Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ CỦA CÔNG TY BẢO HIỂM 1. KHÁI NIỆM, NGUYÊN TẮC VÀ VAI TRÒ CỦA BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ 1. Bảo hiểm phi nhân thọ a) Khái niệm bảo hiểm phi nhân thọ Dưới góc độ kinh doanh bảo hiểm: “Bảo hiểm là một cơ chế, theo cơ chế này một người , doanh nghiệp hay một tổ chức chuyển nhượng rủi ro cho công ty bảo hiểm, công ty đó sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả những người được bảo hiểm”.
Theo Monique Gaultier – Pháp, bảo hiểm phi nhân thọ có thể được định nghĩa theo cách tiếp cận về khía cạnh kỹ thuật và pháp lý là: “ Bảo hiểm phi nhân thọ là một hoạt động qua đó một cá nhân có quyền được hưởng trợ cấp nhờ vào một khoản đóng góp cho mình hoặc cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro. Khoản trợ cấp này do một tổ chức trả, tổ chức này có trách nhiệm đối với toàn bộ các rủi ro và đền bù các thiệt hại theo phương pháp thống kê”. Theo luật kinh doanh bảo hiểm Việt Nam năm 2005 giải thích về thuật ngữ bảo hiểm phi nhân thọ như sau: “Bảo hiểm phi nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân sự và các nghiệp vụ bảo hiểm khác không thuộc bảo hiểm nhân thọ”. b) Đặc điểm của bảo hiểm phi nhân thọ Sản phẩm của bảo hiểm phi nhân thọ là sản phẩm vô hình Sản phẩm của bảo hiểm phi nhân thọ về bản chất là một dịch vụ, một lời hứa, một lời cam kết mà Công ty bảo hiểm đưa ra với khách hàng.
Khách hàng đóng phí để đổi lấy những cam kết bồi thường hoặc chi trả trong tương lai. Khác với sản phẩm vật chất mà người mua có thể cảm nhận được qua các giác quan, người mua sản phẩm bảo hiểm không thể chỉ ra màu sắc, hình dáng, kích thước hay mùi vị của sản phẩm. Họ cũng không thể cảm nhận được bằng các giác quan như cầm, nắm, sờ, ngửi hoặc nếm thử. Luan van 7 Bảo hiểm phi nhân thọ vừa mang tính bồi hoàn, vừa không mang tính bồi hoàn Trong thời gian bảo hiểm, không có sự kiện bảo hiểm xảy ra thì doanh nghiệp bảo hiểm không phải trả tiền hay bồi thường bảo hiểm.
Nếu có sự kiện bảo hiểm xảy ra thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền hoặc bồi thường bảo hiểm. Do tính bất ngờ của rủi ro bảo hiểm cả về không gian, thời gian và quy mô nên doanh nghiệp bảo hiểm phải xây dựng các quỹ dự phòng để thực hiện cam kết của mình trước bên tham gia bảo hiểm, quỹ này được sử dụng để tham gia đầu tư, tuy nhiên phải đảm bảo tính thanh khoản cao. Số tiền bồi thường bảo hiểm trong một hợp đồng nếu có thường rất lớn, lớn hơn nhiều lần số phí mà người tham gia bảo hiểm đã đóng. Vì thế có thể dẫn đến các trường hợp trục lợi bảo hiểm đã đóng.
Doanh nghiệp bảo hiểm muốn đảm bảo và ổn định nguồn tài chính cho việc bù đắp tổn thất trong hoạt động bảo hiểm thì phải thực hiện tốt nguyên tắc lấy số đông bù cho số ít. Trong trường hợp có hợp đồng có giá trị lớn hoặc đối tượng bảo hiểm có nguy cơ dẫn đến rủi ro cao thì doanh nghiệp bảo hiểm phải thực hiện các biện pháp phân tán rủi ro như đồng bảo hiểm, tái bảo hiểm; mặt khác để giảm bớt chi phí bồi thường các doanh nghiệp bảo hiểm phải tăng cường các biện pháp đề phòng, ngăn ngừa và hạn chế tổn thất bảo hiểm. Tâm lý người mua hàng không muốn tiêu dùng dịch vụ này Người mua bảo hiểm không mong muốn có sự kiện rủi ro xảy ra để được nhận quyền lợi bảo hiểm dù rằng quyền lợi đó có thể nhiều hơn gấp bội lần so với số phải đóng. Hợp đồng BH phi nhân thọ thường xác định thời hạn Hợp đồng BH thường là 01 năm hoặc ngắn hơn (ngoại trừ một số hợp đồng trong BH xây dựng lắp đặt có thời hạn theo thời gian xây dựng công trình) thậm chí có những hợp đồng BH chỉ có hiệu lực vài tháng (BH hàng hoá xuất khẩu), vài ngày (BH vận chuyển hàng hoá, BH du lịch), hoặc chỉ vài giờ (BH tai nạn hành khách, BH du lịch).
c) Phân loại bảo hiểm phi nhân thọ Căn cứ theo đối tượng bảo hiểm thì bảo hiểm phi nhân thọ có ba loại: BH tài sản, BH trách nhiệm dân sự và BH con người phi nhân thọ. Luan van 8 Bảo hiểm tài sản: Là loại bảo hiểm có đối tượng là tài sản (có thể là hữu hình hoặc vô hình). Hiện nay, hầu hết ở các quốc gia có những nghiệp vụ bảo hiểm tài sản cơ bản sau: BH hàng hoá; BH vật chất tàu, máy bay, xe cơ giới; BH mọi rủi ro trong xây dựng, lắp đặt, BH hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt. Ngoài ra còn một số nghiệp vụ khác: BH nông nghiệp; BH gián đoạn kinh doanh; BH tiền trong két, BH nhà tư nhân, trộm cắp, tín dụng,… Đặc trưng cơ bản của BH tài sản: Người được bảo hiểm có thể do chủ sở hữu hoặc người được giao quyền chiếm hữu sử dụng, người thừa kế.
BH tài sản có thể nhận BH một phần hoặc toàn bộ giá trị tài sản, không bảo hiểm lớn hơn giá trị tài sản đó. Trong mọi trường hợp, số tiền bồi thường không thể lớn hơn thiệt hại của tài sản đó trong một sự cố bảo hiểm. Bảo hiểm trách nhiệm dân sự (TNDS): TNDS là một loại trách nhiệm pháp lý, nó phát sinh do vi phạm nghĩa vụ dân sự. TNDS được coi là biện pháp cưỡng chế, nó được áp dụng đối với người thực hiện hành vi trái pháp luật.
Nhìn chung TNDS là trách nhiệm bồi thường thiệt hại. TNDS có hai loại TNDS theo hợp đồng và TNDS ngoài hợp đồng. BH TNDS có một số nghiệp vụ cơ bản sau: TNDS chủ xe cơ giới đối với người thứ ba và hành khách trên xe; TNDS chủ xe đối với hàng hoá vận chuyển trên xe; TNDS của chủ tàu biển; TNDS của chủ hãng hàng không; trách nhiệm sản phẩm; TNDS của chủ thầu đối với người thứ ba trong xây lắp… Đặc trưng của BH trách nhiệm dân sự: Đối tượng bảo hiểm trong BH trách nhiệm dân sự mang tính trừu tượng: Khi thiết lập hợp đồng thì đối tượng bảo hiểm chưa xuất hiện. Nó chỉ biểu hiện cụ thể khi có sự cố xảy ra làm phát sinh nghĩa vụ bồi thường.
Phương thức bảo hiểm có thể là có giới hạn (được ấn định trong hợp đồng), hoặc không giới hạn (không ấn định trước mà bồi thường theo phát sinh trách nhiệm). Bảo hiểm con người phi nhân thọ: Là loại bảo hiểm mà đối tượng bảo hiểm là tuổi thọ, tính mạng, sức khoẻ và tai nạn của con người. Bên mua bảo hiểm có thể mua bảo hiểm cho chính bản thân mình hoặc vợ, chồng, con, cha, mẹ, anh, chị, em ruột, người có quan hệ nuôi dưỡng và cấp dưỡng, và người khác nếu bên mua bảo hiểm có quyền lợi có thể được bảo hiểm. Luan van 9 Loại hình bảo hiểm này có mục đích thanh toán những khoản trợ cấp hoặc số tiền ấn định cho người được BH hoặc người được thụ hưởng BH, trong trường hợp xảy ra những sự kiện tác động đến chính bản thân người được BH.
Những rủi ro trong BH con người phi nhân thọ là tai nạn, bệnh tật, ốm đau, tử vong. Vì lý do giá trị con người là không thể xác định bằng tiền, nên trong BH con người không có khái niệm BH trùng, và thuật ngữ “chi trả BH” hoặc “ thanh toán tiền bảo hiểm” được thay thế cho “bồi thường bảo hiểm”. Một số loại BH con người ở Việt nam hiện nay: BH tai nạn con người, BH trợ cấp nằm viện và phẫu thuật, BH sinh mạng cá nhân, BH toàn diện học sinh, BH tai nạn hành khách, BH tai nạn thuyền viên, BH khách du lịch, … Đặc trưng của BH con người phi nhân thọ: Đối tượng BH con người phi nhân thọ là tính mạng, sức khoẻ: Đây là phạm trù phi giá trị hoá. Số tiền BH được ấn định trước trên hợp đồng bảo hiểm.
Khi có sự kiện BH, các khoản tiền BH được thanh toán mang tính chất khoán chứ không phải là bồi thường thiệt hại. Trong bảo hiểm tai nạn con người, người thụ hưởng nhận được số tiền trong phạm vị số tiền bảo hiểm, căn cứ vào thương tật thực tế của người được bảo hiểm và thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm. Còn trong bảo hiểm sức khoẻ con người, người được bảo hiểm được nhận số tiền trong phạm vi số tiền bảo hiểm, căn cứ vào chi phí khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi sức khoẻ của người đó do bệnh tật hoặc tai nạn gây ra và thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm. Nguyên tắc hoạt động trong bảo hiểm phi nhân thọ Nguyên tắc số đông bù số ít: KDBH phi nhân thọ là việc người BH tìm kiếm lợi ích kinh tế dựa trên cơ sở hợp đồng BH, mà theo đó đổi lấy phí BH, người BH cam kết thực hiện bồi thường, hoặc trả tiền BH cho người được BH khi có sự kiện BH xảy ra.
Khoản tiền bồi thường hay chi trả này thường lớn hơn gấp nhiều lần so với khoản phí BH mà các DNBH nhận được. Để làm được điều này, hoạt động của BH phi nhân thọ phải dựa trên nguyên tắc số đông bù số ít. Đây là nguyên tắc xuyên suốt không thể thiếu được trong bất kỳ một nghiệp vụ BH phi nhân thọ nào. Luan van 10 Các DNBH thông qua việc huy động bằng hình thức phí BH, thành lập nên quỹ bồi thường để chi trả cho các tổn thất có thể xảy ra trong cộng đồng những người tham gia BH.
Các DNBH đã thực hiện việc bù trừ rủi ro theo quy luật số lớn. Theo nguyên tắc này, càng nhiều người tham gia BH thì quỹ BH tích tụ được càng lớn, việc chi trả càng trở nên dễ dàng, rủi ro được san sẻ cho nhiều người hơn. Thông thường, một sản phẩm BH chỉ có thể được triển khai có hiệu quả khi có nhiều nhu cầu về cùng loại dịch vụ đó. Nguyên tắc rủi ro có thể được bảo hiểm: Về nguyên tắc, những rủi ro có thể được BH là những rủi ro bất ngờ, không lường trước được và những nguyên nhân gây ra rủi ro phải là khách quan và không cố ý.