Đặt vấn đề 0 nhiễm không khí đô thị (UAP) là một trong những nỗi lo lắng trên toàn thế giới ở cả các nước phát triển và đang phát triển. Sự gia tăng dân số đô thị và lưu lượng giao thông cơ giới tăng lên ở các thành phố đã dẫn đến ô nhiễm không khí bị ảnh hưởng nghiêm trọng, liên quan đến môi trường xung quanh cũng như về sức khỏe cùa con người.To chức Y tế Thế giới (WHO) đã cho biết rằng ở các khu vực phát triển cao, tình trạng UAP tăng nhanh đã dần đến hơn 2 triệu ca tử vong mồi năm cùng với nhiều trường họp bệnh hô hấp khác nhau [1-3]. Việt Nam là một nước đang phát triển cùng với quá trình đô thị hoá đang diễn ra nhanh chóng ở Việt Nam , đặc biệt là Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh (Tp. Thành phố Ho Chí Minh, nằm ở miền Nam Việt Nam, là thành phố lớn nhất và với dân số năm 2019 là 8,993 triệu người (9% tổng dân số Việt Nam).
Tuy diện tích của thành phố chỉ chiếm 0,6% cả nước (2095,5 km2) nhưng tong GDP đóng góp tới 30% cả nước. Do tốc độ phát trien kinh tế nhanh nên TP.HCM đang chịu tác động của một kịch bản ô nhiễm phức tạp, đặc biệt là ô nhiễm không khí. Do sự phát triển không gian đô thị nhanh hơn sự phát triến hạ tầng kĩ thuật đô thị, lưu lượng xe lưu thông tăng nhanh hơn cơ sở hạ tầng giao thông, các hệ quả về ô nhiễm môi trường không khí luôn ở mức báo động [4] cũng không thể tránh khỏi tình trạng ô nhiễm không khí [5, 6]. Mặc dù nhiều quốc gia đã phát triển mạng lưới quan trắc không khí, bao gom cả quan trắc PM2.5 bằng thiết bị và phương pháp đo tiêu chuẩn, nhưng việc đo PM2.5 thường xuyên hiếm khi được Chính phủ Việt Nam tiến hành.
Dừ liệu đáng tin cậy nhất về mức PM2.5 là từ Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội và Lành sự quán tại Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), áp dụng các công cụ theo dõi suy giảm beta (BAM), theo đó nồng độ trung bình hàng năm của PM2.5 ở Hà Nội và TP.HCM năm 2016 lần lượt là 50,5 và 42 pg/m3.5 ở Việt Nam cao hơn đáng kể so với các thành phố khác ở Châu Âu và Hoa Kỳ [7-9] ngụ ý rằng dân số Việt Nam đang hít thở không khí với mức độ ô nhiễm cao. Các nghiên cứu dịch tễ học gần đây đã cho thấy ảnh hưởng của nhiệt độ ô nhiễm không khí đen các ca nhập viện về hô hấp và tim mạch ở TP. Với tình trạng không khí trong đô thị ngày càng bị ô nhiềm, thành phố thành phố Ho Chí Minh- Viết Nam và trên the giới đã đề nhiều biện pháp: thứ nhất là quản lý giảm thiểu các nguồn phát thải (CO,SO2, CH4, HCHO, các hạt bụi) từ các phương tiện giao thông [13- 15]; thứ hai là xử lý lượng khí thải của các khu công nghiệp trước khi phát tán ra bên ngoài [16, 17]; thứ bà là giảm bụi từ các công trình xây dựng trong thành phố; thứ tư là giải pháp được Việt Nam và nhiều nước trên thế giới thực hiện nghiên cứu là xây dựng các ngôi nhà xanh và các mái nhà xanh trong thành phố [18-20]. Việc lựa chọn các giải pháp thích họp và tối ưu nhất giúp giảm tình trạng ô nhiễm không khí ở khu vực đô thị trên thế giới nói chung và ở Tp.HCM nói riêng thì việc thực hiện việc đánh giá phát 1 triển các đô thị xanh (các công viên xanh) [21] luôn là định hướng kinh tết và tối ưu nhất mà các nước trên thế giới đang thực hiện cho thành phố của mình để giảm bớt tình trạng ô nhiễm không khí đang được báo động như hiện nay [22-24].
Với vấn đề phát triển đô thị, Singapore thường được làm hình mẫu để các đô thị Việt Nam hướng đến và tham khảo. Tuy nhiên, ở Singapore khoảng cách mà mồi người dân được hưởng là khoảng 8 m2 còn đối với người dân của TP. Ho Chí Minh chỉ với 0.55 m2 và diện tích cây xanh được tính theo dân số ở TP. Hồ Chí Minh dường như chỉ bằng 1/16 so với Singapore[25].
Theo quy hoạch, diện tích đất dành cho công viên cây xanh của TP. Ho Chí Minh là hơn 11.400ha [26], tương ứng mồi người dân được hưởng khoảng 7 m2 đất ở công viên. Theo như thực tế thì toàn bộ diện tích công viên của thành phố chỉ ở khoảng 500 ha, tương ứng mồi người chỉ được hưởng 0,55 m2. Điều đáng được quan tâm nhiều hơn là các quận nội thành ở thành phố có diện tích của một số công viên như công viên (Tao Đàn, Gia Định, Hoàng Văn Thụ, Lê Thị Riêng) diện tích lại lớn hơn so với các quận, huyện ngoại thành.
Theo như số liệu thống kê lịch sử cùa các công viên lớn như công viên Tao Đàn và công viên Hoàng Văn thụ năm 1975 là 106.500m2 đen nay diện tích còn khoảng 81. Đặt biệt là công viên Gia định, năm 1975 là 58 ha đến năm 2005 là 32 ha mất đi gần 26 ha. Tuy vậy thành phố còn định cắt thêm 2 ha làm dự án nối đường sân bay nhưng người dân không đồng ý [27]. Theo thống kê cho biết tại các quận huyện lớn ở thành phố Hồ Chí Minh như Quận 12, Quận Bình Tân, Huyện Nhà Bè, Huyện Hóc Môn, Huyện Củ Chi, Huyện Bình Chánh và TP.Thủ Đức hầu như đều chưa có công viên công cộng có diện tích lớn đe người dân vui chơi hay thư giãn vào những dịp lề hay cuối tuần.
Như vậy hiện TP.HCM đã cho thấy được tầm quan trọng của mảng xanh trong khu đô thị những khó khăn đang gặp phải là mảng xanh trong thành phố hiện đang dần bị thu hẹp cần phải bảo vệ và tăng trưởng và gia tăng màng xanh trong thành phố. Do đó, đề tài hướng đen tìm hiếu hiện trạng nhận thức và sự quan tâm của người dân về lợi ích của mảng xanh đô thị. Đong thời, xác lập các cơ sở dừ liệu khoa học tác động của mảng xanh đô thị theo tầng đến chất lượng không khí trong đô thị tại TP.HCM ở hai công viên dien hình Tao Đàn và Gia Định. Các dữ liệu sẽ góp phần làm tư liệu quan trọng cho các nghiên cứu khác về phát triển các giải pháp nâng cao môi trường chất lượng không khí trong khu đô thị.
Các nhà quy hoạch cũng có thêm thông tin đe mở rộng mảng xanh đô thị và phát triến các dịch vụ sinh thải tại công viên đô thị. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu chung Đánh giá ảnh hưởng của mảng xanh công viên đến chất lượng không khí và sự quan tâm của người dân đoi với mảng xanh công viên. Mục tiêu cụ thể 1. Thực hiện thu thập chất lượng không khí theo các chỉ tiêu ở bên trong và bên ngoài 2 công viên Tao Đàn và Gia Định 2.
Đánh giá sự tác động của các tầng mảng xanh công viên đen chất lượng không khí đô thị. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu Công viên Tao Đàn và công viên Gia định ở TP. Thòi gian thực hiện đề tài Từ tháng 2/2021 đến hết tháng 10/2021. Nội dung nghiên cứu 1.
Thực hiện đo lường chất lượng không khí bên trong và bên ngoài công viên 2. Đánh giá chất lượng không khí theo không gian và thời gian ở công viên Tao Đàn và công viên Gia Định trong đô thị Thành Phố Hồ Chí Minh 2. Phương pháp nghiên cứu - Với mục tiêu ke thừa từ các nghiên cứu tài liệu của các bài báo, chuyên đề, tạp chí, báo cáo khoa học, internet, thông tin thong kê, luận văn, luận án, thông tư, nghị định về chỉ so chất lương không khí. - Phương pháp khảo sát trực tiếp - Phương pháp thống kê số liệu, đối tượng nghiên cứu 3.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn a) Nhằm hướng đến một bài tiểu luận mới trong việc đánh giá tong hợp các chỉ so chất lượng môi trường có trong không khí, bao gom các yếu tố cây xanh các chỉ tiêu có trong không khí và những biện pháp góp phần khắc phục tình trạng ô nhiễm. b) Trao doi nhừng kiến thức có trong thiết kế các trung tâm cải thiện tăng diện tích mảng xanh, trồng thêm cây xanh, tăng cường loại bô các chỉ số ô nhiềm có trong không khí giúp cho sức đề kháng của người dân ngày một tốt hơn. c) Thực hiện các chương trình , phương pháp giải quyết các bài toán thực tiền đối với tình trạng không khí bị ô nhiềm như: Đánh giá tác động môi trường, qui hoạch môi 3 trường, qui hoạch mạng lưới điếm quan trắc, cảnh báo ô nhiễm và quản lý chất lượng không khí có trong công viên trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và mở rộng thêm cho các tỉnh lân cận trên phạm vi cả nước. TÓNG QUAN NGHIÊN cứu 1.
Một Số Khái Niệm về Không Khí 1. Khái niệm không khí Không khí là lượng chất khí luôn có ở mọi nơi xung quanh chúng ta. Không khí là một trong những yếu tố quan trọng và quyết định sự sống của con người và toàn bộ sinh vật sinh sống trên trái đất. Không khí hầu như không màu, không mùi và không có vị.
Đe giúp con người và các sinh vật sống trên trái đất có thể phát triển và hô hấp tốt thì nhờ vào một lượng khí có trong không khí. Không khí có the được xem như là một khu rừng nhỏ có ở trong phòng, rộng hơn nữa được xem như là một thành phố có sự sống. Không khí là thành phần chủ yếu hầu như có ở toàn bộ bề mặt trái đất, bán kính có độ dày từ 10- 15 km và là ở bất kì nơi đâu thì thành phần chất lượng không khí cũng sẽ thay đôi. Một ví vụ nhỏ về không khí, điều gì sẽ xảy ra nếu nhưng bạn tạm ngưng tiếp nhận lượng khí trong ba phút, đừng làm theo vì đó sẽ làm bạn chết đi vì thiếu lượng oxi đê thở.
Thành phần của không khí Trong môi trường không khí tồn tại ở ba dạng: thứ nhất là cố định, thứ hai là không cố định và cuối cùng là các thành phần có the thay đối được. Argon Thành phần khác N tơ Hình 1. Biếu đồ thành phần trong không khí. Nguồn:[28] Thành phần cố định 5 Đây được xem là thành phần chính cùa không khí, bao gồm các chất khí cố định như nito chiếm gan 78,1%; Oxy chiếm 20,95% và khí trơ chiếm 0,93%.
Với mục đích tạo nên thành phần cố định co 1 trong khí quyển, các chất trên liên kết với các vi lượng khí hiếm như là Ne, Kr, Heli.