nhãn nhận diện phân loại rõ ràng cho thùng màu vàng và màu đen. Giải pháp này hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ phân loại đúng của nhân viên y tế lên trên 95% trong 6 tháng.

Thứ ba, thiết lập hệ thống giám sát và số hóa sổ giao nhận rác. Khoa Chống nhiễm khuẩn phối hợp các Trưởng khoa áp dụng biểu mẫu kiểm kê hàng ngày, đối soát khối lượng rác phát sinh tại từng khoa với nhà lưu giữ trung tâm. Mục tiêu là triệt tiêu hoàn toàn nguy cơ thất thoát chất thải y tế về mức 0% ngay trong quý 2 năm 2015.

Thứ tư, đẩy mạnh đào tạo chuyên môn và truyền thông cộng đồng. Phòng Tổ chức phối hợp Công đoàn bệnh viện định kỳ tổ chức 4 khóa tập huấn an toàn môi trường mỗi năm cho 491 cán bộ y tế, kết hợp gắn biển hướng dẫn trực quan tại khu chờ khám. Mục tiêu nâng tỷ lệ hiểu biết đúng quy chuẩn của bệnh nhân và người nhà lên trên 90% trong giai đoạn 2015 đến 2016.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các nhà quản lý bệnh viện và lãnh đạo cơ sở y tế tại Lào. Công trình cung cấp mô hình thực tiễn về thiết lập Ban Môi trường và cơ chế phân công trách nhiệm cho 29 trưởng khoa, giúp các bệnh viện quy mô từ 200 giường bệnh trở lên chuẩn hóa quy trình quản trị dòng thải y tế.

Nhóm thứ hai là cơ quan hoạch định chính sách thuộc Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên Môi trường Lào. Luận văn cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm cùng các phân tích so sánh pháp lý quốc tế, đóng góp luận cứ khoa học để hoàn thiện bộ quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quản lý chất thải nguy hại.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường và Y tế công cộng. Đề tài là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp điều tra thực địa với 100 phiếu khảo sát và bộ số liệu quan trắc phát thải liên tục trong 6 năm giai đoạn 2007 đến 2012.

Nhóm thứ tư là các doanh nghiệp môi trường đô thị và kỹ sư thiết kế công nghệ xử lý rác. Các thông số về 450 kg rác sinh hoạt và 30 kg rác lây nhiễm mỗi ngày là dữ liệu đầu vào thiết thực để tính toán công suất thiết bị xử lý và định hình phương án vận chuyển tối ưu cho khu vực đô thị Viên Chăn.

Câu hỏi thường gặp

Khối lượng chất thải rắn phát sinh mỗi ngày tại Bệnh viện Sết Tha là bao nhiêu? Tổng lượng chất thải rắn phát sinh trung bình đạt khoảng 600 kg mỗi ngày vào năm 2012. Trong đó, chất thải thông thường chiếm 450 kg mỗi ngày tương đương 2,06 kg trên một giường bệnh, còn chất thải y tế chiếm khoảng 100 kg mỗi ngày gồm 30 kg rác lây nhiễm, 5 kg vật sắc nhọn và 1,3 lít dung dịch tráng phim X-quang.

Điểm khác biệt chính giữa quy định quản lý chất thải y tế của Lào và Việt Nam là gì? Quy chế quản lý của Lào phân chia chất thải thành 3 nhóm gồm chất thải lây lan, chất thải sắc nhọn và chất thải thông thường. Trong khi đó, Quyết định 43 năm 2007 của Bộ Y tế Việt Nam phân chia chi tiết thành 5 nhóm với 4 màu sắc quy chuẩn gồm vàng, đen, xanh và trắng.

Tỷ lệ chất thải y tế lây nhiễm phát sinh trên mỗi giường bệnh tại cơ sở nghiên cứu là bao nhiêu? Trên quy mô 218 giường bệnh thực tế, định mức phát sinh chất thải lây nhiễm đạt 0,13 kg trên một giường bệnh mỗi ngày và chất thải sắc nhọn là 0,02 kg trên một giường bệnh mỗi ngày, chiếm tỷ lệ khoảng 10% trong tổng khối lượng chất thải rắn phát sinh toàn viện.

Phương pháp xử lý chất thải rắn nguy hại hiện tại của bệnh viện bộc lộ những hạn chế gì? Bệnh viện sử dụng lò đốt thủ công vận hành bằng củi và dầu đã quá cũ kỹ, không kiểm soát được nhiệt độ buồng đốt và thiếu hệ thống lọc khí thải, dẫn đến nguy cơ ô nhiễm không khí nghiêm trọng và phát tán mầm bệnh độc hại ra môi trường sống xung quanh.

Biện pháp nào giúp ngăn chặn triệt để tình trạng thất thoát chất thải y tế nội bộ? Bệnh viện cần thiết lập sổ nhật ký giao nhận bắt buộc tại từng khoa phòng trước khi chuyển về kho lưu giữ trung tâm, kết hợp quy trình đối soát khối lượng định kỳ 1 tháng một lần giữa Khoa Chống nhiễm khuẩn và đơn vị thu gom nhằm đưa tỷ lệ thất thoát về mức 0%.

Kết luận

  • Khối lượng chất thải rắn tại Bệnh viện Sết Tha đạt 600 kg mỗi ngày, trong đó chất thải lây nhiễm tăng 200% và chất thải sắc nhọn tăng 233,3% trong giai đoạn 2007 đến 2012.
  • Định mức phát sinh rác sinh hoạt đạt 2,06 kg trên một giường bệnh mỗi ngày và rác lây nhiễm nguy hại đạt 0,13 kg trên một giường bệnh mỗi ngày trên quy mô 218 giường bệnh.
  • Công tác thu gom và xử lý còn hạn chế do toàn viện chỉ có 58 thùng rác y tế 120 lít và lò đốt củi dầu thủ công gây ô nhiễm môi trường.
  • Hệ thống quản lý cần được hoàn thiện thông qua cơ chế phân quyền cho 29 khoa phòng và số hóa sổ theo dõi bàn giao nhằm loại bỏ nguy cơ thất thoát rác.
  • Hoạt động tập huấn an toàn môi trường cần được duy trì định kỳ 4 khóa mỗi năm cho 491 cán bộ y tế nhằm nâng cao tỷ lệ tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật.

Đóng góp quan trọng nhất của luận văn là xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu định lượng thực chứng và đề xuất giải pháp kỹ thuật, quản lý toàn diện cho bệnh viện công lập tại Lào. Trong lộ trình tiếp theo giai đoạn 2015 đến 2020, các cơ sở y tế cần khẩn trương thay thế lò đốt lạc hậu và áp dụng quy trình kiểm soát chất thải khép kín để bảo vệ sức khỏe cộng đồng.