CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHẤT THẢI VÀ CHẤT THẢI NGUY HẠI 1. Một số khái niệm liên quan đến chất thải và phân loại chất thải 1.1 Khái niệm chất thải, chất thải nguy hại và quản lý chất thải nguy hại 1.1 Khái niệm chất thải Trong đời sống hàng ngày chúng ta đã sản sinh ra nhiều loại chất thải trong sinh hoạt gia đình, trong các khu công nghiệp, trong nông nghiệp. Theo cách hiểu thông thường, chất thải là những chất mà con người bỏ đi, không tiếp tục sử dụng nữa. Khi bị thải bỏ, những chất này tồn tại trong môi trường dưới những trạng thái nhất định và có thể gây ra rất nhiều tác động bất lợi cho môi trường cũng như sức khoẻ con người.
Chất thải được sản sinh trong các hoạt động khác nhau của con người thì được gọi với những thuật ngữ khác nhau như: Chất thải phát sinh sau quá trình sử dụng nước thì gọi là nước thải; sản phẩm, vật liệu được loại ra từ quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng được thu hồi để dùng làm nguyên liệu thì gọi là phế liệu; Chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt thì gọi là rác thải… Khái niệm về chất thải được hiểu theo góc độ pháp lý như sau: “Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt và hoạt động khác” được quy định trong Luật Bảo vệ môi trường 2005. Hay đơn giản hơn, chất thải là những vật và chất mà người dùng không còn muốn sử dụng và thải ra, tuy nhiên trong một số ngữ cảnh nó có thể là không có ý nghĩa với người này nhưng lại là lợi ích của người khác. Trong cuộc sống, chất thải được hình dung là những chất không còn được sử dụng cùng với những chất độc được xuất ra từ chúng. Chất thải liên quan trực tiếp tới sự phát triển của con người cả về công nghệ và xã hội.
Cấu tạo của các loại chất thải biến đổi qua thời gian và nơi chốn, với quá trình phát triển và đổi mới có tính chất công nghiệp đang trực tiếp ảnh hưởng tới nguồn phế liệu. Ví dụ như nhựa và công nghệ hạt nhân. Một số thành phần của chất thải có giá trị kinh tế đã được tái chế lại một cách hoàn hảo. Khái niệm chất thải (phế thải) cũng được sử dụng trong pháp luật quốc tế về môi trường, được đề cập tại Công ước Basel 1989, cụ thể nó được 10 GVHD: Nguyễn Anh Thư SVTH: Dương Xuân Dung Luận văn tốt nghiệp Pháp luật về quản lý chất thải nguy hại.
Thực trạng ở Thành Phố Cần Thơ và giải pháp hoàn thiện định nghĩa như sau: "Phế thải" là các chất hoặc các đồ vật mà người ta tiêu huỷ, có ý định tiêu huỷ hoặc phải tiêu huỷ chiếu theo các điều khoản của luật lệ quốc gia. Từ hai khái niệm này, ta thấy có sự khác nhau là trong Luật BVMT nêu lên khái niệm chung và tổng quát cho chất thải, còn đối với công ước Basel thì nó giới hạn lại ở mức độ là vật chất cần tiêu hủy. Khái niệm chất thải nguy hại Chất thải nguy hại là những chất gây ra thực trạng ô nhiễm môi trường trầm trọng nhất, mà con người dù bất cứ ở đâu phải tìm cách đối phó với chúng. Việc tìm hiểu chất thải nguy hại và những tác hại mà chúng mang lại có thể giúp chúng ta có cơ sở đưa ra các quy định về quản lý chúng một cách tốt nhất.
Ở Việt Nam, lần đầu tiên khái niệm CTNH được đề cập đến một cách chính thức tại quy chế quản lý CTNH ban hành kèm theo QĐ 155/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Tại Khoản 2 Điều 3 Quy chế quy định: “CTNH là chất thải có chứa các chất hoặc hợp chất có một trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp (dễ cháy, dễ nổ, làm ngộ độc, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm và các đặc tính gây nguy hại khác) hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại đến môi trường và sức khỏe con người”. Đến năm 2005, định nghĩa này đã được sửa đổi và hoàn thiện hơn tại Khoản 11 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2005 quy định về chất thải nguy hại như sau: “Chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính gây hại khác”1. Cũng có thể nói đơn giản rằng chất thải nguy hại là chất mang đặc tính gây hại.
Khi đối chiếu khái niệm CTNH ở hai văn bản pháp luật trên, có thể dễ dàng nhận thấy về mặt hình thức thì khái niệm CTNH trong Luật Bảo vệ môi trường (2005) đã rút gọn đi rất nhiều về số lượng câu, chữ nhưng cách diễn đạt thì rõ ràng hơn và súc tích hơn. Tuy nhiên, điều đó vẫn không làm giảm hay sai lệch phần nội dung mà khái niệm muốn đề cập đến: CTNH là một loại chất thải, có các đặc tính lý, hóa hoặc sinh học có thể gây nguy hại trực tiếp hay gián tiếp khi tương tác với các chất khác. Với khái niệm này thì có thể dẫn người đọc đến sự nhầm lẫn rằng chất thải là CTNH chỉ khi nó tương tác với chất khác, từ đó có thể đưa đến các hiểu sai, thực hiện sai, xử lý sai CTNH. 1 Khoản 11 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005.
11 GVHD: Nguyễn Anh Thư SVTH: Dương Xuân Dung Luận văn tốt nghiệp Pháp luật về quản lý chất thải nguy hại. Thực trạng ở Thành Phố Cần Thơ và giải pháp hoàn thiện 1. Khái niệm quản lý chất thải nguy hại Theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 quy định: Quản lý chất thải là hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy, thải loại chất thải2. Ngoài ra pháp luật cũng có quy định riêng về quản lý CTNH tại Quyết định số 155/1999/QĐ-TTg về việc ban hành quy chế quản lý CTNH.
Khoản 3 Điều 3 quy chế định nghĩa: “quy chế quản lý CTNH là các hoạt động kiểm soát CTNH trong suốt quá trình phát sinh từ thu gom, vận chuyển, quá cảnh, lưu giữ, xử lý và tiêu hủy CTNH”. Mới đây nhất BTNMT đã ban hành Thông tư 12/2011/TT-BTNMT ngày 14 tháng 4 năm 2011 quy định về quản lý chất thải nguy hại, tại Khoản 1, Điều 3 Thông tư này định nghĩa: “ quản lý CTNH là các hoạt động liên quan đến việc phòng ngừa, giảm thiểu, phân định, phân loại, tái sử dụng, trực tiếp, lưu giữ tạm thời, vận chuyển và xử lý CTNH”. Chất thải y tế cũng là một trong những loại chất thải có đặc tính nguy hại cao và cần được kiểm soát chặt chẽ. Khoản 3 Điều 3 quy chế quản lý chất thải y tế (ban hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 03 tháng 12 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế, định nghĩa: “quản lý chất thải y tế là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban đầu, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy chất thải y tế và kiểm tra giám sát việc thực hiện”.
Hiện nay chất thải rắn đang chiếm số lượng lớn trong tổng lượng chất thải vì thế Nghị định 59/2007/NĐ-CP ngày 09 tháng 4 năm 2007 Nghị định của chính phủ về quản lý chất thải rắn cũng đã chỉ rõ hoạt động quản lý chất thải rắn3 Những quy định của pháp luật Việt Nam về quản lý chất thải rắn rất phù hợp với những quy định của công ước Basel 1989 về kiểm soát, vận chuyển xuyên biên giới CTNH và việc tiêu hủy chúng. Theo công ước “quản lý chất thải là việc vận chuyển và tiêu hủy các phế thải nguy hiểm hoặc các phế thải khác, bao gồm cả việc giám sát các địa điểm tiêu hủy”. Theo quy định này, quản lý chất thải nói chung là một quy trình khép kín và tuần tự. Chúng luôn chịu sự giám sát chặt chẽ ở tất cả các khâu đảm bảo chất thải được tiêu hủy hoàn toàn.
Quản lý chất thải thường liên quan đến những vật chất do hoạt động của con người sản xuất ra, đồng thời đóng vai trò giảm bớt ảnh hưởng của chúng 2 Khoản 12 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005. 3 Khoản 1 Điều 3 Nghị định 59/2007/NĐ-CP ngày 09 tháng 4 năm 2007 nghị định của chính phủ về quản lý chất thải rắn 12 GVHD: Nguyễn Anh Thư SVTH: Dương Xuân Dung Luận văn tốt nghiệp Pháp luật về quản lý chất thải nguy hại. Thực trạng ở Thành Phố Cần Thơ và giải pháp hoàn thiện đến sức khỏe con người, môi trường hay tính mỹ quan. Quản lý chất thải cũng góp phần phục hồi các nguồn tài nguyên lẫn trong chất thải.
Quản lý chất thải có thể bao gồm chất rắn, chất lỏng, chất khí hoặc chất phóng xạ, mỗi loại được quản lý bằng những phương pháp và lĩnh vực chuyên môn khác nhau. Thực tế cho thấy cách quản lý chất thải có phần khác nhau tại những quốc gia phát triển và đang phát triển, tại khu vực đô thị và nông thôn, và tùy vào loại hình sản xuất dân dụng hay công nghiệp. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, dịch vụ góp phần phát triển kinh tế xã hội đồng thời làm phát sinh CTNH ra môi trường đã gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe của con người cho nên để có thể khắc phục được tình trạng đó, đòi hỏi nước ta thực hiện hoạt động cụ thể trong lĩnh vực quản lý chất thải. Quản lý chất thải nguy hại được nhiều người quan tâm đến và hiểu theo cách thông thường thì quản lý chất thải nguy hại là tập hợp các biện pháp kỹ thuật và chiến lược nhằm làm giảm tác động đến môi trường từ các chất thải nguy hại.
Phân loại chất thải và chất thải nguy hại 1.1 Phân loại chất thải Để phân loại chất thải, thì chúng ta có nhiều tiêu chí để phân loại vì thế phụ thuộc vào các tiêu chí khác nhau, chất thải có thể phân chia thành các loại như sau: Căn cứ vào nguồn phát sinh: có thể chia thành các loại: chất thải sinh hoạt, chất thải y tế, chất thải công nghiệp, chất thải nông nghiệp, chất thải xây dựng, chất thải du lịch… Căn cứ vào trạng thái tồn tại của chất thải có thể chia thành: chất thải rắn, chất thải lỏng, chất thải khí, và các chất thải ở dạng khác. Căn cứ vào độ độc hại của chất thải, chia thành 2 loại: chất thải thông thường và CTNH.