Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lí hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên trường THPT Quất Lâm, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định. Chương 3: Biện pháp quản lí hoạt động bồi dưỡng giáo viên trường THPT Quất Lâm, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG BỒI DƢỠNG GIÁO VIÊN THPT ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục là một trong những xu hướng của quản lý hiện đại. Theo xu hướng này, yêu cầu đáp ứng đổi mới, chuẩn hóa, chuyên nghiệp hóa đội ngũ GV là một đòi hỏi tất yếu trong quản lý đội ngũ GV cả ở bình diện vĩ mô và vi mô. Xuất phát từ nhận thức về vai trò của GV và tính chất chuyên nghiệp trong lao động nghề nghiệp của GV nên các nghiên cứu về vấn đề phát triển nghề nghiệp của GV tương đối phong phú. Nhiều đánh giá thiết thực về công việc của GV và đề cao kỹ năng giảng dạy như một lĩnh vực chuyên nghiệp cần được đào tạo, huấn luyện đã được khẳng định.
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều coi hoạt động bồi dưỡng giáo viên là vấn đề cơ bản trong phát triển giáo dục. Việc tạo điều kiện thuận lợi để mọi người có cơ hội học tập suốt đời, học tập thường xuyên để kịp thời bổ sung kiến thức và đổi mới phương pháp hoạt động phù hợp với phát triển kinh tế - xã hội là phương châm hành động của các cấp quản lý giáo dục. Tại Nhật Bản, việc bồi dưỡng và đào tạo lại cho giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục là nhiệm vụ bắt buộc đối với người lao động sư phạm. Tùy theo thực tế của đơn vị cá nhân mà các cấp quản lý giáo dục đề ra các phương thức bồi dưỡng khác nhau trong một phạm vi theo yêu cấu nhất định.
Cụ thể là cứ từ 3 đến 5 giáo viên được đào tạo lại một lần theo chuyên môn mới và tập trung nhiều vào đổi mới phương pháp dạy học. Triều Tiên là một trong những nước có chính sách thiết thực về bồi dưỡng và đào tạo lại đồi ngũ giáo viên. Tất cả đội ngũ giáo viên đều phải tham gia học tập đầy đủ các nội dung chương trình về nâng cao trình độ và nghiệp vụ chuyên môn theo quy định. Ở nước ta, nhiều nhà nghiên cứu khoa học giáo dục đã quan tâm nghiên cứu đến các vấn đề về lý luận và thực tiễn về công tác quản lý ĐNGV cả ở góc độ QL vĩ mô và vi mô.
Nhiều hội thảo khoa học về quản lý ĐNGV dưới góc độ QL giáo dục theo ngành, bậc học đã được thực hiện. Nhiều kết quả, nhiều công trình nghiên cứu đã và đang được ứng dụng trong các nhà trường. Có thể kể đến một số nghiên cứu loại này của tác giả Phạm Minh Hạc, Đặng Quốc Bảo, Trần Kiểm, Nguyễn 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngọc Quang, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Văn Lê, Nguyễn Đức Trí, Phạm Viết Vượng, .Tuy nhiên việc nghiên cứu ứng dụng thực tiễn vào các cấp học, ngành học, vùng miền, các trường học trên địa bàn dân cư cụ thể vẫn còn một số hạn chế. Những năm gần đây, nhiều luận văn tốt nghiệp thạc sĩ đã chọn đề tài nghiên cứu thuộc lĩnh vực QL nguồn nhân lực trong giáo dục, trong đó có vấn đề quản lý ĐNGV.
Các tác giả nghiên cứu về vấn đề quản lý ĐNGV theo bậc học và ngành học, vùng miền và địa phương khác nhau, như tác giả Trần Trang Nhung với đề tài “Phát triển đội ngũ giáo viên trường Trung cấp Văn hoá, Thể thao và Du lịch Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay”, Lưu Hoài Nam với đề tài "Một số biện pháp xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên của trường Đại học Dân lập QL và Kinh doanh Hà Nội”, Nguyễn Thanh Phương với đề tài “QL phát triển đội ngũ giảng viên khoa Ngôn ngữ và Văn hoá Trung Quốc, trường Đại học Ngoại Ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội trong giai đoạn hiện nay”, Phan Văn Anh với đề tài "Biện pháp QL đội ngũ giáo viên trong các trường Trung cấp nghề thuộc tổng liên đoàn lao động Việt Nam trong thời kỳ CNH - HĐH đất nước”,. Đối với cấp học THPT có một số luận văn thạc sĩ nghiên cứu về vấn đề này, như tác giả Trần Thị Thu Hương với đề tài "Những biện pháp QL đội ngũ giáo viên trường THPT huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây”, Hà Thị Khánh Vân với đề tài “Các giải pháp QL nhằm xây dựng và phát triển ĐNGV của trường THPT chuyên Chu Văn An tỉnh Lạng Sơn trong giai đoạn hiện nay”, Nguyễn Tiến Dũng với đề tài "Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên các trường phổ thông trên địa bàn thành phố Nam Định đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay”, Nguyễn Đức Cường với đề tài "Các biện pháp QL đội ngũ giáo viên các trường THPT thành phố Yên Bái trong giai đoạn hiện nay”, Đặng Xuân Cát với đề tài "Các biện pháp QL công tác chuẩn hoá đội ngũ giáo viên trường THPT Lục Nam, Bắc Giang", Lê Văn Trường với đề tài “Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên trường Trung học phổ thông A Hải Hậu, tỉnh Nam Định trong bối cảnh hiện nay”.Các tác giả đã tập trung nghiên cứu về cơ sở lý luận; tìm hiểu và đánh giá thực trạng về ĐNGV và công tác quản lý ĐNGV; đề ra các giải pháp, biện pháp quản lý ĐNGV phù hợp với tình hình thực tiễn của các nhà trường, của địa phương nơi các tác giả công tác. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trên thực tế vẫn còn ít công trình nghiên cứu quản lí hoạt động bồi dưỡng GV của một trường THPT cụ thể. Đối với trường THPT Quất Lâm là một trường còn rất non trẻ.
Vì vậy nhà trường rất cần có một công nghiên cứu về quản lí hoạt động bồi dưỡng GV của nhà trường. Luận văn của tác giả sẽ đi sâu nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lí hoạt động bồi dưỡng GV của Trường THPT Quất Lâm để đề ra các biện pháp quản lí hoạt động bồi dưỡng GV của nhà trường theo tinh thần của Nghị quyết 29-NQ/TW để nâng cao chất lượng BDGV đồng thời góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Khái niệm về quản lý Trong quá trình hình thành và phát triển của lý luận QL, khái niệm QL đã được các nhà nghiên cứu đưa ra theo nhiều cách khác nhau, tuỳ theo những cách tiếp cận khác nhau: - Các nhà lý luận QL quốc tế như Frederick Winslow Taylor (Mỹ - 1856 - 1915), Henri Fayol (Pháp - 1841 - 1925), Max Weber (Đức - 1864 - 1920), Mary Parker Follett (Mỹ - 1868 - 1933) đều đã khẳng định: QL là khoa học đồng thời là nghệ thuật.
- Nói đến QL, không thể không nhắc đến tư tưởng sâu sắc của Marx, ông nhìn nhận vấn đề QL dưới ý tưởng phân công và hợp tác trong lao động:“Bất cứ lao động xã hội hay cộng đồng trực tiếp nào được thực hiện ở quy mô tương đối lớn đều cần một chừng mực nhất định của QL” [8, tr. Theo Marx, QL về bản chất nó là quá trình điều chỉnh mọi quá trình xã hội khác: “Một nghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần nhạc trưởng” [8, tr. - Theo lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lê nin về QL: “QL xã hội một cách khoa học là sự tác động có ý thức của chủ thể QL đối với toàn bộ hay những hệ thống khác nhau của hệ thống xã hội trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng đắn những quy luật khách quan vốn có của nó, nhằm đảm bảo cho nó hoạt động và phát triển tối ưu theo mục đích đặt ra” [8, tr. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Một xu hướng nghiên cứu phương pháp luận QL ở Việt Nam cho rằng: hoạt động QL nhằm làm cho hệ thống vận động theo mục tiêu đặt ra, tiến đến trạng thái có chất lượng mới.
QL về bản chất bao gồm hai quá trình “quản” và quá trình “lý” tích hợp vào nhau. Quản: là coi sóc, giữ gìn, là duy trì - ổn định. Lý: là sửa sang, sắp xếp, là đổi mới - phát triển. Hệ ổn định mà không phát triển tất yếu dẫn đến suy thoái.
Hệ phát triển mà thiếu ổn định tất yếu dẫn đến rối ren. Như vậy: Quản lý = ổn định + phát triển. Trong "quản" phải có "lý"; trong "lý" phải có "quản"; ổn định đi tới sự phát triển, phát triển trong thế ổn định. - Tác giả Nguyễn Ngọc Quang lại định nghĩa: "QL là tác động có mục đích, kế hoạch của chủ thể QL đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể QL nhằm thực hiện mục tiêu dự kiến" [26, tr.
- Nói về hoạt động QL, định nghĩa kinh điển nhất phải kể đến là: “QL là một quá trình tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL (người QL) đến khách thể QL (người bị QL) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [9, tr. Ngày nay, khái niệm về QL được định nghĩa một cách cụ thể hơn như là một quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra. Trong quá trình này người QL là nhân vật có trách nhiệm phân bố nhân lực, các nguồn lực khác, chỉ dẫn sự vận hành của một bộ phận hay toàn bộ tổ chức để tổ chức này hoạt động có hiệu quả và đạt đến mục đích của tổ chức. Như vậy, từ các định nghĩa trên về QL ta có thể rút ra nhận xét sau: Về bản chất của hoạt động QL gồm hai bộ phận đó là chủ thể QL và khách thể QL.
Hai bộ phận này có liên quan mật thiết với nhau, không tách rời nhau. Chủ thể QL có thể là một cá nhân hay nhóm người có chức năng QL, điều hành tổ chức, làm cho tổ chức vận hành đạt được mục tiêu đề ra. Khách thể QL là những người thừa hành nhiệm vụ trong tổ chức, chịu sự tác động, chỉ đạo của chủ thể QL nhằm đạt được mục tiêu chung.