CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về quản lý hoạt động bồi dưỡng HSG ở nước ngoài Nhiều nước trên thể giới quan tâm đến vấn đề phát hiện bồi dưỡng nhân tài từ rất sớm, họ nhận thức được rằng con người và trí tuệ là những yếu tố quyết định sự phát triển của xã hội. Ở Trung Quốc, từ thời Nhà Đường những trẻ em đặc biệt đã được lựa chọn để GD bằng những hình thức khác.
Ở Châu Âu, thời kỳ Phục hưng những người có tài năng sẽ nhân được sự bảo trợ giúp đỡ của nhà nước và các tổ chức và cá nhân. Từ đầu thế kỷ 20, một số nước đã nghiên cứu về chỉ số thông minh của con người. Nhiều nước đã tập trung các nguồn lực để phát triển giáo dục trước một bước nhằm đón đầu yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, nước Mỹ có những chính sách phát hiện, tuyển chọn các loại HSG, học sinh năng khiếu, nước Đức có Hiệp hội dành cho HSG và tài năng, chính quyền New Zealand đã phê chuẩn kế hoạch phát triển chiến lược HSG. Hàn Quốc cũng có một chương trình riêng dành cho HSG.
Như vậy việc phát hiện, tuyển chọn, bồi dưỡng và đào tạo nhân tài có vai trò vô cùng to lớn đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Chính vì vậy tất cả các quốc gia trên thế giới đều coi việc đào tạo, bồi dưỡng HSG, tài năng là vấn đề then chốt trong chiến lược phát triển đất nước. Các nghiên cứu về quản lý hoạt động bồi dưỡng HSG ở Việt Nam Ở Việt Nam, từ xa xưa ông cha ta đã coi hiền tài là “rường cột”, “là nguyên khí của quốc gia”. Phát huy truyền thống quý báu của dân tộc, sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh là bậc thiên tài trong việc chọn người, dùng người và trọng dụng nhân tài.
7 Ngay từ khi chuẩn bị thành lập Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặc biệt chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở Quảng Châu, chọn những thanh niên ưu tú, có trình độ, năng lực để đào tạo, bồi dưỡng sau này đưa về nước hoạt động. Khi trở về nước vào năm 1941, Người đã có lời kêu gọi tất cả các nhân sĩ, thân hào có tinh thần yêu nước tham gia Mặt trận Việt Minh để cống hiến trí tuệ của mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thắng lợi, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, “kiến quốc cần có nhân tài”. Người đã viết hai bài “Nhân tài và Kiến quốc”, “Tìm người tài đức” đăng trên báo Cứu quốc để tìm người tài đức tham gia xây dựng và kiến thiết Tổ quốc, được coi là “Chiếu cầu hiền tài” của chính quyền cách mạng Việt Nam.
Trong thời gian qua, cũng đã có nhiều đề tài, công trình nghiên cứu về các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý GD, nâng cao chất lượng GD… đáp ứng các yêu cầu của phát triển GD theo quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết 29-NQ/TW, ngày 4/11/2013 “về đổi mới căn bản, toàn diện GD” đáp ứng các yêu cầu “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài….” Trong đó có luận văn của tác giả Bùi Mỹ Hạnh, năm 2014 về “Biện pháp Quản Lý công tác bồi dưỡng học sinh giỏi tại trường Trung học phổ thông Chuyên Hà Nội - Amsterdam”; Luận văn của tác giả Hoàng Khắc Tiệp năm 2012 về “Quản lý bồi dưỡng học sinh giỏi trường Trung học sơ sở Lê Quý Đôn, huyện Ý Yên, Nam Định”. Ngoài ra còn có nhiều bài viết, chuyên đề về các hoạt động bồi dưỡng GV, HSG các cấp… Những đề tài, chuyên đề, công trình nghiên cứu này đã phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn một cách khá toàn diện về công tác quản lý các hoạt động GD của các nhà trường, công tác bồi dưỡng GV, bồi dưỡng HSG ở trường Trung học phổ thông,… Các nghiên cứu đã tập trung vào một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý các hoạt động GD trong đó có công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng HSG ở các nhà trường. 8 Tuy nhiên, giai đoạn hiện nay thời cơ, thách thức thay đổi yêu cầu chất lượng GD, chất lượng HSG của các nhà trường phải được nâng lên. Việc nghiên cứu thực trạng công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng HSG ở các trường THCS và đưa ra được các giải pháp nâng cao công tác này ở các trường THCS là một vấn đề cấp thiết và được nhiều CBQL quan tâm.
Điều này sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học trong các nhà trường, trong đó có chất lượng bồi dưỡng HSG. Các khái niệm cơ bản 1. Quản lý Có nhiều khái niệm về quản lý đã được các nhà nghiên cứu đưa ra, tựu chung lại ta có thể hiểu, quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng, có mục đích, có kế hoạch của người quản lý đến người bị quản lý để chỉ huy, điều khiển, liên kết các yếu tố tham gia thành một chỉnh thể thống nhất, điều hòa hoạt động của các khâu nhằm đạt đến mục tiêu xác định. Như vậy, Quản lý một tổ chức là làm cho tổ chức đó ổn định, phát triển thông qua bốn chức năng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra nhằm đạt được mục tiêu.Vậy để quản lý tốt tổ chức của mình các nhà quản lý phải xác định chính xác, tường minh mục tiêu của tổ chức mình.
Nếu mục tiêu xác định quá cao so với khả năng thì sẽ khó có thể đạt được sẽ gây lên sự căng thẳng, ngược lại nếu mục tiêu xác định quá thấp so với khả năng cũng dễ gây ra sự nhàm chán, bởi vì không cần nỗ lực, cố gắng vẫn có thể đạt được.Chính vì vậy mục tiêu phải vừa sức, nhưng cũng cần nỗ lực mới đạt được. Khi đó, các thành viên trong tổ chức sẽ cảm thấy tự hào khi đạt được mục tiêu. 9 Lập kế Tổ chức hoạch Kiểm tra Chỉ đạo Sơ đồ 1. Bản chất quá trình quản lý (Nguồn: Phan Văn Kha.
Quản lý nhà nước về giáo dục, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007) Từ sơ đồ về mối quan hệ giữa các chức năng quản lý cho ta thấy 4 chức năng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau tạo thành chu trình quản lý khép kín. Năng lực, năng khiếu, tài năng, thiên tài Năng lực: Là tập hợp các kỹ năng, kiến thức, thái độ của con người để thực hiện thành công một công việc, một nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể. Năng khiếu: Được biết đến là một thành phần của năng lực và là mầm mống của tài năng trên một lĩnh vực nào đó như: thể thao, nghệ thuật, sáng tạo,. Tài năng: Là mức độ cao của năng lực.
Thiên tài:Là mức độ tột đỉnh của năng lực. 10 Năng lực của các em HS được hình thành và phát triển trong các hoạt động, việc các em HS tham gia hoạt động là phương thức cơ bản để phát triển năng lực. Không tổ chức hoạt động thì năng lực, năng khiếu không được phát triển. Hoạt động dạy học và giáo dục có ý nghĩa hết sức lớn lao trong sự phát triển năng lực, năng khiếu của các em HS.
Khái niệm học sinh giỏi Quan niệm HSG được nhiều nước trên thế giới quan niệm đó là những HS có năng lực trong các lĩnh vực trí tuệ, sáng tạo, nghệ thuật và năng lực lãnh đạo hoặc lĩnh vực lý thuyết. Tuyển chọn HS có năng lực là bước đầu tiên của quá trình bồi dưỡng HSG. Để công tác tuyển chọn đạt hiệu quả, ta cần quan tâm đến một số nét biểu hiện sau của HS: *Thông tuệ: Học sinh tài năng thường thông minh, trí tuệ phát triển có năng lực tư duy tốt, các em tiếp thu kiến thức nhanh, nhớ lâu và có khả năng suy diễn quy nạp, khái quát hóa, trừu tượng hóa rất tốt. *Sáng tạo: Học sinh có tư duy độc lập, phê phán luôn tìm ra bản chất của vấn đề, quy luật hiện tượng, sự kiện và có khả năng dự báo.
*Có một số phẩm chất nổi bật: Say mê, tò mò, hoạt động có mục tiêu, trung thực, kiên trì, vượt khó, giàu lòng vị tha và có ý chí vươn lên một cách chủ động. Ba lĩnh vực thông tuệ, sáng tạo và có một số phẩm chất nổi bật với các biểu hiện như ở trên cơ bản đã tạo nên cấu trúc của một học sinh giỏi. Bồi dưỡng, bồi dưỡng học sinh giỏi Bồi dưỡng là quá trình trang bị, bổ sung thêm về kiến thức, kỹ năng để giúp nâng cao và hoàn thiện năng lực hoạt động trong các lĩnh vực cụ thể nào đó. Bồi dưỡng HSG là giúp cho các em HS phát huy được tối đa các phẩm chất và năng lực của bản thân, trang bị cho các em phương pháp, cách học, 11 cách nghiên cứu, cách tư duy, cách tự đánh giá, cách tự học, cách vận dụng,….
Quản lý hoạt động bồi dưỡng học sinh giỏi Quản lý hoạt động bồi dưỡng HSG là những tác động của CBQL đến hoạt động bồi dưỡng HSG được tiến hành bởi GV, HS và sự hỗ trợ của các lực lượng GD khác nhằm thực hiện tốt kế hoạch bồi dưỡng HSG, đáp ứng các mục tiêu, nhiệm vụ đã đặt ra. Hoạt động bồi dưỡng HSG ở các trường Trung học cơ sở với quá trình phát triển tài năng 1. Những giai đoạn phát triển tài năng Theo Erikson (sinh 1905-1994 tại Franfurt, Đức) chia quá trình phát triển con người thành 8 giai đoạn trong đó có 5 giai đoạn phát triển tâm lý xã hội mô tả đặc điểm quá trình phát triển nhân cách trẻ. Giai đoạn 1: Từ khi mới sinh đến 1 tuổi rưỡi - Mâu thuẫn giữa niềm tin và nghi ngờ.
Giai đoạn 2: Từ 1 tuổi rưỡi đến 3 tuổi - Mâu thuẫn giữa tự chủ và tự hoài nghi và xấu hổ. Giai đoạn 3: Từ 3 tuổi đến 6 tuổi - Mâu thuẫn giữa việc tự khởi xướng và mặc cảm thiếu khả năng. Giai đoạn 4: Từ 6 tuổi đến lúc dậy thì 12 tuổi - Mâu thuẫn giữa tài năng và sự tự ti hay mâu thuẫn giữa sự chăm chỉ và sự thấp kém. Giai đoạn 5: Thanh thiếu niên từ 13 - 20 tuổi - Mâu thuẫn giữa chính mình và sự mơ hồ về vai trò bản thân.
Giai đoạn 6: Thanh niên từ 20 đến 35 Tuổi - Mâu thuẫn giữa gắn bó và cô lập trong các mối quan hệ hay mâu thuẫn giữa sự thân thiện với sự tách biệt. Giai đoạn 7: Trung niên từ 35 đến 60 tuổi - Mâu thuẫn giữa sáng tạo và đình trệ.