phần mở đầu, kết luận, một số kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu 2 chương 6 tiết. Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ BỒI DƢỠNG NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY INVESCO 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Bồi dưỡng nguồn nhân lực Theo Từ điển bách khoa toàn thư năm 1995: Bồi dưỡng là quá trình cập nhật, bổ sung kiến thức, kỹ năng, thái độ nhằm nâng cao năng lực trình độ nghề nghiệp.
Theo Tổ chức UNESCO định nghĩa: "Bồi dưỡng với ý nghĩa nâng cao nghề nghiệp. Quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hoặc kỹ năng, chuyên môn của bản thân nhằm đáp ứng nhu cầu lao động nghề nghiệp” Khái niệm nguồn nhân lực có liên quan chặt chẽ với các khái niệm con người, yếu tố con người, nhân tố con người. Các khái niệm này có cùng mục đích là nghiên cứu về con người, có nội dung liên quan với nhau nhưng không đồng nhất. Tuỳ mục đích, phạm vi nghiên cứu và mối quan hệ xác định mà người ta sử dụng các khái niệm đó một cách phù hợp nhằm thể hiện rõ các phương diện khác nhau của con người và vai trò của con người với sự phát triển xã hội.
Để hiểu rõ khái niệm nguồn nhân lực, cần thiết phải tìm hiểu các khái niệm con người, yếu tố con người, nhân tố con người. Con người là víi t- c¸ch lµ tét ®Ønh tiÕn ho¸ cña thÕ giíi sinh vËt, thực thể sinh vật, thực thể xã hội có ý thức, có ngôn ngữ, là chủ thể của hoạt động lịch sử, hoạt động nhận thức, mang những đặc tính chung của các cá thể thuộc chủng loại người và có sự khác biệt Luan van so với con vật. Con người, đó là khái niệm bao gồm tổng hoà mặt tự nhiên và mặt xã hội, là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn. Yếu tố con người là muốn nói tới con người với tất cả các tiêu chí của nó đặt trong quan hệ với “yếu tố vật” của một quá trình phát triển.
Yếu tố con người bao gồm con người với tư cách là thành tố tự nhiên - vật chất và thành tố xã hội - tinh thần, đồng thời cả cơ cấu tổ chức xã hội của con người. Khi con người tham gia với tính cách là một “yếu tố người”, một điều kiện, tiềm năng cần phát huy tạo động lực phát triển cho một quá trình xã hội thì được coi là nguồn lực con người. Nhân tố con người là một khái niệm rộng, bao gồm những yếu tố, những tiêu chí nói lên vai trò của con người với tư cách là chủ thể của các quan hệ xã hội trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhân tố con người là cái cốt lõi, cái đặc trưng xã hội, thuộc tính xã hội giữ vị trí trung tâm trong tiềm năng của nguồn lực con người.
Nội dung của nhân tố con người đó là một chỉnh thể các giai cấp, tầng lớp xã hội liên kết với nhau chặt chẽ. Sự tác động qua lại giữa chúng và hoạt động của chúng bảo đảm cho sự phát triển tiến bộ của xã hội. Nội dung này phản ánh qua các tiêu chí về ý thức giai cấp, ý thức trách nhiệm trước cộng đồng, ý thức về nghĩa vụ và quyền lợi công dân Chỉ tiêu về số lượng, chất lượng nói lên khả năng của con người, của cộng đồng người như những khả năng tiềm tàng cần khai thác, bồi dưỡng và phát huy. Đó là các tiêu chí về số lượng lao động, tình hình sức khoẻ, trình độ học vấn, tuổi thọ, mức sống…Đó còn là những tiêu chí về nhân cách và chức năng xã hội của con người.
Những tiêu chí này nói lên khả năng sáng tạo của cá nhân trong hệ thống các quan hệ xã hội, bao gồm năng lực chuyên môn kĩ thuật được đào tạo lẫn thái độ lao động. Trong khi đó, khái niệm nguồn nhân lực ( Human resources, nguồn lực con người, nguồn lực cho lao động) chỉ thực sự mới xuất hiện khoảng vài chục năm gần đây. Từ năm 1990, UNDP lần đầu tiên đưa ra chỉ số phát triển con người để đánh giá sự phát triển (gọi là HDI). Chỉ số HDI bao gồm các yếu tố cơ bản : Tuổi thọ bình quân, thành tựu giáo dục và mức thu nhập.
Nội dung 3 yếu tố này hiện nay có được phát triển, chi tiết hơn nhưng về cơ bản vẫn giữ nguyên vị trí và ý nghĩa của nó trên cơ sở được chính xác hoá và chi tiết bằng các chỉ số khác. Chỉ số này cho phép các nước thấy được khoảng cách mà mình đã đạt được trên con đường tiến tới giá trị lý tưởng là 1. Khái niệm nguồn nhân lực có mặt trong hầu hết các lý thuyết kinh tế học, được coi là một thành tố cơ bản của nền sản xuất xã hội và gần như mọi quan điểm đều thừa nhận rằng khi nguồn lực này kết hợp với nguồn lực tự nhiên thì của cải xã hội xuất hiện và đó là cơ sở của phát triển xã hội, tiến bộ xã hội. Nguồn nhân lực là muốn nói tới tổng thể các yếu tố Luan van thuộc về con người và cộng đồng người, bao gồm số dân, cơ cấu số dân, chất lượng con người với tất cả đặc điểm và sức mạnh của nó đối với sự phát triển xã hội.
Nguồn nhân lực bao gồm tất cả các tiêu chí về con người và tổ chức, tiềm năng và sức mạnh về vật chất và tinh thần, có thể phát huy trong quá trình phát triển xã hội. Xã hội ngày càng phát triển thì khái niệm nguồn nhân lực cũng được bổ sung những tư tưởng mới. Người ta đã coi con người là một loại “vốn” đặc biệt, “vốn người” (human capital), là “lực lượng sản xuất hàng đầu”, là “nguồn lực cơ bản”, là “nguồn lực có khả năng tái sinh”, là “nguồn lực của mọi nguồn lực”… Gần đây, quan điểm phát triển con người được UNDP sử dụng lại có bước phát triển tiếp tục. Con người được quan niệm không chỉ là nguồn vốn, là “vốn” - những yếu tố đầu vào của sự phát triển, cho dù đó là những yếu tố quan trọng và có ý nghĩa quyết định mà con người còn là mục đích, mục tiêu, chiếm vị trí trung tâm trong suốt quá trình phát triển xã hội.
Chất lượng cuộc sống của con người, hạnh phúc của con người có thể được kiểm tra một cách khách quan như những sản phẩm “đầu ra” của sự phát triển. Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực. Theo Liên Hiệp quốc thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”. Ngân hàng thế giới cho rằng: Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp của mỗi cá nhân.
Tổ chức lao động quốc tế quan niệm: Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động. Nguồn nhân lực còn được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích luỹ được, có khả năng đem lại thu nhập trong tương lai (Beng, Fischer & Dornhusch, 1995). Nguồn nhân lực, theo Giáo sư Phạm Minh Hạc (2001), là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó. Nhìn chung, nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển.
Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường. Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực có khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động. Tuỳ thuộc vào môi trường kinh tế xã hội, nguồn nhân lực được thể hiện hết sức đa dạng. Muốn phát triển nguồn nhân lực (gia tăng thêm giá trị sử dụng con người) thì tất Luan van yếu phải quan tâm đến mục tiêu phát triển con người (gia tăng thêm về các giá trị đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ, thể lực…của con người).
Xét về thực chất, nguồn nhân lực và nhân tố con người không có gì khác nhau nhưng khái niệm nguồn nhân lực có nội dung xác định hơn khái niệm nhân tố con người. Khi nói đến nguồn nhân lực, người ta quan tâm xem xét con người trong mối quan hệ với tự nhiên. Cùng với nguồn lực tự nhiên và các nguồn lực khác, nguồn nhân lực được coi là yếu tố rất quan trọng của sự phát triển kinh tế xã hội. Trong thời đại ngày nay, con người được coi là một “tài nguyên đặc biệt”, nguồn lực của sự phát triển kinh tế xã hội.
Việc bồi dưỡng, phát triển con người, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển các nguồn lực. Đầu tư cho con người là đầu tư có tính chiến lược, là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển bền vững. Từ một số khái niệm trên có thể coi bồi dưỡng nguồn nhân lực tại công ty Invesco là cung cấp, bổ sung những kiến thức còn thiếu hoặc đã lạc hậu, cập nhật thêm những kiến thức mới liên quan đến nghiệp vụ chuyên môn, kỹ năng, kỹ xảo, phẩm chất, năng lực… nhằm nâng cao trình độ mọi mặt của cán bộ, nhân viên công ty để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự phát triển tổ chức. Bồi dưỡng nguồn nhân lực là một tất yếu khách quan.
Đối với tổ chức, bồi dưỡng nguồn nhân lực sẽ đảm bảo cho nguồn nhân lực có thể thích ứng và theo sát sự tiến hoá và phát triển của khoa học kĩ thuật và công nghệ, đảm bảo có lực lượng lao động giỏi, hoàn thành thắng lợi các mục tiêu, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi thế giới đang dần chuyển sang một phương thức sản xuất mới, nền kinh tế đã làm cho các tổ chức muốn tồn tại thì phải thích ứng tốt với môi trường. Bồi dưỡng nguồn nhân lực sẽ càng nâng cao tay nghề, nâng cao kĩ năng và thái độ nghề nghiệp, tạo ra bầu không khí đoàn kết.