Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng đội ngũ hiệu trưởng trường tiểu học theo chuẩn hiệu trưởng. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ hiệu trưởng các trường tiểu học ở huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang theo chuẩn hiệu trưởng. Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ hiệu trưởng các trường tiểu học ở huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang theo chuẩn hiệu trưởng trường tiểu học. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƢỠNG ĐỘI NGŨ HIỆU TRƢỞNG TRƢỜNG TIỂU HỌC THEO CHUẨN HIỆU TRƢỞNG TRƢỜNG TIỂU HỌC 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1.Những nghiên cứu ở nước ngoài Vào những năm 770 - 403 Trước Công Nguyên, thời Trung Hoa cổ đại đã xuất hiện tư tưởng quản lý của Khổng Tử, đó là thực hiện cải cách xã hội bằng con đường đức trị từ trên xuống.
Trong hệ thống lý luận của Khổng Tử về Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín Thì Nhân là quan trọng nhất. Dưới góc độ của khoa học quản lý, “Nhân” vừa là nguyên tắc cơ bản của hoạt động quản lý, vừa là đạo đức, hành vi của chủ thể quản lý. Khổng Tử đã nâng “Nhân” lên thành “Đạo”, đạo làm người, đạo xử thế, đạo cai trị và tất nhiên cả đạo của người bị trị. Trong quan niệm về đạo của Khổng Tử phải kể đến quan niệm “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”.
Bên cạnh đó, Khổng Tử còn coi Nhân - Trí - Dũng là phẩm chất cơ bản của người quân tử, là tiêu chuẩn quan trọng của người cai trị. Chính sách dùng người của Khổng Tử là: - Trí là hiểu biết người. Đề bạt người chính trực; - Chọn người theo năng lực, tài đức, không phân biệt giai cấp, huyết thống; - Không quá cầu toàn, cần đặt người đúng chỗ, giao việc đúng khả năng; - Quan tâm đến đời sống con người, có chính sách thưởng phạt công bằng; - Trọng hiền gắn liền với trừ ác. Tư tưởng trên tuy chưa thực sự chuyên sâu về quản lý, nhưng Khổng Tử đã thể hiện những quan điểm về nâng cao năng lực đội ngũ quan lại trong xã hội thời bấy giờ.
Vào giữa thế kỷ XVIII, các nhà khoa học Robert Owen (1771-1858), Andrew Ure (1778-1875) đưa ra ý tưởng muốn tăng năng suất lao động cần tập 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trung giải quyết một số yếu tố chủ yếu là tạo ra phúc lợi công cộng, tìm giải pháp giám sát công nhân, quan tâm đến mối quan hệ giữa người quản lý với người bị quản lý và nâng cao trình độ quản lý cho các nhà quản lý. Tiếp đó Frederrick Win Slow Taylor (1856-1915) với công trình tiêu biểu là cuốn: “Những nguyên tắc quản lý khoa học” [41] xuất bản năm 1911, ông quan niệm: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”. Henri Fayol (1841-1925) người Pháp đã có công trình “Tổng quát về quản lý hành chính” [23] xuất bản năm 1916. Cống hiến lớn nhất của Ông là đưa ra 5 chức năng cơ bản của quản lý, 16 quy tắc về chức trách quản lý và 14 nguyên tắc quản lý hành chính.
Theo Ông người quản lý nếu có đủ năng lực tư duy và năng lực thực tiễn kết hợp nhuần nhuyễn các chức năng, các quy tắc, các nguyên tắc quản lý thì chất lượng và hiệu quả hoạt động của tổ chức được nâng cao. Mari Parker Follet (1868-1933), Người có đóng góp quan trọng vào thuyết quan hệ con người trong quản lý. Trong quá trình nghiên cứu bà đã xuất bản hai tác phẩm: Nhà nước mới và Kinh nghiệm sáng tạo [28]. Bà đã đưa ra những năng lực cần có ở người lãnh đạo.
Từ đầu thập niên 60 của thế kỷ XX đến nay, khi xã hội công nghiệp có dấu hiệu sự bùng nổ thông tin và dần chuyển thành xã hội thông tin, các nhà khoa học nghiên cứu về quản lý đã có các công trình nghiên cứu về quản lý trong môi trường luôn luôn biến đổi, quản lý theo quan điểm hệ thống, quản lý tình huống và từ đây vấn đề năng lực của người quản lý thực sự đã được đề cập tới với những yêu cầu và cách thức nâng cao năng lực đội ngũ đó. Cụ thể, công trình của ba tác giả: Harold Koontz, Ciril Odonnell, Heinz Weihrich với tác phẩm nổi tiếng là cuốn những vấn đề cốt yếu của quản lý [22] 1.2 Những nghiên cứu ở trong nước Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khi bàn về công tác cán bộ đã khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Muốn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”, “Có cán bộ tốt thì việc gì cũng xong” [27, tr5-240]. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Với xu hướng kế thừa, nhiều nhà khoa học Việt Nam đã chắt lọc những vấn đề tinh túy nhất của hầu hết các tác phẩm về quản lý của nước ngoài để thể hiện trong các công trình nghiên cứu của mình về những vấn đề năng lực của người quản lý. Một số tác giả và tác phẩm tiêu biểu như: cuốn “Những vấn đề cơ bản của khoa học quản lý” của Mai Hữu Khuê; Kiều Nam với cuốn “Tổ chức bộ máy lãnh đạo và quản lý” [29]; Nguyễn Minh Đạo với cuốn “Cơ sở của khoa học quản lý” [20], Đỗ Hoàng Toàn với cuốn “Lý thuyết quản lý” [39]; Phạm Đức Thành cuốn “Giáo trình quản trị nhân lực” [35]; Trần Quốc Thành với cuốn “Chủ tịch Hồ Chí Minh-về năng lực tổ chức cán bộ” [36]; Hoàng Minh Thao với cuốn “Quản lý giáo dục tiểu học theo định hướng CNH, HĐH” [34]; Nguyễn Phú Trọng - Trần Xuân Sầm với cuốn “Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước” [40].
Dưới góc độ nghiên cứu lý luận quản lý giáo dục, dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, các nhà khoa học Việt Nam đã tiếp cận quản lý giáo dục và quản lý trường học chủ yếu dựa trên nền tảng lý luận giáo dục học. Đa số các cuốn Giáo dục học của các tác giả Việt Nam thường dành một chương về quản lý trường học. Các công trình tiêu biểu đó đề cập tới chất lượng và phương thức nâng cao năng lực cán bộ quản lý trường học như: “Phương pháp luận khoa học giáo dục” [21] của tác giả Phạm Minh Hạc làm tổng chủ biên ấn hành năm 1981; “Giáo dục học” [28] (tập I và II) của Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt, 1987; … Trong những năm gần đây, đã có nhiều nhà nghiên cứu bàn về các lĩnh vực văn hóa - giáo dục, bồi dưỡng cán bộ quản lý. Các tạp chí, tập san, chuyên san, báo Giáo dục thời đại xuất hiện ngày càng nhiều và càng phong phú về nội dung, vấn đề bồi dưỡng cán bộ quản lý, phát triển đội ngũ cán bộ quản lý.
Có thể nêu ra một số tác giả sau đây mà công trình nghiên cứu của họ đã góp phần mạnh mẽ nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý như: tài liệu của tác giả Nguyễn Minh Đường (1996) “Bồi dưỡng và đào tạo đội ngũ nhân lực trong 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com điều kiện mới, chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước”, tác giả Trần Bá Hoành (2002) “Bồi dưỡng tại chỗ và bồi dưỡng từ xa”, tác giả Nguyễn Tấn Phát (2000) "Tự học, tự bồi dưỡng suốt đời trở thành một quy luật",. Tuy vậy, với đặc trưng của từng vùng miền, việc ứng dụng các vấn đề lý luận về bồi dưỡng cán bộ quản lý vẫn chưa được thể hiện rõ nét, ít có các công trình nghiên cứu thực tế về công tác bồi dưỡng năng lực thiết kế bài giảng cho cán bộ quản lý, đây là một vấn đề cần phải được làm sáng tỏ hơn về lý luận và thực tiễn. Các tài liệu, tác phẩm của các tác giả trên đã đề cập đến những vấn đề chung của khoa học quản lí và quản lí giáo dục cũng như công tác cán bộ, công tác bồi dưỡng giáo viên, bồi dưỡng cán bộ quản lí nói chung.2 Những khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 1.1 Quản lý, quản lý giáo dục 1.1 Quản lý Thực tiễn quản lý phát triển xã hội cho thấy quản lý gắn liền với hoạt động của con người trong cuộc sống, là một chức năng lao động xã hội bắt nguồn từ tính xã hội của lao động. Theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của con người.
Trong đời sống kinh tế - xã hội, vấn đề quản lý trở nên hết sức phức tạp. Chính sự đa dạng, phong phú và phức tạp đó nên khi nói về quản lý đã có nhiều cách khái niệm khác nhau. Sử gia Daniel A.Wren đã nhận xét rằng: “Quản lý cũng xưa cũ như chính con người vậy”. Điều đó chứng tỏ quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm và hoạt động quản lý - đã từ lâu được coi là một thuộc tính lịch sử, bởi vì quản lý là một hoạt động bắt nguồn từ sự phân công lao động, sự hợp tác lao động trong một tổ chức nhất định nhằm đạt hiệu quả và năng suất lao động cao hơn.
Do đó, cần có người đứng đầu để chỉ huy, điều hành, kiểm tra, điều chỉnh… Nó gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người và thường xuyên biến đổi. Trong lịch sử tư tưởng quản lý đã có một “sự tiến hoá” của các tư tưởng quản lý từ “thời thượng cổ” đến nay. Ở phương Đông, Khổng Tử đã 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đề cao và xác định rõ vai trò cá nhân của người làm công tác quản lý - đặc biệt ông đã để lại một câu khá lý thú cho những người làm quản lý “Bất tại kỳ vị bất mưu kỳ chính” (không ở vào địa vị ấy đừng nên bàn chuyện của nơi ấy). Khổng Tử đã đề cao và xác định rõ vai trò cá nhân của người làm công tác quản lý, đó là: Người quản lý mà chính trực thì không cần nhiều công sức mà vẫn khiến người ta làm theo; người quản lý mà không chính trực thì vất vả mấy cũng không ai làm theo.
Marx lại nói về sự ra đời tất yếu của quy luật bằng một cách nói rất hình ảnh, độc đáo: “Một nghệ sỹ độc tấu thì tự điều khiển mình, nhưng một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng”.