MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Kinh tế của Việt Nam đang chuyển biến mạnh mẽ sang nền kinh tế thị trƣờng. Sự phát triển của nền kinh thị trƣờng một mặt thúc đẩy sự phát triển của đất nƣớc. Nhƣng mặt khác, kinh tế thị trƣờng đi liền với việc mở mang các đô thị mới, các ngành sản xuất kinh doanh và dịch vụ lại làm nảy sinh những vấn đề lớn về môi trƣờng, đặc biệt là nó tạo ra một lƣợng lớn rác thải gây ảnh hƣởng nghiêm trọng đến môi trƣờng đất, nƣớc, không khí và sức khoẻ con ngƣời.
Song song với quá trình phát triển không ngừng của kinh tế - xã hội, cùng với sự gia tăng dân số, chúng ta đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm môi trƣờng đang diễn ra ở khắp các địa phƣơng. Quá trình đô thị hoá diễn ra ngày càng nhanh chóng kéo theo nó là sự phát sinh một lƣợng các loại chất thải tƣơng đối lớn gây tác động không tốt đến sức khoẻ của con ngƣời và làm ảnh hƣởng đến mỹ quan đô thị. Chúng ta đã biết, rác thải sinh hoạt chứa nhiều chất hữu cơ, khi phân huỷ tự nhiên bốc lên mùi hôi thối gây ảnh hƣởng xấu đến môi trƣờng. Các bãi tập trung rác không những là nơi gây ô nhiễm mà còn là nơi ẩn chứa các ổ dịch bệnh.
Ngoài ra, rác thải sinh hoạt cũng sẽ ảnh hƣởng tới mỹ quan đô thị. Thành phố Lạng Sơn là thành phố miền núi thuộc tỉnh Lạng Sơn, trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phƣơng đã đạt những kết quả nhất định. Năm 2011, tốc độ tăng trƣởng kinh tế ƣớc đạt 14% (năm 2010 đạt 13,8%). Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hƣớng tích cực.
Thƣơng mại - dịch vụ chiếm 57,49%; công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng chiếm 40,72%; nông nghiệp, thuỷ sản chiếm 1,79%. Bên cạnh nhƣng kết quả đạt nêu trên thành phố còn phải đối mặt với sự gia tăng cả về số lƣợng cũng nhƣ tính nguy hại của chất thải rắn sinh hoạt [10]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 2 Hiện nay ở thành phố Lạng Sơn công tác quản lý và xử lý chất thải rắn sinh hoạt còn gặp phải rất nhiều khó khăn đó là: việc phân loại ngay tại nguồn chƣa đƣợc thực hiện, lƣợng thu gom còn thấp so với thực tế, việc xử lý mới dừng lại ở việc chôn lấp hợp vệ sinh. Nhận thức đƣợc khả năng gây ảnh hƣởng xấu trong thời gian sắp tới của chất thải rắn sinh hoạt gây ra cho sức khoẻ của ngƣời dân cũng nhƣ quá trình phát triển kinh tế - xã hội của thành phố tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá thực trạng quản lý và xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn”.
Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu tổng quát: Đánh giá thực trạng quản lý và xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Lạng Sơn, Tỉnh Lạng Sơn từ đó đƣa ra đƣợc một số giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn nghiên cứu. Mục tiêu cụ thể: - Đánh giá thực trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thành phố Lạng Sơn. - Đánh giá thực trạng xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thành phố Lạng Sơn. - Đề xuất một số giải pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thành phố Lạng Sơn trong thời gian tới.
Yêu cầu - Đƣa ra đánh giá về hiện trạng thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố. - Tìm những khó khăn, những tồn tại và đƣa ra những biện pháp khắc phục. - Đề xuất một số giải pháp có tính khả thi có thể áp dụng tại khu vực nghiên cứu đề tài. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Ô nhiễm và giải quyết ô nhiễm môi trƣờng là một vấn đề cấp bách và cần thiết, nhằm bảo vệ sự trong lành của môi trƣờng, bảo vệ sức khỏe và tạo ra vẻ đẹp mỹ quan đô thị. Do đó, việc đánh giá thực trạng quản lý và xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn cũng không ngoài mục đích bảo vệ môi trƣờng, bảo vệ sức khỏe cộng đồng và mỹ quan đô thị đó là một công cụ khoa học kỹ thuật nhằm phân tích dự báo các tác động có lợi, có hại trực tiếp, gián tiếp trƣớc mắt và lâu dài của chất thải rắn sinh hoạt đến môi trƣờng tự nhiên và kinh tế - xã hội. Từ đó tìm ra phƣơng pháp tối ƣu cho công tác quản lý và xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thành phố Lạng Sơn trong thời gian tới. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1.
Khái quát về chất thải rắn 1. Một số khái niệm Chất thải rắn (CTR) là toàn bộ các loại vật chất đƣợc con ngƣời loại bỏ trong các hoạt động kinh tế xã hội của mình (bao gồm các hoạt động sản xuất, các hoạt động sống và duy trì sự tồn tại của cộng đồng…) trong đó quan trọng nhất là các loại chất thải sinh ra từ các hoạt động sản xuất và hoạt động sống [8]. Rác là thuật ngữ đƣợc dùng để chỉ chất thải rắn có hình dạng tƣơng đối cố định, bị vứt bỏ từ hoạt động của con ngƣời. Rác sinh hoạt hay chất thải rắn sinh hoạt là một bộ phận của chất thải rắn, đƣợc hiểu là chất thải rắn phát sinh từ các hoạt động thƣờng ngày của con ngƣời [8].
Chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH): Gồm những CTR phát sinh từ hoạt động hàng ngày của con ngƣời. Rác sinh hoạt thải ra ở mọi nơi, mọi lúc trong phạm vi thành phố hoặc khu dân cƣ, từ các hộ gia đình, khu thƣơng mại, chợ và các tụ điểm buôn bán, nhà hàng khách sạn, công viên, khu vui chơi giải trí, các viện nghiên cứu, trƣờng học, các cơ quan nhà nƣớc… CTRSH: gồm những chất thải có liên quan đến các hoạt động của con ngƣời, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cƣ, các cơ quan trƣờng học, các trung tâm dịch vụ, thƣơng mại. CTRSH có thành phần bao gồm kim loại, thuỷ tinh, gạch ngói vỡ, đất đá, cao su, chất dẻo, thực phẩm dƣ thừa hoặc quá hạn sử dụng, xƣơng động vật, tre gỗ, vải giấy, rơm rạ, xác động vật, vỏ rau quả,…[8]. Chất thải rắn công nghiệp: là CTR phát thải từ hoạt động sản xuất công nghiệp, làng nghề, kinh doanh, dịch vụ hoặc các hoạt động khác.
Chất thải rắn nguy hại: là CTR chứa các chất hoặc hợp chất có một trong những đặc tính: phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 5 ngộ độc hoặc các đặc tính nguy hại khác.[8] Phế liệu: là sản phẩm, vật liệu bị loại ra từ quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng, đƣợc thu hồi để tái chế, tái sử dụng làm nguyên liệu cho quá trình sản xuất sản phẩm khác. Hoạt động quản lý CTR: bao gồm các hoạt động quy hoạch quản lý, đầu tƣ xây dựng cơ sở quản lý CTR, các hoạt động phân loại, thu gom, lƣu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý CTR nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trƣờng và sức khoẻ con ngƣời. Thu gom CTR: là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói và lƣu giữ tạm thời CTR tại nhiều điểm thu gom tới địa điểm hoặc cơ sở đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền chấp thuận. Vận chuyển CTR: là quá trình chuyên chở CTR từ nơi phát sinh, thu gom, lƣu giữ, trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc BCL cuối cùng.
Xử lý CTR: là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật làm giảm, loại bỏ, tiêu hủy các thành phần có hại hoặc không có ích trong CTR; thu hồi, tái chế, tái sử dụng lại các thành phần có ích trong CTR. Chôn lấp CTR hợp vệ sinh: là hoạt động chôn lấp phù hợp với các yêu cầu của tiêu chuẩn kỹ thuật về bãi chôn lấp CTR hợp vệ sinh. Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn Nguồn gốc phát sinh, thành phần và tốc độ phát sinh của chất thải rắn là cơ sở quan trọng trong thiết kế, lựa chọn công nghệ xử lý và đề xuất các chƣơng trình quản lý chất thải rắn thích hợp [8]. Có nhiều cách phân loại nguồn gốc phát sinh chất thải rắn khác nhau nhƣng phân loại theo cách thông thƣờng nhất là: - Khu dân cƣ - Khu thƣơng mại - Cơ quan, công sở Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 6 - Khu xây dựng và phá hủy các công trình xây dựng - Khu công cộng - Nhà máy xử lý chất thải - Công nghiệp - Nông nghiệp Chất thải rắn phát sinh trừ nhiều nguồn khác nhau, căn cứ vào đặc điểm chất thải có thể phân chia thành 3 nhóm: Chất thải đô thị, công nghiệp và chất thải nguy hại.
Thành phần của chất thải rắn Thành phần chất thải rắn biểu hiện sự đóng góp và phân phối của các thành phần riêng biệt mà từ đó tạo nên dòng chất thải, thông thường được tính bằng phần trăm khối lượng. Thông tin về thành phần chất thải rắn đóng vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá và lựa chọn những thiết bị thích hợp để xử lý, các quá trình xử lý cũng như việc hoạch định các hệ thống, chương trình và kế hoạch quản lý chất thải rắn. Thông thường trong rác thải đô thị, rác thải từ các khu dân cư và thương mại chiếm tỉ lệ cao nhất từ 50%-75%. Phần trăm đóng góp của mỗi thành phần chất thải rắn giá trị phân bố sẽ thay đổi tùy thuộc vào sự mở rộng các hoạt động xây dựng, sửa chữa, sự mở rộng các dịch vụ đô thị cũng như công nghệ sử dụng trong xử lý.
Thành phần riêng biệt của chất thải rắn thay đổi theo vị trí địa lý, thời gian, mùa trong năm, điều kiện kinh tế và tùy thuộc vào thu nhập của từng quốc gia. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www. Nguồn gốc và thành phần chất thải rắn Nguồn phát sinh Nơi phát sinh Các dạng chất thải rắn Khu dân cƣ Hộ gia đình, biệt thự, Thực phẩm dƣ thừa, giấy, chung cƣ can nhựa, thuỷ tinh, can thiếc, nhôm.