CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TRONG XÂY DỰNG 1. Quản lý chất lượng trong xây dựng dự án khu dân cư 1. Khái niệm chung về quản lý chất lượng Theo Liên Xô: Quản lý chất lượng là xây dựng, đảm bảo và duy trì mức chất lượng tất yếu của sản phẩm khi thiết kế, chế tạo, lưu thông và tiêu dùng. Điều này được thực hiện bằng cách kiểm tra chất lượng một cách hệ thống, cũng như những tác động hướng đích tới các nhân tố và điều kiện ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm.
Theo Kaoru Ishikawa: Quản lý chất lượng là hệ thống các biện pháp tạo điều kiện sản xuất kinh tế nhất những sản phẩm hoặc những dịch vụ có chất lượng thỏa mãn yêu cầu của người tiêu dùng. Theo ISO (8402-1999): Quản lý chất lượng là những hoạt động của chức năng quản lý chung nhằm xác địng chính sách chất lượng và thực hiện thông qua các biện pháp như lập kế hoạch chất lượng, kiểm soát chất lượng đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng trong hệ thống chất lượng. Chất lượng không tự sinh ra, chất lượng không phải là một kết quả ngẫu nhiên, nó là kết quả tác động của hàng loạt yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau. Muốn đạt được chất lượng mong muốn cần phải quản lý một cách đúng đắn các yếu tố này.
“Quản lý chất lượng là các hoạt động có phối hợp nhằm định hướng và kiểm soát một tổ chức về đảm bảo chất lượng”. Việc định hướng và kiểm soát về chất lượng thường bao gồm lập chính sách, mục tiêu, hoạch định, kiểm soát, đảm bảo và cải tiến chất lượng. Đặc điểm và vai trò của quản lý chất lượng: Quản lý chất lượng giữ một vị trí then chốt đối với sự phát triển kinh tế, đời sống của người dân và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đối với nền kinh tế quốc dân thì đảm bảo nâng cao chất lượng sẽ tiết kiệm được lao động xã hội, làm tăng trưởng và phát triển kinh tế.
5 Đối với khách hàng: Khi có hoạt động quản lý chất lượng, khách hàng sẽ được thụ hưởng những sản phẩm hàng hóa dịch vụ có chất lượng tốt hơn với chi phí thấp hơn. Đối với doanh nghiệp: Quản lý chất lượng là cơ sở để tạo niềm tin cho khách hàng, giúp doanh nghiệp có khả năng duy trì và mở rộng thị trường làm tăng năng suất, giảm chi phí. Trong cơ chế thị trường, cơ cấu sản phẩm, chất lượng sản phẩm hay giá cả và thời gian giao hàng là yếu tố quyết định rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp mà các yếu tố này phụ thuộc rất lớn vào hoạt động quản lý chất lượng. Chất lượng sản phẩm và quản lý chất lượng là vấn đề sống còn của các doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay.
Tầm quan trọng của quản lý chất lượng ngày càng được nâng cao, do đó chúng ta phải không ngừng nâng cao trình độ quản lý chất lượng, đặt biệt là trong các tổ chức. Nguyên tắc quản lý chất lượng: - Định hướng bởi khách hàng: Trong cơ chế thị trường, khách hàng là người đặt ra các yêu cầu đối với sản phẩn như chất lượng, kiểu cách, giá cả và dịch vụ đi kèm. Do đó, để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp phải biết tập trung định hướng các sản phẩm dịch vụ của mình theo yêu cầu của khách hàng. Quản lý chất lượng phải hướng tới khách hàng và đáp ứng tốt nhất nhu cầu khách hàng thông qua các hoạt động điều tra nghiên cứu nhu cầu, đồng thời lấy việc phục vụ đáp ứng tốt nhất nhu cầu khách hàng làm mục tiêu phát triển.
Khách hàng ngày nay có vị trí rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Chính vì vậy, hoạt động của doanh nghiệp ngày nay đều phải hướng theo khách hàng, lấy việc thỏa mãn khách hàng là mục tiêu số một. - Coi trọng con người: Con người giữ vị trí quan trọng hàng đầu trong quá trình hình thành đảm bảo và nâng cao chất lượng. Vì vậy, trong công tác quản lý chất lượng cần áp dụng những 6 biện pháp thích hợp để có thể huy động hết khả năng của mọi người mọi cấp vào công việc.
Lãnh đạo doanh nghiệp phải là người xác định được chính sách và chiến lược phát triển cho doanh nghiệp, đồng thời phải thiết lập được sự thống nhất, đồng bộ giữa mục đích, chính sách của doanh nghiệp, người lao động và của xã hội trong đó đặt lợi ích của người lao động lên trên hết. Phải có sự thống nhất giữa lãnh đạo với cán bộ quản lý trung gian và nhân viên để mang lại kết quả, hiệu quả mong muốn. Nhân viên phải được trao quyền để thực hiện để thực hiện các yêu cầu về chất lượng. Tôn trọng con người sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp.
- Quản lý chất lượng phải toàn diện và đồng bộ: Chất lượng là tổng hợp của tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội và nó liên quan đến mọi lĩnh vực. Quản lý chất lượng đòi hỏi đảm bảo tính đồng bộ trong các mặt hoạt động vì nó là kết quả của những nỗ lực chung của từng bộ phận, từng người. Quản lý chất lượng phải toàn diện và đồng bộ vì nó giúp cho các hoạt động của doanh nghiệp ăn khớp với nhau, từ đó tạo ra sự thống nhất trong các hoạt động. Quản lý chất lượng toàn diện và đồng bộ mới giúp cho việc phát hiện các vấn đề chất lượng một cách nhanh chóng, kịp thời từ đó có những biện pháp điều chỉnh.
- Quản lý chất lượng phải đồng thời với đảm bảo chất lượng và cải tiến: Đảm bảo và cải tiến là hai vấn đề có liên quan mật thiết với nhau. Đảm bảo bao hàm việc duy trì mức chất lượng thỏa mãn khách hàng, còn cải tiến sẽ giúp cho các sản phẩm hàng hóa dich vụ có chất lượng vượt mong đợi của khách hàng. Đảm bảo và cải tiến là sự phát triển liên tục không ngừng trong công tác quản lý chất lượng, nếu chỉ giải quyết phiến diện một vấn đề thì sẽ không bao giờ đạt được kết quả như mong muốn. Quản lý chất lượng phải thực hiện theo quá trình: 7 Quản lý chất lượng theo quá trình là tiến hành các hoạt động quản lý ở mọi khâu liên quan đến hình thành chất lượng, đó là từ khâu nghiên cứu nhu cầu khách hàng cho đến dịch vụ sau bán hàng.
Quản lý chất lượng theo quá trình sẽ giúp doanh nghiệp có khả năng hạn chế những sai hỏng do các khâu, các công đoạn điều được kiểm soát một cách chặt chẽ. Quản lý chất lượng sẽ giúp doanh nghiệp ngăn chặn những sản phẩm chất lượng kém tới tay khách hàng. Đây chính là cơ sở để nâng cao khả năng cạnh tranh, giảm chi phí. Lấy phương châm phòng ngừa làm phương tiện cơ bản để hạn chế và ngăn chặn những nguyên nhân gây ra chất lượng kém cho chất lượng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ.
Quản lý chất lượng theo quá trình sẽ khắc phục được rất nhiều hạn chế của phương pháp quản lý chất lượng theo mục tiêu. - Quản lý chất lượng phải tuân thủ nguyên tắc kiểm tra: Trong quản lý chất lượng, kiểm tra nhằm mục đích hạn chế và ngăn chặn những sai sót, kịp thời đưa ra các biện pháp khắc phục, phòng ngừa và cải tiến. Kiểm tra là một biện pháp sử dụng tổng hợp các phương tiên kỹ thuật để nhằm giải quyết hiệu quả các vấn đề về chất lượng. Mô hình quản lý chất lượng công trình xây dựng Kiểm tra chất lượng công trình xây dựng Một phương pháp phổ biến nhất để đảm bảo chất lượng sản phẩm phù hợp với qui định là bằng cách kiểm tra các sản phẩm và chi tiết bộ phận nhằm sàn lọc và loại ra bất cứ một bộ phận nào không đảm bảo tiêu chuẩn hay qui cách kỹ thuật.
Theo định nghĩa, kiểm tra chất lượng là hoạt động như đo, xem xét, thử nghiệm, định cở một hay nhiều đặc tính của đối tượng và so sánh kết quả với yêu cầu nhằm xác định sự phù hợp của mỗi đặc tính. Như vậy kiểm tra chỉ là một sự phân loại sản phẩm đã được chế tạo, một cách xử lý “chuyện đã rồi”. Nói theo ngôn ngữ hiện nay thì chất lượng không được tạo dựng nên qua kiểm tra. Vào những năm 1920, người ta đã bắt 8 đầu chú trọng đến những quá trình trước đó, hơn là đợi đến khâu cuối cùng mới tiến hành sàn lộc sản phẩm.
Khái niệm kiểm soát chất lượng (Quality Control – QC) ra đời. Kiểm soát chất lượng (QC) Theo định nghĩa, kiểm soát chất lượng là các hoạt động và kỹ thuật mang tính tác nghiệp được sử dụng để đáp ứng các yêu cầu chất lượng. Để kiểm soát chất lượng, kiểm soát được mọi yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tạo ra chất lượng sản phẩm. Việc kiểm soát này nhằm ngăn ngừa sản xuất ra sản phẩm kém chất lượng.
Kiểm soát chất lượng toàn diện (TQC) Thuật ngữ kiểm soát chất lượng toàn diện (Total Quality Control – TQC) được Feigenbaum định nghĩa như sau: Kiểm soát chất lượng toàn diện là một hệ thống có hiệu quả để nhất thể hóa các nổ lực phát triển, duy trì và cải tiến chất lượng của các nhóm khác nhau vào trong một tổ chức sao cho các hoạt động marketing, kỹ thuật, sản xuất và dịch vụ có thể tiến hành một cách kinh tế nhất, cho phép hoàn toàn thỏa mãn khách hàng. Quản lý chất lượng toàn diện (TQM) TQM được định nghĩa là một phương pháp quản lý của một tổ chức, định hướng vào chất lượng, dựa trên sự tham gia của mổi thành viên và nhằm đem lại sự thành công dài hạn thông qua sự thỏa mãn khách hàng và lợi ích của mọi thành viên của công ty đó và của xã hội. Mô hình quản lý chất lượng theo hệ thống quản lý chất lượng toàn diện (TQM): Giáo sư Nhật Bản Histoshi Kume (Nhật): Quản lý chất lượng toàn diện – TQM là một dụng pháp quản lý đưa đến thành công, tạo thuận lợi cho tăng trưởng bền vững của một tổ chức thông qua việc huy động hết tâm trí của tất cả các thành viên nhằm tạo ra chất lượng một cách kinh tế theo yêu cầu của khách hàng. ISO 8402: 1994: Quản lý chất lượng toàn diện – TQM là cách quản lý một tổ chức tập trung vào chất lượng, dựa trên sự tham gia của tất cả các thành viên nhằm đạt được 9 sự thành công lâu dài nhờ việc thỏa mãn khách hàng và đem lại lợi ích cho các thành viên của tổ chức đó và cho xã hội.