CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC 1. Nguyên tắc quản lý cây xanh đô thị Việc quản lý cây xanh đô thị phải đảm bảo các nguyên tắc quy định tại điều 3 Nghị định 64/2010/NĐ-CP về quản lý cây xanh được quy định như sau: 1. Chính phủ thống nhất quản lý cây xanh đô thị, có phân công, phân cấp trách nhiệm theo quy định của pháp luật. Nhà nước có trách nhiệm đầu tư, phát triển cây xanh sử dụng công cộng đô thị nhằm mục đích phục vụ lợi ích cộng đồng.
Nhà nước khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức, cá nhân tham gia quy hoạch; trồng, chăm sóc, ươm cây, bảo vệ quản lý cây xanh đô thị. Việc quản lý, phát triển cây xanh đô thị phải tuân thủ quy hoạch đô thị, quy chuẩn kỹ thuật đồng thời góp phần tạo cảnh quan, bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học. Khi triển khai xây dựng khu đô thị mới, chủ đầu tư phải đảm bảo quỹ đất cây xanh; cây xanh được trồng phải đúng chủng loại, tiêu chuẩn cây trồng theo quy hoạch chi tiết khu đô thị mới đã được phê duyệt đồng thời phải có trách nhiệm chăm sóc và bảo vệ cây xanh đến khi bàn giao cho cơ quan quản lý theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Khi xây dựng mới đường đô thị phải trồng cây xanh đồng bộ với việc xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật.
Khi cải tạo, nâng cấp đường đô thị, các công trình đường ống kỹ thuật hoặc khi tiến hành hạ ngầm các công trình đường dây, cáp nổi tại các đô thị có liên quan đến việc bảo vệ, chặt hạ, dịch chuyển, trồng mới cây xanh, chủ đầu tư phải thông báo cho cơ quan quản lý cây xanh trên địa bàn biết để giám sát thực hiện. Việc chặt hạ, dịch chuyển cây xanh đô thị phải tuân thủ theo Điều 14 của Nghị định này. SVTH: Nguyễn Thị Vân GVHD:ThS.Vương Phan Liên Trang 7 Quản lý cây xanh đô thị quận Đồ Sơn, Hải Phòng hướng tới đô thị sinh thái 1. Quy định quản lý cây xanh đô thị Theo Nghị định 64/2010/NĐ-CP về quản lý cây xanh quy định cụ thể: Điều 15.
Đối với cây xanh sử dụng công cộng trong đô thị 1. Đối với cây xanh trên đường phố a) Cây bóng mát trồng trên đường phố phải đảm bảo các quy chuẩn kỹ thuật và khoảng cách cây trồng, chiều cao, đường kính cây; b) Việc lựa chọn các hình thức bố trí cây, loại cây trồng trên đường phố phải phù hợp với từng loại đường phố, đặc thù của mỗi đô thị và phải bảo đảm an toàn cho người và phương tiện tham gia giao thông. Tại các đảo giao thông việc bố trí các loại cây xanh phải tuân thủ các quy định về bảo đảm an toàn giao thông; c) Cây xanh được trồng dưới đường dây điện phải đảm bảo hành lang an toàn lưới điện theo quy định của pháp luật về điện lực; d) Trên các tuyến đường phố đô thị cây bóng mát phải được đánh số cây để lập hồ sơ quản lý cây và định kỳ kiểm tra theo quy trình kỹ thuật quy định; đ) Trồng cây xanh không che khuất biển báo hiệu đường bộ và đèn tín hiệu giao thông. Đối với cây xanh trong công viên - vườn hoa, quảng trường và các khu vực công cộng khác của đô thị.
a) Cây xanh trồng trong công viên, vườn hoa, quảng trường, ven hồ nước, hai bên bờ sông và các khu vực công cộng khác của đô thị phải tuân thủ quy hoạch chi tiết cây xanh, công viên - vườn hoa hoặc quy hoạch chi tiết đô thị được cấp có thẩm quyền phê duyệt; b) Việc trồng, chăm sóc, bảo vệ dịch chuyển, chặt hạ cây xanh phải tuân thủ các quy định tại Điều 11, Điều 13 và Điều 14 của Nghị định này. Cây xanh sử dụng công cộng đô thị phải được đầu tư phát triển theo kế hoạch hàng năm của đô thị. Đối với cây xanh sử dụng hạn chế trong đô thị 1. Các tổ chức và cá nhân chịu trách nhiệm trong việc trồng, chăm sóc, bảo vệ cây xanh trong khuôn viên do mình quản lý.
Việc chặt hạ, dịch chuyển cây xanh phải thực hiện theo quy định tại điểm a, điểm đ của khoản 2; khoản 4; điểm a, điểm c, điểm d của khoản 7 Điều 14 của Nghị định này. SVTH: Nguyễn Thị Vân GVHD:ThS.Vương Phan Liên Trang 8 Quản lý cây xanh đô thị quận Đồ Sơn, Hải Phòng hướng tới đô thị sinh thái 3. Việc trồng cây trang trí, cây cảnh, cây hoa trên các ban công, sân thượng phải bảo đảm an toàn, vệ sinh môi trường và mỹ quan đô thị. Đối với cây được bảo tồn trong đô thị 1.
Các loại cây được bảo tồn phải thống kê về số lượng, chất lượng, đánh số cây, treo biển tên, lập hồ sơ, đồng thời phải có chế độ chăm sóc đặc biệt và bảo vệ cho từng cây để phục vụ công tác bảo tồn. Ủy ban nhân dân theo phân cấp quản lý ban hành danh mục cây cần được bảo tồn trên địa bàn do mình quản lý. Đối với cây nguy hiểm trong đô thị 1. Cây nguy hiểm trong đô thị phải có biện pháp bảo vệ và có kế hoạch chặt hạ, dịch chuyển kịp thời.
Cây trồng mới phải bảo đảm theo quy định tại Điều 11 của Nghị định này. Đơn vị thực hiện dịch vụ về quản lý cây xanh có trách nhiệm lập hồ sơ theo dõi tình trạng phát triển của cây; lập kế hoạch chặt hạ, dịch chuyển cây trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt đồng thời tổ chức triển khai thực hiện. Một số quan điểm về quản lý cây xanh đô thị a. Quan điểm hệ thống xã hội – hệ sinh thái cây xanh đô thị Bản chất của xã hội và sinh thái tự nhiên của rừng cây xanh đô thị là một hệ thống (SES- Hệ thống xã hội- sinh thái); trong đó các hệ thống sinh thái (hệ thống phụ thuộc lẫn nhau của các sinh vật và các đơn vị sinh học) có một mối quan hệ với các hệ thống con người (xã hội).
Hệ thống xã hội- sinh thái được cấu tạo từ nhiều hệ thống con và các biến nội bộ trong những hệ thống con ở nhiều cấp độ. Khi các hệ thống xã hội và sinh thái được liên kết, nó trở nên phức tạp và có nhiều lớp, bao gồm: Hệ thống tài nguyên (RS- Resource system), đơn vị tài nguyên (RU- Resource), người sử dụng (U- Users), và hệ thống thể chế quản lý (GS- Governance system). Mô hình này cung cấp lý thuyết cơ bản cho việc ứng dụng vào các nghiên cứu thứ cấp có liên quan. SVTH: Nguyễn Thị Vân GVHD:ThS.Vương Phan Liên Trang 9 Quản lý cây xanh đô thị quận Đồ Sơn, Hải Phòng hướng tới đô thị sinh thái Sơ đồ 1.
Sơ đồ khung chương trình cho việc phân tích hệ thống xã hội- sinh thái học Trong nghiên cứu về quản lý cây xanh đô thị, cơ chế quản lý, hệ thống pháp lý, các chính sách đóng vai trò nòng cốt cho việc phát triển hệ thống cây xanh đô thị. Đồng thời, ứng dụng quan điểm này ta có thể thấy mối quan hệ tương tác giữa cơ chế quản lý và người sử dụng, đây cũng là tiền đề cho việc xã hội hoá trong công tác quản lý cây xanh đô thị được ứng dụng tại các đô thị hiện đại. Quan điểm cây xanh đô thị là nguồn tài nguyên dùng chung Năm 1968, Garrett Hardin đã đưa ra thuật ngữ về nguồn tài nguyên dùng chung (CPRs- Common Pool Resource) vì những lợi ích của chúng cho cả cộng đồng dân cư chứ không phải riêng cá nhân nào. Ví dụ, cây xanh hấp thụ lượng khí nhà kính mang lại ích lợi cho tất cả cư dân trong thành phố mà không chỉ riêng những người sống và sở hữu những cây trồng.
Đặc biệt, với những vai trò và vị trí của mình, cây xanh đường phố nói riêng được coi là một nguồn yền tài nguyên quan trọng và là một tài nguyên dùng chung và chúng cũng có tính cạnh tranh tốt. Tính cạnh tranh này trong bối cảnh đô thị là kết quả của sự cạnh tranh sử dụng các không gian cây xanh và cạnh tranh ưu đãi về các cây xanh đường phố. Sự gia tăng sử dụng vỉa hè hoặc sự phát triển các công trình xây dựng dẫn đến tính cạnh tranh với các không gian mà cây cần để phát triển. Hơn nữa, các hoạt động của con người trên vỉa hè là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến việc loại bỏ các cây xanh đường phố.
Cây xanh cũng được đề cập liên quan đến việc đáp ứng với vấn đề an SVTH: Nguyễn Thị Vân GVHD:ThS.Vương Phan Liên Trang 10 Quản lý cây xanh đô thị quận Đồ Sơn, Hải Phòng hướng tới đô thị sinh thái toàn công cộng hoặc khi chúng can thiệp vào các tiện ích công cộng – là những giá trị mang tính xã hội và kinh tế. Từ đó, chúng ta nhận ra tính bền vững từ giá trị cây xanh đô thị. Đây là nguyên nhân dẫn tới quan điểm phát triển bền vững trong quản lý cây xanh đô thị. Quản lý cây xanh đô thị là một lĩnh vực hoạt động phức hợp, liên quan đến rất nhiều các đối tượng và ngành nghề khác nhau trong đô thị; và đòi hỏi sự hợp tác biện chứng nhiều tầng thứ giữa các bên nhằm đem lại lợi ích tối đa cho người dân đô thị.
Quản lý cây xanh đô thị bền vững đảm bảo sự cân bằng các yếu tố về xã hội, kinh tế và môi trường, góp phần duy trì sự cân bằng sinh thái đô thị thích ứng với những điều kiện mới; trong đó, con người là một thành tố quan trọng. Phát triển đa dạng hệ sinh thái đô thị bằng việc sử dụng nhiều loài cây có giá trị thẩm mỹ, đa dạng về hình thái và chủng loại giúp thu hút các loài động vật liên quan; nhưng công tác lựa chọn cây đô thị vẫn cần đảm bảo ưu tiên sử dụng các loài cây bản địa hoặc những loài cây đã được thử nghiệm cho kết quả tốt trong thời gian dài. Quản lý cây xanh đô thị là trách nhiệm của cộng đồng. Việc thể chế quản lý xã hội hóa, tổng hợp nhiều bên tham gia để tạo ra một sức lan tỏa cộng đồng trong việc quản lý nguồn lợi ích chung (đồng thời cũng là nguồn rủi ro chung) của nguồn tài nguyên dùng chung này.
Bên cạnh đó, việc phân cấp phân quyền theo phương thức xã hội hóa góp phần đảm bảo công tác quản lý cây xanh đô thị một cách toàn diện. Ý nghĩa và vai trò của cây xanh a.