Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC 1.Những khái niệm cơ bản của nghiên cứu 1.Khái niệm trường trung học cơ sở và giáo viên trường trung học cơ sở 1. Khái niệm trường trung học cơ sở Theo Điều lệ trường trung học cơ sở thì: Trường trung học cơ sở là nơi thực hiện giáo dục trung học cơ sở, được thực hiện trong 04 năm học, từ lớp sáu đến hết lớp chín. Học sinh vào học lớp sáu phải hoàn thành chương trình tiểu học. Tuổi của học sinh vào học lớp sáu là 11 tuổi và được tính theo năm [4].
Trong nghiên cứu này cũng xác định khái niệm trường trung học cơ sở theo Điều lệ trường trung học cơ sở nêu trên.Khái niệm giáo viên trường trung học cơ sở Theo từ điển tiếng Việt, khái niệm giáo viên được nêu như sau: Giáo viên là người giảng dạy, giáo dục cho học viên, lên kế hoạch, tiến hành các tiết dạy học, thực hành và phát triển các khóa học nằm trong chương trình giảng dạy của nhà trường đồng thời cũng là người kiểm tra, ra đề, chấm điểm thi cho học sinh để đánh giá chất lượng từng học trò. Thông tư 32/2020/TT-BGDĐT ban hành điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học thì giáo viên trung học cơ sở (tổng số tính cả hợp đồng từ 1 năm trở lên) là giáo viên dạy tại các trường trung học cơ sở và dạy cấp trung học cơ sở tại các trường phổ thông có nhiều cấp học [4]. Trong nghiên cứu này cũng xác định khái niệm giáo viên trường trung học cơ sở theo Điều lệ trường trung học cơ sở nêu trên.Khái niệm năng lực và năng lực của giáo viên trung học cơ sở 1.Khái niệm năng lực Theo tác giả Stephen P. thì khái niệm năng lực được hiểu như sau:“Năng lực là khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng, thái độ và hứng thú 11 uan van thac si TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.co để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống đa dạng của cuộc sống” [48].
Trong Từ điển tiếng Việt, khái niệm năng lực được trình bầy như sau: “Năng lực là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống khác nhau thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động” [45]. Tác giả Phạm Minh Hạc (1998), đưa ra khái niệm năng lực như sau: “Năng lực là tổ hợp đặc điểm tâm lý một con người /nhân cách. Tổ hợp đặc điểm này vận hành theo một mục đích, tạo ra kết quả của hoạt động nào đấy. Tổ hợp này tạo điều kiện tạo thành điều kiện quy định tốc độ, cường độ và chiều sâu của việc tác động vào đối tượng hoạt động” [18].
Tác giả Trịnh Văn Cường (2009): “Năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định” [5]. Chương trình giáo dục phổ thông mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí… thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định” [Dẫn theo 19]. Từ việc phân tích các khái niệm năng lực nêu trên, trong nghiên cứu này xác định khái niệm năng lực như sau: Năng lực là những khả năng thực hiện hành động một cách phù hợp và có hiệu quả đối với một hoạt động hay nhiệm vụ của con người, được hình thành thông qua con đường học tập, rèn luyện, nhằm phục vụ cho mục đích học tập, lao động và sinh sống.Khái niệm năng lực của giáo viên trung học cơ sở Giáo viên trung học cơ sở là một nghề, do vậy năng lực của giáo viên trung học cơ sở phải đảm bảo giúp cho giáo viên thực hiện các nhiệm vụ theo vị trí việc làm của giáo viên tại trường THCS có hiệu quả , đạt chất lượng cao và có tính sáng tạo trong hoạt động nghề nghiệp của mình. 12 uan van thac si TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.co Theo tác giả Trần Đăng Khởi, khái niệm năng lực của giáo viên trung học cơ sở được hiểu như sau: “Giáo viên trung học cơ sở cần phải có năng lực thực hiện hoạt động dạy học và giáo dục có hiệu quả, đạt chất lượng cao và có tính sáng tạo trong hoạt động nghề nghiệp của mình”[28].
Trong nghiên cứu này, khái niệm năng lực của giáo viên trung học cơ sở được xác định như sau: Năng lực của giáo viên trung học cơ sở là những khả năng thực hiện hành động dạy học và giáo dục một cách phù hợp và có hiệu quả đối với nhiệm vụ của của người giáo viên tại trường trung học cơ sở, tạo điều kiện cho giáo viên trung học cơ sở đạt chất lượng cao và sáng tạo trong hoạt động nghề nghiệp của mình .Khái niệm hoạt động bồi dưỡng, hoạt động bồi dưỡng gáo viên trung học cơ sở theo tiếp cận năng lực 1.Khái niệm hoạt động bồi dưỡng Đã có nhiều tác giả đưa ra khái niệm hoạt động bồi dưỡng, cụ thể như sau: Tác giả Nguyễn Minh Đường cho rằng: “Bồi dưỡng là quá trình cập nhật, bổ sung những kiến thức và kĩ năng đã lạc hậu hoặc còn thiếu trong một cấp học, bậc học và thường xuyên được nhận bằng một chứng chỉ” [14]. Tác giả Mạc Văn Trang cho rằng: “Bồi dưỡng là quá trình nhằm mục đích cập nhật hoá kiến thức, bổ sung thêm kiến thức cho ngành nghề đã được đào tạo, nâng cao hiệu quả công tác trong lĩnh vực đó. Bồi dưỡng diễn ra trong khoảng thời gian dài, có thể từ 01 tháng đến 06 tháng, 01 năm,. có thể bồi dưỡng tập trung hoặc không tập trung.
Kết thúc khoá học, học viên được cấp chứng chỉ công nhận kết quả bồi dưỡng”[41]. Trong từ điển Giáo dục khái niệm bồi dưỡng được trình bầy như sau: “Bồi dưỡng (theo nghĩa rộng): là quá trình giáo dục, đào tạo nhằm hình thành nhân cách và phẩm chất riêng biệt của nhân cách theo định hướng đã chọn. Bồi dưỡng (theo nghĩa hẹp), là quá trình trang bị thêm kiến thức, kỹ năng nhằm mục đích nâng cao và hoàn thiện năng lực hoạt động trong các lĩnh vực cụ thể. Ví dụ: Bồi dưỡng kiến thức, bồi dưỡng lí luận, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm” [23].
13 uan van thac si TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.co Như vậy, từ phân tích các khái niệm nêu trên, trong luận văn này khái niệm bồi dưỡng được trình bầy như sau: Bồi dưỡng là quá trình nhằm mục đích cập nhật hoá kiến thức, bổ sung thêm kiến thức cho ngành nghề đã được đào tạo, nâng cao hiệu quả công tác trong lĩnh vực đó.Khái niệm hoạt động bồi dưỡng gáo viên trung học cơ sở theo tiếp cận năng lực Từ việc phân tích các khái niệm hoạt động bồi dưỡng, giáo viên trung học cơ sở, khái niệm năng lực, nghiên cứu này xác định khái niệm hoạt động bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở theo tiếp cận năng lực như sau: Hoạt động bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở theo tiếp cận năng lực là quá trình giúp giáo viên trung học cơ sở cập nhật, bổ sung những kiến thức và kĩ năng đã lạc hậu hoặc còn thiếu theo yêu cầu nghề nghiệp nhằm giúp giáo viên trung học cơ sở có khả năng thực hiện hành động dạy học và giáo dục một cách phù hợp và có hiệu quả, đạt chất lượng cao và sáng tạo trong thực hiện các nhiệm vụ dạy học và giáo dục tại trường trung học cơ sở. Khái niệm quản lý, quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở theo tiếp cận năng lực 1. Khái niệm quản lý Quản lý là hoạt động quyết định sự tồn tại và phát triển của một tổ chức. Vì vậy, khái niệm quản lý được nhiều nhà nghiên cứu đưa ra.
Có thể nêu dẫn cụ thể một số khái niệm quản lý của các tác giả H.Koontz, Phan Văn Kha, Nguyễn Lộc, Bùi Minh Hiền.Koontz đưa ra khái niệm quản lý được xác định như sau: "Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức). Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất" [Dẫn theo 36]. Tác giả Phan Văn Kha (2007) cho rằng: “Quản lý là một tập hợp các hoạt động lập kế hoạch, tổ chức lãnh đạo và kiểm tra các quá trình tự nhiên, xã hội, khoa 14 uan van thac si TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.co học, kỹ thuật và công nghệ để chúng phát triển hợp quy luật, các nguồn lực (hiện hữu và tiềm năng) vật chất và tinh thần, hệ thống tổ chức và các thành viên thuộc hệ thống, các hoạt động để đạt được các mục đích đã định” [27]. Theo tác giả Nguyễn Lộc khái niệm quản lý được xác định như sau: “Khái niệm quản lý được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Theo nghĩa rộng, nó thể hiện bản chất của công việc mà ta cần phải làm với tư cách là người giữ một chức vụ nào đó. theo nghĩa hẹp, quản lý chỉ bao hàm công việc cụ thể như tổ chức nhân lực, đánh giá, phân phối nguồn lực, vận dụng các quy chế” [30]. Nhóm tác giả Bùi Minh Hiền (chủ biên), Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo (2017) đưa ra khái niệm quản lý như sau: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra” [24]. Từ các khái niệm trên có thể xác định khái niệm quản lý như sau: Quản lý là sự tác động có mục đích, có định hướng, có hệ thống của chủ thể quản lý đến khách thể của nó nhằm đạt được các mục tiêu đề ra của tổ chức.
Phân tích các khái niệm nêu trên cho thấy, khi xem xét khái niệm quản lý cần chú ý tới một số khía cạnh như: Quản lý bao giờ cũng là một hoạt động có chủ đích, có mục tiêu rõ ràng.