Chương I Thông tư số 06/2012/TT-BNV ngày 30/10/2012 của Bộ Nội vụ: + Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã trong các lĩnh vực: An ninh, Quân sự, Văn phòng - Thống kê, Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường, Tài chính - kế toán, Tư pháp - hộ tịch, Văn hóa - xã hội. + Trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ sau theo chức danh đảm nhận; + Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành và do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã giao. Chất lượng, các tiêu chí đánh giá chất lượng cán bộ, công chức cấp xã 2. Chất lượng cán bộ, công chức cấp xã Theo Hoàng Phê (2018), từ điển tiếng Việt định nghĩa “Chất lượng” chính là “cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, sự việc”.
Chất lượng cán bộ, công chức cấp xã được phản ánh thông qua số lượng, tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ ngoại ngữ (Ở địa bàn công tác phải sử dụng tiếng dân tộc thiểu số trong hoạt động công vụ thì phải biết thành thạo tiếng dân tộc thiểu số phù hợp với địa bàn công tác đó), tin học, các kỹ năng, kinh nghiệm trong quản lý, thái độ chính trị, đạo đức, tình trạng sức khỏe của đội ngũ cán bộ, công chức trong thực thi công vụ (Quốc hội, 2008). Mỗi cán bộ, công chức không tồn tại một cách biệt lập mà phải được đặt trong một chỉnh thể thống nhất của đội ngũ cán bộ, công chức. Vì vậy, quan niệm về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức phải được đặt trong mối quan hệ biện chứng giữa chất lượng của từng cán bộ, công chức với chất lượng của cả đội ngũ, đáp ứng yêu cầu về số lượng và cơ cấu. Như vậy, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là chất lượng của tập hợp cán bộ, công chức cấp xã trong một 9 tổ chức, địa phương.
Chất lượng đội ngũ không phải là sự tập hợp giản đơn về số lượng mà là sự tổng hợp sức mạnh của toàn bộ đội ngũ cán bộ, công chức. Sức mạnh này bắt nguồn từ phẩm chất vốn có trong mỗi con người và nó được tăng lên gấp bội bởi tính thống nhất của tổ chức, của sự giáo dục, đào tạo, phân công, quản lý và kỷ luật (Quốc hội, 2008). Như vậy có thể hiểu rằng chất lượng cán bộ, công chức là tổng hợp những phẩm chất nhất định về sức khỏe, trí tuệ khoa học, chuyên môn nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức, ý chí, niềm tin, năng lực, luôn gắn bó với tập thể, với cộng đồng và khả năng thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ được giao. Theo Hoàng Phê (2018), định nghĩa: “Đội ngũ là tập hợp gồm một số đông người cùng chức năng, nhiệm vụ hoặc nghề nghiệp, hợp thành lực lượng hoạt động trong hệ thống (tổ chức) và cùng chung một mục đích nhất định”.
Theo Đặng Quốc Bảo (1997), đội ngũ là một tập thể người gắn kết với nhau,cùng chung lý tưởng, mục đích, ràng buộc nhau về vật chất, tinh thần và hoạt động theo một nguyên tắc. Theo đó có thể quan niệm: Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là tập hợp những cán bộ, công chức tổ chức thành một lực lượng, có chung một lý tưởng, mục đích, nhiệm vụ đó là thực hiện mục tiêu kinh tế- xã hội, an ninh, chính trị, quốc phòng và các nhiệm vụ khác ở cấp xã mà được mà nhà nước – xã hội giao phó. Theo Cao Khoa Bảng (2012), nội hàm “đội ngũ” bao gồm nhiều nội dung. Theo khía cạnh cấu trúc của đội ngũ, thì nó bao gồm 2 bộ phận (1) Gồm những cán bộ được hình thành, phát triển qua đào tạo; và (ii) những cán bộ trưởng thành từ thực tiễn công tác, phấn đấu, được bầu cử hoặc đề bạt, bổ nhiệm vào chức vụ lãnh đạo, quản lý.
Khái niệm chất lượng đội ngũ cán bộ: Theo Cao Khoa Bảng (2012), chất lượng đội ngũ cán bộ được tạo nên bởi nhiều yếu tố,thể hiện tính đồng bộ và thống nhất trong đội ngũ cán bộ, là sự kết hợp hài hòa giữa chất lượng của từng người cán bộ và chất lượng của cả đội ngũ cán bộ. Trong đó, chất lượng của từng người cán bộ được tạo nên từ phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, trình độ, năng lực công tác, phẩm chất làm việc … được thể hiện qua kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, khả năng và chiều hướng phát triển của người cán bộ đó. 10 Như thế, các yếu tố cấu thành chất lượng của đội ngũ cán bộ: chất lượng của cả đội ngũ cán bộ được tạo nên bởi nhiều yếu tố, bao gồm: Quy mô số lượng cán bộ; cơ cấu cán bộ, trình độ phẩm chất, năng lực làm việc của đội ngũ cán bộ, được thể hiện ở kết quả hoàn thành nhiệm vụ của mỗi người và cả đội ngũ (Cao Khoa Bảng, 2012). Như thế, theo như Cao Khoa Bảng (2012) về chất lượng đội ngũ cán bộ thì những yếu tố sau cấu thành chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã: Số lượng đội ngũ cán bộ, công chức: Số lượng cần phù hợp với nhu cầu viên chế, yêu cầu nhiệm vụ của tổ chức hoạt động (cấp xã).
Nếu số lượng cán bộ quá ít/ quá nhiều sẽ ảnh hưởng chất lượng đội ngũ cán bộ và tính hiệu quả thực thi công việc. Cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức: bao gồm cơ cấu thành phần xuất thân (Dân tộc), tuổi, trình độ học vấn, chức danh cán bộ, giới tính, ngành nghề đào tạo, chuyên môn nghiệp vụ…Nếu cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức hợp lý sẽ giúp cho đội ngũ phát triển cân đối, đồng bộ. Trình độ, phẩm chất năng lực và phẩm chất làm việc của đội ngũ cán bộ : Trình độ, phẩm chất năng lực và phẩm chất làm việc của từng cán bộ cần đáp ứng các yêu cầu, tiêu chuẩn, điều kiện càng cao thì chất lượng đội ngũ cán bộ càng tốt. Như vậy có thể định nghĩa về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã như sau: Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là tập hợp tất cả các thuộc tính của từng cán bộ, công chức cấp xã cùng sự phối hợp hoạt động chặt chẽ cả về ý chí lẫn hành động của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã với số lượng đầy đủ và cơ cấu hợp lí có khả năng đáp ứng yêu cầu, mục tiêu tại một giai đoạn nhất định.
Các tiêu chí đánh giá chất lượng của cán bộ, công chức cấp xã Theo Hoàng Thị Hoàng Hương (2016), tiêu chí và giải pháp đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, thì tiêu chí đánh giá chất lượng cán bộ, công công chức cấp xã có các nội dung: các tiêu chí về kiến thức; các tiêu chí về kỹ năng; các tiêu chí về phẩm chất chính trị, đạo đức; tiêu chí về sức khỏe; tiêu chí về hiệu quả công việc được thể hiện cụ thể như sau: a. Các tiêu chí về kiến thức - Trình độ học vấn: Là nền tảng cho nhận thức, tiếp thu đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng chủ trương, chính sách trong thực tiễn. 11 - Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Được hiểu là trình độ được đào tạo ở các lĩnh vực khác nhau theo cấp độ: Sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học. Đó là những kiến thức mà nhà trường trang bị cho người học theo các chuyên ngành nhất định được thể hiện qua hệ thống bằng cấp.
Chính quyền cấp xã là nơi trực tiếp thực hiện mọi hoạt động quản lý, giải quyết mọi tình huống phát sinh trên thực tế; nếu đội ngũ cán bộ công chức xã không có chuyên môn, nghiệp vụ, chỉ làm theo kinh nghiệm hoặc giải quyết mang tính chắp vá, tùy tiện chắc chắn hiệu quả sẽ không cao thậm chí còn mắc sai phạm nghiêm trọng vì vậy đay là điều kiện tiên quyết trong thực hiện các nhiệm vụ và tạo ra sản phẩm công việc. - Trình độ quản lý hành chính nhà nước: Quản lý nhà nước là sự tác động mang tính tổ chức lên các quan hệ xã hội, đó là thủ pháp mà nhà quản lý sử dụng trong phạm vi quyền hạn, nhiệm vụ của mình để giải quyết các vụ việc cụ thể đặt ra. Hoạt động quản lý vừa được coi là một khoa học, vừa là nghệ thuật. Để thực hiện được các hoạt động này, đòi hỏi đội ngũ cán bộ công chức xã cần phải được đào tạo, bồi dưỡng những kiến thức cơ bản về quản lý nhà nước thì mới có được những kỹ năng, phương pháp thực hiện nhiệm vụ được giao.
- Về lý luận chính trị: Là mức độ hiểu biết về chính trị của người cán bộ, công chức. Hiện nay, trình độ chính trị của người cán bộ, công chức được đánh giá theo 3 mức độ: Sơ cấp, trung cấp, cao cấp. Trình độ chính trị là cơ sở để tạo nên phẩm chất chính trị của người cán bộ. Không có trình độ chính trị nhất định thì người cán bộ không thể có giác ngộ lý tưởng cộng sản, có bản lĩnh chính trị vững vàng.
Các tiêu chí về kỹ năng Là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế, kỹ năng công việc bao giờ cũng gắn với một hoạt động cụ thể ở một lĩnh vực cụ thể như kỹ năng ra quyết định, kỹ năng phối hợp, kỹ năng soạn thảo văn bản.Đây là sản phẩm của quá trình tư duy kết hợp với việc tích lũy kinh nghiệm thông qua đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện, công tác. Kỹ năng nghề nghiệp là tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng cán bộ, công chức khi thực thi nhiệm vụ, cán bộ công chức cần có những kỹ năng nhất định để thực thi nhiệm vụ. Tuy nhiên, có những kỹ năng cần thiết cho mọi cán bộ công chức và có những kỹ năng không thể thiếu đối với một nhóm cán bộ công chức nhất định phụ thuộc vào tính chất công việc mà họ đảm nhận.