Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật ca múa nhạc dân tộc trong các đoàn nghệ thuật quân đội

Luận văn phân tích thực trạng quản lý biểu diễn ca múa nhạc dân tộc tại các đoàn nghệ thuật quân đội, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả.

Chuyên ngành

Quản lý Văn hóa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ

2011

113
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Vai trò của quản lý biểu diễn nghệ thuật dân tộc trong quân đội

Hoạt động biểu diễn nghệ thuật dân tộc là một bộ phận hữu cơ của công tác Đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Công tác quản lý văn hóa hiệu quả đối với lĩnh vực này không chỉ góp phần nâng cao đời sống tinh thần bộ đội mà còn là vũ khí sắc bén trên mặt trận tư tưởng. Theo luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Tuyết Mai (2011), các hoạt động này phản ánh sinh động đời sống người lính, kết hợp chặt chẽ với giáo dục chính trị tư tưởng, bồi đắp phẩm chất đạo đức "Bộ đội Cụ Hồ". Quản lý tốt các hoạt động này giúp định hướng thẩm mỹ, giáo dục ý thức về cội nguồn và bảo tồn di sản văn hóa dân tộc. Trong bối cảnh hội nhập, việc quản lý chặt chẽ giúp ngăn chặn sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa độc hại, đồng thời phát huy giá trị văn hóa truyền thống. Đây là nhiệm vụ chiến lược nhằm xây dựng môi trường văn hóa quân sự lành mạnh, góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp, củng cố tinh thần đoàn kết, và xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Các đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp như Nhà hát Ca múa Nhạc Quân đội đóng vai trò nòng cốt trong việc thực hiện nhiệm vụ quan trọng này, đưa nghệ thuật truyền thống đến với cán bộ, chiến sĩ ở những vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.

1.1. Nâng cao đời sống tinh thần và giáo dục chính trị tư tưởng

Các chương trình biểu diễn nghệ thuật dân tộc là món ăn tinh thần không thể thiếu, giúp giải tỏa căng thẳng sau những giờ huấn luyện, học tập mệt mỏi. Nội dung các tác phẩm ca, múa, nhạc dân tộc thường ca ngợi quê hương, đất nước, lòng yêu nước, và truyền thống đấu tranh của dân tộc. Điều này trực tiếp góp phần vào công tác giáo dục chính trị tư tưởng, củng cố bản lĩnh, lập trường cho cán bộ, chiến sĩ. Hoạt động này giúp người lính thêm yêu thương, gắn bó với đơn vị, với quê hương, và quyết tâm bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, và nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận ấy, dùng lời ca tiếng hát để cổ vũ, động viên tinh thần bộ đội.

1.2. Gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong quân đội

Quân đội là một xã hội thu nhỏ, hội tụ con em của 54 dân tộc anh em. Việc tổ chức và quản lý các hoạt động biểu diễn nghệ thuật dân tộc là cách hiệu quả nhất để bảo tồn di sản văn hóaphát huy giá trị văn hóa ngay trong môi trường quân ngũ. Các nghệ sĩ quân đội không chỉ biểu diễn mà còn sưu tầm, nghiên cứu và sáng tạo trên nền tảng nghệ thuật truyền thống. Điều này giúp bản sắc văn hóa dân tộc được gìn giữ một cách sống động, không bị mai một trước tác động của toàn cầu hóa. Hơn nữa, nó còn giúp các chiến sĩ trẻ hiểu và trân trọng hơn giá trị văn hóa của cha ông, hình thành lòng tự hào dân tộc, tạo nên sức đề kháng mạnh mẽ trước các luồng văn hóa ngoại lai tiêu cực.

II. Thách thức trong quản lý biểu diễn nghệ thuật dân tộc hiện nay

Công tác quản lý biểu diễn nghệ thuật dân tộc trong quân đội bên cạnh những thành tựu đã đạt được vẫn đối mặt với không ít khó khăn, thách thức. Một trong những vấn đề nổi cộm là sự hạn chế trong cơ chế, chính sách văn hóa văn nghệ và nguồn kinh phí đầu tư. Nhiều đơn vị, đặc biệt là các đoàn nghệ thuật quân khu, quân chủng, có cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật đã xuống cấp, không đáp ứng được yêu cầu biểu diễn trong tình hình mới. Luận văn của Nguyễn Thị Tuyết Mai chỉ ra rằng, kinh phí hoạt động bao cấp hiện nay chưa đảm bảo cho việc dàn dựng các chương trình chất lượng cao. Bên cạnh đó, nguồn nhân lực kế cận đang là một bài toán nan giải. Đội ngũ sáng tác và diễn viên, nhạc công chuyên về khí nhạc dân tộc còn mỏng, việc tuyển dụng và thu hút nhân tài gặp nhiều vướng mắc do chế độ đãi ngộ chưa thực sự hấp dẫn. Thị hiếu của một bộ phận chiến sĩ trẻ có xu hướng ưa chuộng các loại hình nghệ thuật hiện đại hơn cũng tạo ra áp lực đổi mới cho các đoàn văn công quân đội trong việc xây dựng kịch bản, chương trình biểu diễn.

2.1. Bất cập trong cơ chế chính sách và nguồn kinh phí đầu tư

Cơ chế quản lý hiện hành đôi khi còn cứng nhắc, chưa tạo điều kiện linh hoạt cho các đơn vị nghệ thuật phát huy hết khả năng sáng tạo. Nguồn kinh phí cấp cho hoạt động biểu diễn nghệ thuật dân tộc còn hạn hẹp. Đơn cử, việc đầu tư cho một tiết mục biểu diễn (trang phục, đạo cụ, phối khí) tốn kém từ 50-60 triệu đồng, trong khi tổng kinh phí hàng năm của nhiều đoàn chỉ trên dưới 500 triệu đồng. Sự thiếu hụt này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nghệ thuật, khó có thể tạo ra những tác phẩm đỉnh cao, có sức lan tỏa mạnh mẽ. Hơn nữa, chính sách thu hút, đãi ngộ tài năng, đặc biệt là các nghệ sĩ quân đội chuyên sâu về nghệ thuật dân tộc, chưa đủ mạnh để giữ chân và phát triển đội ngũ.

2.2. Hạn chế về nguồn nhân lực và trang thiết bị kỹ thuật

Thực trạng cho thấy một sự thiếu hụt đáng kể về đội ngũ nhạc công, diễn viên được đào tạo bài bản về nghệ thuật dân tộc. Khảo sát tại một số đơn vị cho thấy biên chế dành cho nhạc công dân tộc chỉ chiếm từ 20-40% so với nhạc nhẹ. Nhiều đơn vị thiếu một dàn nhạc dân tộc hoàn chỉnh, ảnh hưởng đến việc xây dựng các chương trình quy mô. Bên cạnh đó, trang thiết bị âm thanh, ánh sáng tại nhiều đoàn nghệ thuật đã lỗi thời, hỏng hóc do tần suất sử dụng cao và điều kiện biểu diễn khắc nghiệt ở vùng sâu, vùng xa. Việc chậm đổi mới công nghệ kỹ thuật biểu diễn làm giảm sức hấp dẫn của các chương trình nghệ thuật quần chúng quân đội.

III. Giải pháp đột phá về cơ chế quản lý và chính sách văn hóa

Để nâng cao hiệu quả công tác quản lý văn hóa đối với hoạt động biểu diễn nghệ thuật dân tộc, cần có những giải pháp mang tính đột phá về cơ chế và chính sách. Trước hết, cần hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, quy chế quản lý của Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị. Các quy chế này cần được điều chỉnh để tăng tính tự chủ, linh hoạt cho các đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp, khuyến khích sự sáng tạo và đổi mới. Cần xây dựng một chính sách văn hóa văn nghệ đặc thù cho các nghệ sĩ-chiến sĩ, bao gồm chế độ đãi ngộ, phụ cấp ưu đãi, cơ hội thăng tiến và tôn vinh xứng đáng để thu hút và giữ chân nhân tài. Việc tăng cường ngân sách đầu tư là yếu tố tiên quyết. Nguồn kinh phí không chỉ dành cho hoạt động biểu diễn thường xuyên mà còn phải tập trung cho việc sưu tầm, nghiên cứu, bảo tồn các loại hình nghệ thuật dân tộc có nguy cơ mai một và đầu tư dàn dựng các tác phẩm lớn, có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao. Mô hình xã hội hóa một phần hoạt động, kết hợp biểu diễn phục vụ nhiệm vụ chính trị với biểu diễn có thu cũng là một hướng đi cần được nghiên cứu, thí điểm.

3.1. Hoàn thiện quy chế và tăng cường tính tự chủ cho đơn vị

Cần rà soát và cập nhật các quy định như Quyết định 1179/QĐ-CT của Tổng cục Chính trị để phù hợp với thực tiễn. Quy chế mới nên trao quyền tự chủ lớn hơn cho lãnh đạo các nhà hát, các đoàn nghệ thuật trong việc xây dựng kế hoạch biểu diễn, tuyển dụng nhân sự và quyết định các vấn đề chuyên môn. Cơ chế "đặt hàng" tác phẩm nghệ thuật từ các cơ quan quản lý cũng cần được đẩy mạnh, tạo động lực sáng tác cho đội ngũ biên kịch, đạo diễn, nhạc sĩ, gắn kết sáng tạo nghệ thuật với nhiệm vụ công tác tuyên truyền của quân đội.

3.2. Xây dựng chính sách đãi ngộ đặc thù cho nghệ sĩ quân đội

Một chính sách văn hóa văn nghệ ưu việt là chìa khóa để giải quyết bài toán nhân lực. Cần có chế độ phụ cấp riêng cho các nghệ sĩ biểu diễn nghệ thuật truyền thống, đặc biệt là những người sử dụng các nhạc cụ dân tộc phức tạp hoặc biểu diễn các loại hình nghệ thuật cổ. Chính sách nhà ở, hỗ trợ đào tạo nâng cao, và các danh hiệu tôn vinh (Nghệ sĩ Nhân dân, Nghệ sĩ Ưu tú) cần được quan tâm, xét duyệt kịp thời để động viên, khích lệ các nghệ sĩ quân đội yên tâm cống hiến lâu dài cho sự nghiệp.

IV. Phương pháp đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Con người là yếu tố quyết định sự thành công của mọi hoạt động. Do đó, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho các đoàn văn công quân đội là giải pháp nền tảng và lâu dài. Cần có một chiến lược quy hoạch, đào tạo và bồi dưỡng toàn diện, từ cán bộ quản lý đến đội ngũ sáng tác và diễn viên. Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội cần tiếp tục là cái nôi đào tạo, mở thêm các chuyên ngành sâu về âm nhạc, múa dân gian các dân tộc thiểu số. Cần tăng cường liên kết, hợp tác với các học viện, nhạc viện hàng đầu trong nước để gửi cán bộ, diễn viên đi đào tạo nâng cao. Bên cạnh đào tạo chính quy, cần chú trọng hình thức truyền nghề trong chính các đơn vị, nơi các nghệ sĩ gạo cội dìu dắt, truyền thụ kinh nghiệm cho lớp diễn viên trẻ. Tổ chức các trại sáng tác, các cuộc thi, hội diễn chuyên nghiệp thường xuyên là môi trường tốt nhất để rèn luyện, phát hiện và bồi dưỡng tài năng, tạo ra một thế hệ nghệ sĩ quân đội kế cận tài năng và nhiệt huyết.

4.1. Đa dạng hóa hình thức đào tạo bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ

Ngoài đào tạo tập trung dài hạn, cần triển khai các lớp bồi dưỡng ngắn hạn, các buổi workshop chuyên đề mời các chuyên gia hàng đầu về giảng dạy. Nội dung đào tạo không chỉ giới hạn ở kỹ năng biểu diễn mà còn cần mở rộng sang kiến thức về văn hóa dân tộc học, lý luận phê bình nghệ thuật và kỹ năng quản lý. Việc cử các đoàn đi điền dã, khảo sát thực tế tại các vùng dân tộc thiểu số để sưu tầm chất liệu và học hỏi từ các nghệ nhân dân gian là một phương pháp đào tạo thực tiễn, hiệu quả cao, giúp làm giàu vốn sống và chất liệu sáng tác.

4.2. Tăng cường giao lưu hợp tác để học hỏi và nâng cao trình độ

Tổ chức các chương trình biểu diễn giao lưu chéo giữa các đơn vị trong toàn quân (ví dụ Đoàn nghệ thuật Quân khu 2 biểu diễn tại địa bàn Quân khu 7) là cơ hội quý báu để học hỏi kinh nghiệm. Đồng thời, cần đẩy mạnh hợp tác quốc tế, đưa các đoàn nghệ thuật quân đội đi biểu diễn giao lưu tại các nước có nền nghệ thuật truyền thống phát triển. Sự cọ xát và học hỏi này không chỉ nâng cao trình độ chuyên môn mà còn góp phần quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam ra thế giới, thực hiện tốt nhiệm vụ đối ngoại quốc phòng.

V. Thực tiễn quản lý biểu diễn tại các đơn vị nghệ thuật tiêu biểu

Việc phân tích thực tiễn hoạt động tại các đơn vị tiêu biểu mang lại cái nhìn sâu sắc về hiệu quả của công tác quản lý văn hóa trong quân đội. Nhà hát Ca múa Nhạc Quân đội, với vai trò là đơn vị anh cả, đã thể hiện vai trò nòng cốt trong việc xây dựng các chương trình nghệ thuật quy mô lớn, phục vụ các sự kiện chính trị trọng đại của đất nước và nhiệm vụ đối ngoại. Trong khi đó, Đoàn Nghệ thuật Bộ đội Biên phòng lại có những đặc thù riêng, hoạt động hiệu quả trên địa bàn biên giới, hải đảo, kết hợp nhuần nhuyễn giữa nhiệm vụ biểu diễn và công tác tuyên truyền. Mỗi đơn vị, dù trực thuộc Tổng cục Chính trị hay các quân khu, quân chủng, đều có những mô hình quản lý và phương thức hoạt động riêng, phù hợp với địa bàn và nhiệm vụ được giao. Thành công của các đơn vị này là minh chứng cho thấy khi công tác quản lý được chú trọng, hoạt động văn hóa nghệ thuật sẽ phát huy tối đa sức mạnh, góp phần tích cực vào việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị của toàn quân.

5.1. Mô hình Nhà hát Ca múa Nhạc Quân đội Đơn vị đầu tàu

Là đơn vị nghệ thuật duy nhất trong quân đội có đội ca, múa, nhạc dân tộc riêng biệt, Nhà hát Ca múa Nhạc Quân đội là hình mẫu về một đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp. Đơn vị này không chỉ biểu diễn mà còn có chức năng nghiên cứu, sáng tác và phổ biến các tác phẩm nghệ thuật truyền thống. Với đội ngũ nghệ sĩ tài năng, dạn dày kinh nghiệm, Nhà hát luôn là đơn vị đạt nhiều thành tích cao nhất tại các kỳ hội diễn chuyên nghiệp toàn quân. Tuy nhiên, theo khảo sát, đơn vị vẫn còn những hạn chế như thiếu mô hình đoàn nghệ thuật trực thuộc và dàn nhạc dân tộc chưa hoàn chỉnh, ảnh hưởng đến chất lượng các chương trình chuyên sâu.

5.2. Đặc thù của Đoàn Nghệ thuật Bộ đội Biên phòng Bám sát cơ sở

Đoàn Nghệ thuật Bộ đội Biên phòng hoạt động với phương châm "Lấy núi đồi làm sân khấu, lấy lửa nhiệt tình làm ánh sáng". Hoạt động của đoàn gắn liền với đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số tại vùng sâu, vùng xa. Các chương trình biểu diễn của đoàn mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc của từng vùng miền, vừa phục vụ bộ đội, vừa làm công tác tuyên truyền, vận động quần chúng. Mô hình "Một Đoàn hai Đội" giúp đơn vị linh hoạt, cơ động, đáp ứng yêu cầu biểu diễn trên địa bàn rộng lớn. Thành công của đoàn đã được ghi nhận bằng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ đổi mới.

04/10/2025
Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật ca múa nhạc dân tộc trong các đoàn nghệ thuật quân đội

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGHỆ THUẬT BIỂU DIỄN VÀ QUẢN LÝ BIỂU DIỄN NGHỆ THUẬT CA MÚA NHẠC DÂN TỘC Ở CÁC ĐƠN VỊ NGHỆ THUẬT CHUYÊN NGHIỆP QUÂN ĐỘI 1. Những vấn đề cơ bản về nghệ thuật biểu diễn 1. Quan niệm về nghệ thuật biểu diễn Văn hoá nghệ thuật là một lĩnh vực rất rộng, bao gồm nhiều loại hình nghệ thuật. Chúng có mối quan hệ song hành và đan xen lẫn nhau, trong đó NTBD là một bộ phận quan trọng của văn hoá.

Xét từ giác độ nghệ thuật, yếu tố này là một hình thái ý thức xã hội phản ánh hiện tượng sinh động và sáng tạo của con người. Bằng những phương tiện biểu hiện đặc thù riêng của mình, văn hóa nghệ thuật giúp cho con người nhận thức được giá trị chân, thiện, mỹ, đồng thời là phương tiện tác động đến thế giới nội tâm của con người, làm cho con người gắn bó với cộng đồng hơn. Trong sự phát triển chung của văn hóa dân tộc, NTBD có lịch sử hình thành từ rất lâu đời. NTBD ở Việt Nam được hình thành và phát triển trên một đất nước bao gồm 54 dân tộc anh em mang nhiều yếu tố phong phú và đa dạng.

Với tư cách là một loại nghệ thuật chuyên biệt, NTBD có vai trò quan trọng trong mọi mặt đời sống xã hội. Trong lịch sử phát triển của loài người, con người biểu hiện niềm vui bằng những điệu nhảy, cũng thông qua nghệ thuật con người đã biểu hiện được những đặc thù riêng của mình.TS Lê Ngọc Canh NTBD là loại NT động, nó được tác động bằng hành động, cử chỉ, âm thanh, ánh sáng của người NS trên sân khấu. NTBD gắn với tác phẩm NT, khán giả, cộng đồng và hoạt động quản lý. NTBD còn là sự sáng tạo phi vật thể chứa đựng những giá trị văn hóa, thẩm mỹ, làm rung động cảm xúc, tư tưởng, tình cảm cho người thưởng thức.

Đồng thời nó còn là 12 cái hay, cái đẹp để người ta chiêm nghiệm qua các giác quan để từ đó ngưỡng mộ bởi trình độ, tài năng, kỹ năng, kỹ xảo của những tác phẩm NT hoặc của một nghệ sĩ nào đó. NTBD bao gồm rất nhiều loại hình như: Loại hình âm nhạc, thanh nhạc, nhảy múa. Từ khi xuất hiện đến nay, thuật ngữ nghệ thuật biểu diễn vẫn chưa có một khái niệm đầy đủ và chính xác. Theo quan điểm của Mác - Lê nin, NTBD là một loại hình nghệ thuật không gian, thời gian bao gồm nghệ thuật âm nhạc, nhảy múa, ca hát, sân khấu…Đây là những loại hình mà sự chuyển tải tới người thưởng thức mang tính tập thể, có tính hành động cao.

NTBD mang tính tổng hợp, bởi trong đó chứa đựng nhiều yếu tố NT kết hợp với nhau thành tác phẩm nghệ thuật.TS Trần Trí Trắc “NTBD là sự thể hiện sáng tạo của NS trước khán giả, là tiếng nói từ trái tim, đến với trái tim, từ tình cảm đến tình cảm và trở thành bảo tàng sống của dân tộc”[6, tr. Như vậy, theo quan điểm trên cho thấy vai trò của người NS là rất quan trọng, nó được thể hiện ở những tác phẩm NT mang tính sáng tạo, giúp cho khán giả cảm nhận được giá trị của tác phẩm NT và nhận thức sâu sắc hơn về hiện thực đời sống văn hóa xã hội. Từ những quan điểm trên cho thấy, NTBD là loại hình NT tổng hợp và chứa đựng nhiều yếu tố NT kết hợp với nhau tạo thành tác phẩm NT. Nghệ thuật biểu diễn sử dụng không gian của các loại hình sân khấu, nhằm truyền tải nội dung của tác phẩm đến với khán giả xem trực tiếp, thông qua những người NS.

Bao gồm nhiều loại hình NT như ca, múa, nhạc, xiếc, chèo, tuồng, cải lương. Nghệ thuật biểu diễn chuyên nghiệp Hiện nay có nhiều quan niệm về NT nói chung và NTBD nói riêng ở những góc độ khác nhau. Tuy nhiên, chưa có một tác giả nào giải thích một cách khái quát thế nào là NT chuyên nghiệp. Dựa trên các bài viết của các nhà 13 nghiên cứu văn hoá về NT ở những giác độ khác nhau, chúng ta có thể hiểu về NTchuyên nghiệp như sau: - Đó là các loại hình NT bao gồm NT âm nhạc, NT thanh nhạc, NT múa, NT sân khấu, NT tạo hình hội hoạ.Lực lượng BDNT chuyên nghiệp là người diễn viên, họ được học hành nghiêm chỉnh, có bài bản, làm chuyên một nghề, có môi trường biểu diễn ổn định.

Hoạt động BDNT chuyên nghiệp được đặt dưới sự chỉ đạo của các cơ quan đơn vị cấp Bộ, cơ quan ngang Bộ.Tuy nhiên, còn có các đoàn NT chuyên nghiệp tư nhân do một người đứng ra tổ chức, bán vé và có doanh thu. - Nghệ thuật biểu diễn chuyên nghiệp trong lực lượng vũ trang Quân đội nhân dân Việt Nam về cơ bản giống như các hoạt động NTBD chuyên nghiệp nói chung. Tuy nhiên, điểm khác biệt của NTBD trong Quân đội là lực lượng biểu diễn chủ yếu phục vụ lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam và đặt dưới sự chỉ đạo chung của Bộ Quốc Phòng. Nghệ thuật biểu diễn không chuyên Nghệ thuật không chuyên còn được gọi là NT quần chúng.

Hiện nay có nhiều nhà nghiên cứu về lĩnh vực VHNT đưa ra những quan điểm khác nhau về NT không chuyên. Tuy nhiên, chưa có một tác giả nào giải thích một cách khái quát thế nào là NT không chuyên. Do vậy, có thể hiểu NT không chuyên là loại hình BDNT của quần chúng, của nhân dân bao gồm nhiều loại hình NT khác nhau như ca, múa, nhạc, kịch, xiếc…phong phú về nội dung, đa dạng về hình thức, nó bắt nguồn từ nghệ thuật dân gian. Lực lượng biểu diễn là những người yêu văn nghệ, có năng khiếu về NT nhưng không được đào tạo bài bản, không nằm trong biên chế của một cơ quan, tổ chức nào và không có môi trường biểu diễn ổn định, chỉ hoạt động theo phong trào mang tính thời vụ.

Nghệ thuật không chuyên trong QĐ về cơ bản cũng giống như NT không chuyên nói chung. Điểm khác biệt của NT không chuyên trong Quân 14 đội là các loại hình NTBD tổng hợp mang đậm màu sắc nghệ thuật dân tộc của từng đơn vị, từng địa phương, trong đó lực lượng trình diễn là các chiến sĩ, cán bộ trong các đơn vị Quân đội. Các hoạt động này được tổ chức mang tính thời vụ, không có biên chế chính thức, không được đào tạo cơ bản về chuyên môn. Thời gian hoạt động theo từng thời kỳ nhất định, tùy thuộc vào nhiệm vụ và điều kiện của đơn vị.

Tuy nhiên hoạt động NT quần chúng có ưu thế rất mạnh, bởi vì các thành viên trong đơn vị biểu thị sự đoàn kết, nhiệt tình và cầu thị. Trong Quân đội, công tác văn hóa nghệ thuật được hình thành và phát triển thành hai mảng song song, đó là các hoạt động văn hóa nghệ thuật quần chúng và hoạt động văn hóa nghệ thuật chuyên nghiệp. Mảng văn hóa nghệ thuật quần chúng được tổ chức dưới hình thức câu lạc bộ đại đội với các loại hình nghệ thuật như: Dân ca, tuồng, chèo, kịch, thơ, ca dao, liên hoan văn nghệ.Cũng từ phong trào văn nghệ quần chúng đã phát hiện nhiều tài năng trẻ bổ sung cho các đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp trong Quân đội. Mảng văn hóa nghệ thuật chuyên nghiệp có nhiệm vụ giúp đỡ phong trào văn hóa nghệ thuật quần chúng, ở các đơn vị bộ đội trong việc xây dựng chương trình biểu diễn nghệ thuật, tham gia liên hoan, hội diễn không chuyên và các chương trình biểu diễn nghệ nghệ thuật theo chức năng, nhiệm vụ do Bộ Quốc Phòng qui định.

Nghệ thuật biểu diễn ca, múa, nhạc dân gian Ca - múa - nhạc dân gian được coi là một kho tàng văn hóa vô cùng phong phú và đa dạng, đây còn là cội nguồn của bản sắc văn hóa Việt Nam. Theo các nhà nghiên cứu cho biết, văn hóa nghệ thuật nói chung và nghệ thuật ca - múa - nhạc dân gian nói riêng phản ánh những đặc điểm như sau: Ca - múa - nhạc dân gian là hình thức sinh hoạt văn hóa nghệ thuật phổ biến của người dân, nó được hình thành phát triển gắn liền với cuộc sống, lao động 15 sản xuất và chiến đấu của người dân Việt nam. Ca - múa - nhạc dân gian là môn NT hát đối đáp giao duyên, điệu múa, điệu nhạc được diễn ra ở khắp mọi nơi từ sân đình đến dưới thuyền. Nghệ thuật ca - múa - nhạc dân gian Việt Nam rất phong phú và đa dạng.

Đó là sự kết hợp giữa hát, múa và nhạc khí dân tộc tạo nên một tổng thể với nhiều phong cách và nhiều thể loại độc đáo riêng biệt. Kho tàng ca - múa - nhạc dân gian là một trong những tinh hoa văn hóa của toàn thể dân tộc Việt Nam. Ca - múa - nhạc dân gian còn được thể hiện như hoạt động văn hóa mang tính tổng thể, góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng nền văn hóa mới, con người mới Xã hội Chủ nghĩa. Vì vậy, ta có thể khẳng định rằng ca - múa - nhạc dân gian là cái nôi phát triển của ca - múa - nhạc dân tộc.

Nghệ thuật biểu diễn ca - múa - nhạc dân tộc * Đặc điểm ca hát dân tộc: Trong kho tàng di sản âm nhạc Việt Nam, hát đời thường, hát tín ngưỡng, tôn giáo, lễ nghi, phong tục.thường được sử dụng trong các đoàn NT chuyên nghiệp. Khi một người diễn viên muốn biểu diễn bài hát dân ca thành công, thì đòi hỏi người diễn viên phải hiểu được nguồn gốc cũng như phong cách của bài hát đó. Chẳng hạn: - Nguồn gốc trong dân ca gắn bó với hoạt động lao động sản xuất, tín ngưỡng, phong tục tập quán, giao duyên nam nữ. - Hình thức dân ca các dân tộc nói chung đều có mối quan hệ mật thiết với thơ ca dân gian dân tộc.

- Phương thức biểu diễn chủ yếu là đồng ca tập thể, đối đáp nam nữ, hoặc dạng nguyên hợp như: hát đi với múa, hát đi với nhạc [43. * Đặc điểm múa dân tộc: Từ trước đến nay, trong các chương trình biểu diễn của các đoàn NT chuyên nghiệp không thể thiếu loại hình NT múa dân tộc. Theo nguồn tư liệu của các nhà nghiên cứu cho rằng, nghệ thuật múa 16 bắt nguồn từ múa dân gian, trong múa dân gian chủ yếu là những điệu múa mô phỏng lại đời sống hiện thực của người dân như cảnh sinh hoạt, cảnh lao động và phong tục, nghi lễ của các dân tộc. Trải qua thời gian, múa dân gian được bổ sung, điều chỉnh và phát triển để phù hợp với thẩm mỹ của quần chúng nhân dân trong thời đại mới.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ