Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, VAI TRO CUA DON VỊ NGOÀI CÔNG LAP TRONG CONG TAC BAO TON VÀ PHÁT HUY GIÁ TRI DI SAN VĂN HOA O VIET NAM 1. Hệ thống hoá các khái niệm liên quan - Văn hóa Ở Việt Nam, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh bàn về văn hoá: “Vi lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [104, tr. Trong Nghị quyết số 04-NQ/HNTW ngày 14/01/1993: “Văn hóa là nền tảng tinh than của xã hội, một động lực thúc day sự phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH), đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội” [3].
Các Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 16/7/1998, Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014, đến Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 06/01/2023 tiếp tục khăng định tầm quan trọng của văn hoá. Trên cơ sở phân tích các định nghĩa về văn hoá, ông Trần Ngọc Thêm đã đưa ra định nghĩa về văn hoá như sau: “Van hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác g1ữa con người với môi trường tự nhiên va xã hội của mình” [93, tr. Bà Nguyễn Thị Kim Loan trình bày trong cuốn Quản lý DSVH: “Văn hóa là một hệ thống các giá tri vật chất và tinh thần đặc trưng nhất cho bản sắc của cộng đồng người, do cộng đồng con người sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác” [55, tr. Cùng với định nghĩa của Tổ chức Giáo duc, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO) về văn hóa [104, tr.
23-24] ta có thé rút ra một vai đặc điểm khi xem xét về văn hoá: (1) Văn hóa xuất hiện trong xã hội con người, do con người tạo ra, là một sản phâm của xã hội con người và phục vụ con người; 21 (2) Chỉ các quy tắc, chuẩn mực liên quan đến toàn bộ sinh hoạt, tư duy và lối sông của con người; (3) Mang hệ giá trị, truyền thông, bản sắc, như tình yêu nước, sự đoàn kết, truyền thống lá lành đùm lá rách, các truyền thông, bản sắc của dân tộc. Từ đó, định vị người này với người khác, thời đại này với thời đại khác; (4) Mang tính giao lưu, hội nhập, da dạng và luôn chịu sự giao lưu hội nhập va đa dạng đó. - Dị sản và đi sản văn hóa Tại Điều 612 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phan tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác” [78]. Còn trong Từ điển Tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê, di sản là tài sản của người chết dé lại hoặc cái của thời trước đề lại [73, tr.
Trong Luật DSVH ban hành năm 2001, sửa đối, bổ sung năm 2009 quy định: “Di sản có thể thuộc quyền sở hữu của cá nhân, tô chức, nhà nước” [77]. Như vậy, có thé thống nhất cách hiểu di san là những tài sản dé lại của người đã mất hoặc của thời đại trước và nó thuộc quyền sở hữu của cá nhân hoặc tổ chức. Tại Điều 1 Luật DSVH quy định: “DSVH bao gồm DSVH phi vật thê và DSVH vật thé, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [76]. “DSVH chính là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do một cộng đồng người sáng tạo và tích luỹ trong một quá trình lịch sử lâu dài và được lưu truyền từ thế hệ trước cho thế hệ sau” [55, tr.
Như vậy, mỗi dân tộc đều có DSVH riêng, mang đặc trưng bản sắc dân tộc đó. Nó bao gồm hau hết các giá trị văn hóa do con người tạo ra trong quá trình sinh sống và phát triển, do tác động của con người vào thiên nhiên, được lưu truyền từ trong quá khứ. Những giá trị này được chọn lọc, thể hiện sự lao động sáng tạo của con người từ đời này qua đời khác và được cộng đồng thừa nhận trong thời gian dài. - Bảo ton và phát huy 22 Trong Từ điển tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê, bảo ton là động từ có nghĩa là gìn giữ, không dé bi mat mát, tôn thất [73, tr.
39]; phá: huy cũng là động từ, nghĩa là làm cho cái hay, cái tốt toả tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm [73, tr. Hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị DSVH có mối quan hệ chặt chẽ, gan bó, tác động lẫn nhau. Điều 8 Luật DSVH (sửa đổi, b6 sung năm 2009) quy định: “Mọi DSVH trên lãnh thổ Việt Nam, có xuất xứ ở trong nước hoặc từ nước ngoài, thuộc các hình thức sở hữu, đều được bảo vệ và phát huy giá tri” [77]. Vì lẽ nay, Nhà nước luôn có chính sách bảo vệ và phát huy giá trị DSVH nhằm nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, góp phần phát triển KT-XH của đất nước.
Khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài đóng gop, tài trợ cho việc bảo vệ va phát huy giá tri DSVH. Nhà nước bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu DSVH. Chủ sở hữu DSVH có trách nhiệm bảo vệ và phát huy giá trị DSVH. Nhà nước đầu tư cho công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ trong việc bảo vệ và phát huy giá trị DSVH.
Công tác bảo tồn và phát huy giá trị DSVH vật thể và phi vật thể rất quan trọng và cần thiết. Tuy nhiên, dé công tác này đạt hiệu quả cao, nhà quản lý và cộng đồng cần xác định được những di sản cần bảo tồn và phát huy, mục đích của công tác này và những giá trị đem lại cho xã hội. - Di sản con người Trong Công ước về việc Bảo vệ DSVH và tự nhiên của thế giới của UNESCO năm 1972 đã đề cập đến việc bảo vệ DSVH vật thé, bao gồm: các di tích, các quần thé và các thắng cảnh. Năm 1992, UNESCO khởi xướng Chương trình Ký ức Thế giới (Memory of the World) với quan niệm về di sản tư liệu thuộc sở hữu của toàn nhân loại.
Di sản tư liệu có thể tồn tại ở dạng văn bản như: cuốn sách, bản thảo, thư từ, báo.; tài liệu nghe nhìn: phim, ảnh, âm thanh, băng từ. Mục tiêu của chương trình nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công tác bảo ton, phổ biến, nâng cao nhận thức về tâm quan trọng và ý nghĩa của các di sản tư liệu trên thê giới. 23 Năm 2003, UNESCO ban hành Công ước về Bảo vệ DSVH phi vật thể nhằm bảo vệ, đảm bảo sự tôn trọng đối với DSVH phi vật thé của các cộng đồng, nhóm người và các cá nhân liên quan. Đồng thời, nâng cao nhận thức, tầm quan trọng của DSVH vật thẻ, tạo sự hợp tác và hỗ trợ quốc tế.
Theo đó, DSVH phi vật được thể hiện ở những hình thức: “các truyền thống và biểu đạt truyền khâu”, “nghệ thuật trình 33. diễn”, “tập quán xã hội, tín ngưỡng và các lễ hội”, “tri thức và tập quán liên quan đến tự nhiên và vũ trụ” và “nghề thủ công truyền thống”. Nhận thức của UNESCO về di sản ngày càng thay đổi, theo đó xác định các loại hình di sản cần bảo tồn và phát huy ở cả DSVH vật thể lẫn DSVH phi vật thê trong đó đặc biệt nhắn mạnh đến di sản tư liệu. Peter Howard trong cuốn sách Heritage: Management, Interpretation, Identity xác nhận di sản là tat cả mọi thứ con người muốn giữ lai và di sản của con người là gốc rễ của tat cả các giá trị di sản [111, tr.
Rodney Harrison cho răng di sản là tất cả, từ các công trình xây dựng đến phong cách nấu ăn, đến những gì thuộc về con người cá nhân, dân tộc hay tôn giáo [112, tr. Như vậy, có sự nhận thức thong nhất cao là di sản được tạo ra bởi con người và tồn tại nhằm phục vụ con người, nên di sản của con người là yêu tố quan trọng và là khởi nguồn cho mọi loại di sản. - Nhà khoa học/nhà khoa học Việt Nam Hiện nay, chưa có khái niệm rõ ràng về NKH nhưng về mặt thuật ngữ, có thể phân tích như sau để hiểu khái niệm NKH là gì. Tác giả Hoàng Phê trong Tir điển Tiếng Việt, từ nhà ding trong một số tô hợp trước danh từ dé chỉ người chuyên một ngành nghề, một lĩnh vực hoạt động nao đó đạt trình độ nhất định ví dụ như NKH, nhà quân sự, nhà báo [73, tr.
699]; khoa học là hệ thống tri thức tích lũy trong quá trình lịch sử và được thực tiễn chứng minh, phản ánh những quy luật khách quan của thế giới bên ngoài cũng như của hoạt động tinh thần của con người, giúp con người có khả năng cải tạo thế giới hiện thực [73, tr. Ngoài ra, khoa học còn có nghĩa chỉ ngành của từng hệ thống tri thức nói trên. Như vậy, có thê hiểu NKH là người có tri thức, trình độ nhất định hoạt động trong một lĩnh vực khoa học, ngành nghề. Về mặt thuật ngữ, trong tiếng Anh và tiếng Pháp, NKH được gọi là scientist hoặc scientifique, đều có gốc xuất phat từ chữ science (khoa học), để chỉ những người 24 làm khoa học [38, tr.
Và từ scholar (học giả) cũng dùng dé goi mot nha nghién cứu hoặc chuyên gia có kiến thức trong một chuyên ngành học thuật, nhất là khoa học xã hội và nhân văn. Theo Tir điển Oxford, NKH nghĩa rộng là người tham gia vào những hoạt động mang tính hệ thống nhằm thu được tri thức trong một lĩnh vực nào đó. Theo nghĩa hẹp hơn, một NKH là người áp dụng các phương pháp khoa học trong nghề nghiệp của họ. Người này có thể là chuyên gia trong một lĩnh vực khoa học, đặc biệt trong khoa học tự nhiên, toán học và xã hội [38, tr.
Trong cuốn The effective scientist giới thiệu NKH là những người nghiên cứu trên lý thuyết và trong thực nghiệm. Họ lao động băng trí óc, tạo nên giá trị cho xã hội về nhiều mặt (Khoa học, kinh tế, sản xuất,. Qua các phân tích trên thấy răng NKH đều dùng dé chỉ người có tri thức, trình độ, hiểu biết trong một hoặc nhiều lĩnh vực.