CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG MẦM NON THEO CHUẨN HIỆU TRƯỞNG 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề Quản lý đội ngũ CBQL là một nhiệm vụ cơ bản của các cấp quản lý giáo dục trực tiếp là Phòng GD&ĐT đến Sở GD&ĐT và Bộ GD&ĐT. Trong những năm gần đây ngành giáo dục và đào tạo đang thực hiện đổi mới quản lý về mọi mặt, trong đó việc quản lý đội ngũ được chuyển từ quản lý truyền thống sang quản lý theo chuẩn như Chuẩn đối nghề nghiệp đối với giáo viên, Chuẩn Hiệu trưởng đối với từng cấp học. Quá trình kiểm định chất lượng đối với Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng trường Mầm non được thực hiện theo Thông tư 17/2011/TT-BGDĐT ngày 14/4/2011của Bộ GD&ĐT ban hành quy định Chuẩn Hiệu trưởng trường mầm non và công văn số 630/BGDĐT-NGCBQLGD ngày 16/02/2012 của Bộ GD&ĐT về việc hướng dẫn đánh giá, xếp loại Phó hiệu trưởng các trường MN, Phổ thông, Trung tâm giáo dục trường xuyên.
Trong lĩnh vực QLGD ở Việt Nam về ngành học MN những năm gần đây đã được các cấp, các ngành quan tâm và có nhiều đề tài khoa học cấp Bộ, cấp Nhà nước tập trung nghiên cứu xung quanh những vấn đề như: xây dựng mục tiêu đào tạo GDMN, xây dựng nội dung chăm sóc giáo dục trẻ theo từng độ tuổi…Việc nghiên cứu riêng về CBQL trường học ở một chừng mực nào đó, vấn đề này đã được đề cập đến trong một số tài liệu như: “Tài liệu bồi dưỡng Hiệu trưởng Mẫu giáo” (Bộ GD&ĐT ban hành năm 1989) [3], “Một số vấn đề quản lý trường mầm non” của Đinh Văn Vang (Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Sư phạm, Hà Nội 1996) [40], “Những biện pháp nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ của trường mầm non” (Nguyễn Thị Châu, Trường Cao đẳng sư phạm nhà trẻ Mẫu giáo Trung ương I, năm 2000) [17], “Một số biểu hiện năng lực tổ chức của người Hiệu trưởng trường Mầm non Hà Nội” (Nguyễn Thị Lộc, Đại học Sư phạm I, Hà Nội 1995-1997) [26], “Tài liệu bồi dưỡng cán bộ quản lý ngành học Mầm non” (Bộ giáo dục và đào tạo, Trường cán bộ quản lý GD&ĐT, Hà Nội 2000) [4]. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Từ khi có Chuẩn Hiệu trưởng trường mầm non đã có một số nghiên cứu về phát triển, bồi dưỡng đội ngũ Hiệu trưởng, CBQL trường mầm non theo Chuẩn như: luận văn Thạc sỹ của tác giả Đỗ Thị Lan Hương về “Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường mầm non thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội theo hướng chuẩn hóa”, luận văn Thạc sĩ về “Một số giải pháp phát triển đội ngũ CBQL trường mầm non huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp”… Tuy vậy chưa có nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề Quản lý đội ngũ CBQL trường mầm non theo Chuẩn Hiệu trưởng. Do đó tác giả chọn nghiên cứu vấn đề tìm hiểu thực trạng quản lý CBQL trường mầm non để từ đó đề xuất biện pháp quản lý đội CBQL trường mầm non của huyện theo Chuẩn Hiệu trưởng nhằm cải tiến công tác quản lý và góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL trường MN trên địa bàn huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh. Một số khái niệm và quan niệm cơ bản 1.
Khái niệm và chức năng quản lý 1. Khái niệm quản lý Sự tiến hóa của các tư tưởng quản lý từ thời tiền sử cho đến khi loài người bước vào một xã hội công nghiệp đã hình thành nên các lý thuyết về khoa học quản lý cổ điển. Các học thuyết quản lý cổ điển hiện nay vẫn đang tồn tại với ý nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn rất lớn. Đó là thuyết quản lý khoa học của Frederick Winslow TayLor “cha đẻ của thuyết quản lý khoa học” xây dựng một khoa học về quản lý dựa trên bốn nguyên tắc quản lý.
Việc vận dụng được thể hiện trong việc hợp lý lao động được áp dụng rộng rãi, mang lại hiệu quả cao, việc bồi dưỡng trình độ chuyên môn nghiệp vụ giúp thuộc cấp hoàn thành nhiệm vụ của họ, việc tuyển chọn và huấn luyện đội ngũ là yếu tố quyết định thành công trong quản lý. Đó là thuyết quản lý tổng quát hay thuyết quản trị của Henry Fayol (1841-1925) với định nghĩa “quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” đây là học thuyết quản lý có những đóng góp to lớn vào sự phát triển của lý 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com luận quản lý. Quản lý bàn giấy là một hệ thống dựa trên các quy tắc, luật lệ, các thứ bậc, sự phân công lao động rõ ràng và các thủ tục khắt khe; lợi ích khi vận dụng thuyết này vào thực tiễn quản lý là tính hiệu quả và tính nhất quán chặt chẽ. Thập kỷ 20 đến 30 của thế kỷ XX, một trào lưu, một học thuyết quản lý đã ra đời đó là quan điểm hành vi.
Người đại diện cho thuyết hành vi là Marry Parker Follett. Thuyết quản lý hành vi giúp cho người quản lý ứng xử có hiệu quả khi giải quyết những vấn đề nảy sinh trong tổ chức, những người quản lý xây dựng mối quan hệ làm việc tốt đẹp với người thuộc cấp [dẫn theo 19]. Theo quan điểm của Đặng Quốc Bảo: Quản lý được hiểu một cách đơn giản trên cơ sở chiết tự các thành tố cấu thành khái niệm này. Cụ thể: “Quản” là sự coi sóc giữ gìn duy trì hệ ở trạng thái ổn định, “lý” là sự sửa sang sắp xếp đổi mới.
Quản lý là duy trì ổn định và đổi mới. Đặc biệt, luôn có sự thống nhất biện chứng giữa quản và lý: trong quản (giữ) có lý (chỉnh sửa), trong lý (chỉnh sửa) có quản (giữ) [1]. Theo Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc giới thiệu định nghĩa kinh điển về quản lý là: “Hoạt động quản lý là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (ngưởi quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [18]. Từ những ý chung của các khái niệm và xét quản lý với tư cách là một hoạt động có thể lấy định nghĩa quản lý mà hai tác giả Nguyễn Quốc Chí – Nguyễn Thị Mỹ Lộc giới thiệu làm căn cứ nghiên cứu: “Quản lý là quá trình đạt được mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [18].
Hoạt động quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội do đó hoạt đông quản lý là những động tác phối hợp nỗ lực của mỗi cá nhân để nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức; Quản lý là sự tác động mang tính chủ quan nhưng lại phù hợp với quy luật khách quan. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Chức năng quản lý Quản lý phải thực hiện các chức năng khác nhau, mỗi chức năng có tính độc lập tương đối nhưng chúng được liên kết hữu cơ trong một hệ thống nhất. Quản lý có các chức năng cơ bản cụ thể như sau: a.
Kế hoạch hóa: là chức năng cơ bản nhất trong số các chức năng quản lý bao gồm: Dự báo, xác định mục tiêu, trong một thời gian nhất định của hệ thống quản lý. Thực hiện chức năng kế hoạch hóa tạo ra tầm nhìn chiến lược cho các nhà quản lý, giúp cho việc phát triển và lựa chon chính xác các chương trình hành động phù hợp với các nguồn lực của hệ thống. Đồng thời chức năng kế hoạch hóa lạ căn cứ để hình thành và thức hiện các chức năng khác nhau như: Chỉ đạo, tổ chức, kiểm tra. Tổ chức: là xác định một cơ cấu nhất định vế vai trò nhiệm vụ hay chức vụ hay chức vụ được hợp thức hóa , thực chất nó là sự tổ chức công việc, sắp xếp con người nó chính là sự kết hợp, liên kết những bộ phận riêng rẽ thành một hệ thống, hoạt động nhịp nhàng như một cơ thể thống nhất.
Nội dung của chức năng tổ chức là việc thiết lập bộ máy quản lý, trong đó gồm 2 tiến trình cơ bản đó là: sự phân chia và sự phối hợp. Sự phân chia bao gồm: phân chia mục tiêu từ mục tiêu cơ bản thành các mục tiêu cụ thể cho từng bộ phận, cá nhân; phân chia chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, phân chia thành từng cấp, từng khâu quản lý. Sự phối hợp là tạo lập các mối quan hệ giữa các bộ phận đã được phân chia bao gồm quan hệ phối hợp ngang quyền; quan hệ cấp trên, cấp dưới. Sự phối hợp là cơ sở hình thành cơ chế vận hành tổ chức bộ máy và vận hành cả hệ thống.
Lãnh đạo, chỉ đạo Chỉ đạo là huy động lực lượng vào việc thực hiện kế hoạch và điều hành mọi việc nhằm đảm bảo cho bộ máy vận hành thuận lợi. Chỉ đạo là tổ chức một cách khoa học lao động của cả tập thể người cũng như từng người để biến mục tiêu dự kiến thành kết quả, biến kế hoạch thành hiện thực. Nội dung của việc chỉ đạo là điều hành công việc, động viên khuyến khích, giám sát tiến hành, đánh giá hoạt động và điều chỉnh, uốn nắn các sai lệch nảy sinh trong quá trình hoạt động của hệ thống. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Kiểm tra Kiểm tra là một chức năng có liên quan đến mọi cấp quản lý để đánh giá đúng kết quả hoạt động của hệ thống, đo lường các sai lệch nảy sinh trong quá trình hoạt động so với mục tiêu và kế hoạch đã định, nhằm kịp thời điều chỉnh sai sót và đưa ra những quyết định để điều chỉnh nhằm đạt được mục tiêu đã xác định. Đây là chức năng cơ bản. Kiểm tra là tai mắt của quản lý, vì vậy cần tiến hành thường xuyên và kết hợp linh hoạt nhiều hình thức kiểm tra. Kiểm tra giúp cho việc thu nhận mối liên hệ ngược trong quá trình quản lý.
Nó giúp cho chủ thể quản lý điều khiển một cách tối ưu hệ quản lý. Các chức năng trên được thực hiện nối tiếp nhau, đan xen vào nhau, phối hợp bổ sung tạo sự kết nối theo hướng phát triển tạo thành một chu trình quản lý mà trong đó yếu tố thông tin luôn có mặt trong tất cả các giai đoạn, nó vừa là điều kiện vừa là phương tiện không thể thiếu được trong quá trình ra quyết định quản lý.