CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ VÀ QUẢN LÝ DANH MỤC ĐẦU TƯ BẢO HIỂM 1. Cơ sở lý luận về đầu tư: 1. Khái quát về đầu tư: Đầu tư là hành động hy sinh một giá tr ị chắc chắn ở hiện tại để thu lại một giá trị khác lớn hơn nhưng mang tính không chắc chắn ở tương lai. Hoạt động đầu tư luôn gắn liền với hai yếu tố là lợi nhuận và rủi ro.
Lợi nhuận là thu nhập có được từ một khoản đầu tư, thường được biểu thị bằng tỷ lệ phần trăm giữa thu nhập và giá trị khoản đầu tư bỏ ra. Rủi ro được định nghĩa là sự sai biệt của lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận kỳ vọng. Có một nguyên tắc trong hoạt động đầu tư là có sự đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận. Nếu khả năng sinh lời từ hoạt động đầu tư càng lớn thì mức độ rủi ro sẽ càng cao và ngược lại.
Có thể tạm chia hoạt động đầu tư làm 2 mảng lớn: Đầu tư thực: Họat động đầu tư vào các tài sản thực như đất đai, nhà xưởng, máy móc thiết bị. Đầu tư tài chính: Hoạt động đầu tư vào các tài sản tài chính như cổ phiếu, trái phiếu và các công cụ tài chính khác. Nhà đầu tư tài chính thông thường chỉ nhắm vào mục đích mua bán chứ ít làm tăng giá trị thực của công ty mà họ đầu tư vào. Trong nền kinh tế, hai hoạt động này quan hệ và hỗ trợ nhau cùng phát triển.
Đo lường rủi ro của từng tài sản đầu tư: Đo lường rủi ro không hệ thống: Một trong những chỉ tiêu thống kê để đo lường sự dao động hay đo lường rủi ro không hệ thống của một tài sản đầu tư là phương sai và độ lệch chuẩn. Phương sai được định nghĩa như là bình phương khoảng cách chênh lệch giữa tỷ suất sinh Học viên thực hiện: Triệu Minh Châu Luân Trang 3 Luận văn tốt nghiệp cao học. Nguyễn Ngọc Định lợi thực tế và tỷ suất sinh lợi mong đợi của nhà đầu tư. Độ lệch chuẩn đơn giản chỉ là căn bậc hai của phương sai.
Độ lệch chuẩn thường được ký hiệu là σ và phương sai ký hiệu là σ2. Công thức tổng quát tính độ lệch chuẩn như sau: n 1 s= å (n - 1) i= 1 (ri - r ) 2 Trong đó: ri : Là tỷ suất sinh lợi trong trường hợp thứ i r : Là tỷ suất sinh lợi mong đợi, với r được xác định như sau: n n år i r = å ri ´ pi hoặc r = i= 1 i= 1 n Độ lệch chuẩn về tỷ suất sinh lợi của tài sản đầu tư càng lớn thì rủi ro của tài sản đầu tư đó càng cao. Đo lường rủi ro hệ thống (rủi ro thị trường): Để đo lư ờng sự thay đổi của tỷ suất sinh lợi từng tài sản đầu tư đối với sự thay đổi của thị trường, một chỉ tiêu thống kê được sử đụng là hệ số beta (β), được tính toán qua công thức sau: Cov(ri , rm ) bi = s m2 Trong đó: Cov(ri , rm ) : Là hiệp phương sai giữa tỷ suất sinh lợi của tài sản thứ i và tỷ suất sinh lợi thị trường. Các tài sản đầu tư có beta lớn hơn 1 có khuynh hướng khuếch đại các thay đổi tổng thể của thị trường.
Nếu beta nằm giữa 0 và 1, thì tỷ suất sinh lợi của tài sản đầu tư này có khuynh hướng di chuy ển cùng hướng với tỷ suất sinh lợi của thị trường nhưng không lệch nhiều lắm. Học viên thực hiện: Triệu Minh Châu Luân Trang 4 Luận văn tốt nghiệp cao học. Nguyễn Ngọc Định 1. Mối quan hệ giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi (mô hình CAPM): Tỷ suất sinh lợi của một tài sản có mối tương quan xác định với rủi ro của tài sản đó.
Nghĩa là nhà đầu tư nắm giữ một tài sản có rủi ro chỉ khi tỷ suất sinh lợi của tài sản này bù đắp đủ phần rủi ro được thể hiện qua công thức sau: r = rf + b ´ (rm - rf ) Trong đó: rm : Tỷ suất sinh lợi thị trường rf : Tỷ suất sinh lợi phi rủi ro r : Tỷ suất sinh lợi tài sản đầu tư β : Hệ số bêta của tài sản đầu tư Công thức này được gọi là mô hình định giá tài sản vốn (CAPM). Do tỷ suất sinh lợi trung bình t rên thị trường cao hơn lãi suất phi rủi ro tình trung bình trong một thời kì dài nên (rm - rf ) xem như dương (>0) vì vậy, công thức trên ngụ ý rằng tỷ suất sinh lợi của một tài sản đầu tư có mối tương quan xác định với bêta của tài sản đầu tư đó. Cơ sở lý luận về quản lý danh mục đầu tư: 1. Khái quát về danh mục đầu tư: Danh mục đầu tư là tập hợp các tài sán thực và tài sản tài chính được nắm giữ bởi một nhà đầu tư.
Để đơn gi ản, từ đây chúng ta quy ước gọi một danh mục đầu tư là t ập hợp các chứng khoán, mặc dù danh mục có thể bao gồm các tài sản thực, cổ phiếu, trái phiếu và cả các hợp đồng quyền chọn, các chứng từ có giá khác. Khi xây dựng một danh mục đầu tư, nhà đầu tư phải thực hiện hai loại quyết định: Quyết định phân bổ tài s ản đầu tư là sự chọn lựa phân bổ vốn vào các loại tài sản tổng quát và quyết định chọn lọc chứng khoán cụ thể là sự chọn lựa loại chứng khoán cá biệt sẽ được đầu tư trong số các tài sản đã chọn. Học viên thực hiện: Triệu Minh Châu Luân Trang 5 Luận văn tốt nghiệp cao học. Nguyễn Ngọc Định Danh mục khả thi: Là danh mục các chứng khoán mà một nhà đầu tư có thể n ắm giữ thông qua hoạt động đầu tư mua bán chứng khoán.
Danh mục đầu tư hiệu quả: Là một danh mục khả thi mà khi nắm giữ nó, nhà đầu tư đạt được: Hoặc là lãi suất kỳ vọng cao nhất với cùng một mức độ rủi ro so với các danh mục đầu tư khác. Hoặc là có cùng lãi suất kỳ vọng với độ rủi ro nhỏ nhất. Các chiến lược quản lý danh mục đầu tư: Các chiến lược quản lý có thể kể đến gồm có hai dạng chính: Quản lý thụ động và quản lý chủ động. Quản lý thụ động: Gắn với việc mua và giữ chứng khoán trong một thời gian dài.
Chỉ điều chỉnh chút ít và hạn h ữu trong suốt thời gian nắm giữ nó. Việc quản lý danh mục đầu tư theo chiến lược thụ động phù hợp với hai điều kiện cần thỏa mãn của thị trường chứng khoán là: Thị trường hiệu quả và tính đồng nhất của các dự tính. Nếu thị trường chứng khoán hiệu quả thì các chứng khoán sẽ luôn được định giá một cách hợp lý. Sẽ không có các chứng khoán bị đánh giá sai và vì v ậy không có động lực kích thích hình thức buôn bán chứng khoán chủ động.
Mặt khác, nếu trong thị trường chứng khoán, tất cả các nhà đầu tư đều có các dự tính thống nhất về tỷ lệ rủi ro và thu nhập chứng khoán, dẫn đến việc nhất trí quan điểm về danh mục vốn đầu tư thị trường, về đường thị trường vốn, thị trường chứng khoán, thì lại một lần nữa không khuyến khích hình thức buôn bán chứng khoán chủ động. Và đầu tư kiểu này còn được gọi là đầu tư chứng khoán dài hạn. Quản lý chủ động: Gắn liền với những điều chỉnh thường xuyên và đôi khi là cơ bả n đối với danh mục đầu tư. Những nhà đầu tư quản lý theo kiểu chủ động tin rằng không thể tồn tại một danh mục đầu tư hiệu quả mãi và thị trường chứng khoán cũng vậy.
Các chứng khoán trên thị trường có thể bị đánh giá sai. Khi đó, việc mua vào các chứng khoán này sẽ tạo cho họ một lợi nhuận siêu ngạch. Nói cách khác, người quản lý chủ động có những dự tính không đồng nhất về thu nhập Học viên thực hiện: Triệu Minh Châu Luân Trang 6 Luận văn tốt nghiệp cao học. Nguyễn Ngọc Định và rủi ro của các chứng khoán.
Họ tin rằng với biến động của thị trường, luôn luôn có nh ững chứng khoán tốt hơn chứng khoán mà họ đang giữ b ởi họ có cách xác định tốt hơn những người khác về thu nhập và rủi ro của các chứng khoán trong thực tế. Việc sử dụng cách xác định tốt hơn để tạo ra lợi nhuận siêu ngạch cho mình gọi là kiểu đầu tư thiên về ngắn hạn (hay còn gọi là đầu cơ). Như chúng ta đã bi ết, sự đa dạng hóa danh mục đầu tư sẽ giảm thiểu đư ợc rủi ro. Vì vậy, nếu một người xây dựng một danh mục đầu tư có quá nhiều chứng khoán sẽ làm cho anh ta cảm thấy r ất khó khăn trong việc quản lý nó ngay cả đối với một danh mục bị động.
Người ta phải chia danh mục tổng thể ra theo các loại tài sản thông thường như cổ phiếu, trái phiếu và sẽ được quản lý riêng theo mức độ thích hợp với các chiến lược c ủa từng lo ại. Mỗi danh mục nhỏ chỉ bao gồm trái phiếu chẳng hạn có thể được quản lý chủ động hoặc bị động. Và sau khi kết hợp các danh mục nhỏ lại người ta sẽ có một danh mục tổng thể sao cho hàm hiệu dụng của nó luôn đạt mức tối ưu. Lý thuyết danh mục đầu tư của Harry Markowitz: 1.
Lý thuyết đa dạng hóa: Những lý thuyết cổ điển về đa dạng hóa chứng khoán người ta cho đó là việc nắm giữ một số loại chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu) của các ngành khác nhau (các ngành phục vụ công cộng, sản xuất, khai thác, chế biến…). Việc nắm giữ nhiều loại chứng khoán như vậy sẽ làm phân tán và tối thiểu hóa rủi ro do các khác biệt về bản chất của thành phần các cổ phiếu vốn, cộng với nhận thức cho rằng đầu tư vào các doanh nghiệp ở những ngành khác nhau mỗi ngành một cổ phiếu, sẽ có kết quả tốt hơn so với đầu tư tất cả vào các doanh nghiệp trong cùng một ngành. Đa dạng hóa giản đơn: Đa dạng hóa giản đơn là việc kết hợp hóa một cách ngẫu nhiên một số chứng khoán với quyền số bằng nhau nhằm giảm rủi ro có thể đa dạng hóa (theo một số nghiên cứu thì số chứng khoán kết hợp ngẫu nhiên n ày chỉ từ 10-15 cổ phiếu là được). Mặc dù đa dạng hóa được phân tích với các quá trình chọn lựa ngẫu nhiên và Học viên thực hiện: Triệu Minh Châu Luân Trang 7 Luận văn tốt nghiệp cao học.