Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về quản lý an toàn vệ sinh lao động tại doanh nghiệp 1. Một số khái niệm cơ bản Trong nghiên cứu này, doanh nghiệp được hiểu là “tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. [20] Theo Luật An toàn, vệ sinh lao động (Luật số 84/2015/QH13 ngày 25/06/2015), có các khái niệm sau đây: - An toàn lao động là giải pháp phòng, chống tác động của các yếu tố nguy hiểm nhằm bảo đảm không xảy ra thương tật, tử vong đối với con người trong quá trình lao động.
- Vệ sinh lao động là giải pháp phòng, chống tác động của yếu tố có hại gây bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe cho con người trong quá trình lao động. - Yếu tố nguy hiểm là yếu tố gây mất an toàn, làm tổn thương hoặc gây tử vong cho con người trong quá trình lao động. - Yếu tố có hại là yếu tố gây bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe con người trong quá trình lao động. - Sự cố kỹ thuật gây mất an toàn, vệ sinh lao động là hư hỏng của máy, thiết bị, vật tư, chất vượt quá giới hạn an toàn kỹ thuật cho phép, xảy ra trong quá trình lao động và gây thiệt hại hoặc có nguy cơ gây thiệt hại cho con người, tài sản và môi trường.
- Sự cố kỹ thuật gây mất an toàn, vệ sinh lao động nghiêm trọng là sự cố kỹ thuật gây mất an toàn, vệ sinh lao động lớn, xảy ra trên diện rộng và vượt khả năng ứng phó của cơ sở sản xuất, kinh doanh, cơ quan, tổ chức, địa phương hoặc liên quan đến nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh, địa phương. - Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động. - Bệnh nghề nghiệp là bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp tác động đối với người lao động. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 - Quan trắc môi trường lao động là hoạt động thu thập, phân tích, đánh giá số liệu đo lường các yếu tố trong môi trường lao động tại nơi làm việc để có biện pháp giảm thiểu tác hại đối với sức khỏe, phòng, chống bệnh nghề nghiệp.
- Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội. - Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật này. Bảo hiểm tai nạn lao động là bảo hiểm nhằm bồi thường và chi trả cho người lao động về những thương tật, thương tích do tai nạn lao động gây ra. Vai trò của công tác an toàn, vệ sinh lao động tại doanh nghiệp An toàn, vệ sinh lao động có vị trí, vai trò rất quan trọng là bảo vệ người lao động - yếu tố quyết định năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất trong các doanh nghiệp.
Mất ATLĐ đã, đang và sẽ gây ra những tổn thất lớn cho các doanh nghiệp, bao gồm cả ngành sản xuất và dịch vụ Xuất phát từ yêu cầu của sản xuất là “sản xuất phải an toàn”, thông suốt để hoàn thành các hợp đồng kinh tế, các kế hoạch sản xuất kinh doanh - dịch vụ. Vì thế, chế độ chính sách ATVSLĐ ra đời phải là những công cụ quản lý sắc bén để thúc đẩy sản xuất an toàn và phát triển. Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác ATVSLĐ, mỗi doanh nghiệp phải đề cao trách nhiệm thực hiện các biện pháp về khoa học kỹ thuật, tổ chức, hành chính để loại trừ các yếu tố nguy hiểm và có hại phát sinh trong sản xuất, tạo nên môi trường lao động an toàn, lành mạnh, ngăn ngừa tai nạn lao động và các thiệt hại khác đối với người lao động. Đồng thời, bảo đảm an toàn, bảo vệ sức khỏe và tính mạng người lao động là trực tiếp góp phần bảo vệ và phát triển lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động, xây dựng đơn vị, doanh nghiệp vững mạnh toàn diện.
Hiện nay, Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập 21 Công ước của ILO, với 12 Công ước liên quan trực tiếp đến công tác ATVSLĐ. Các Công ước quy định các nước thành viên phải chủ động các bước để tiến đến môi trường lao động an toàn và lành mạnh thông qua chính sách, hệ thống và chương trình quốc gia về ATVSLĐ phù hợp. Vì vậy, các cam kết quốc tế về ATVSLĐ đã được nội luật hóa trong Luật LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 ATVSLĐ và các văn bản hướng dẫn. Đặc biệt, Luật ATVSLĐ đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2016.
Thực tế cho thấy phần lớn nguyên nhân các vụ tai nạn lao động chủ yếu là do con người. Do đó thực hiện công tác quản lý an toàn, vệ sinh lao đông tại các doanh nghiệp và việc phòng, chống tai nạn lao động phải bắt đầu từ việc người lao động có ý thức tự bảo vệ mình, chấp hành nội quy, quy trình an toàn lao động. Để đảm bảo tính cạnh tranh trên thị trường và tăng cường khả năng hội nhập, các cơ quan quản lý nhà nước cần tăng cường hơn nữa công tác quản lý an toàn, vệ sinh lao động đồng thời các doanh nghiệp luôn chú trọng đầu tư trang thiết bị, máy móc, công nghệ mới nhằm cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động Tuy nhiên, hiện nay có rất nhiều người lao động, đặc biệt là thành phần lao động chân tay, thường nhật phải đối phó với những rủi ro và nguy hiểm nơi làm việc. Xây dựng ATVSLĐ giúp tránh các tai nạn gây thương tích hay tử vong cho chính mình, đồng nghiệp.
Nhằm đưa công tác an toàn, vệ sinh lao động trong lao động trở thành trách nhiệm và ý thức tự giác, thường nhật của mọi người, trở thành văn hoá ứng xử trong lao động ở doanh nghiệp, các nhà lãnh đạo phải xem Văn hóa An toàn lao động cũng là một bộ phận không thể tách rời của Văn hóa Doanh nghiệp, luôn song hành cùng sự phát triển của doanh nghiệp. Trong bối cảnh lan tỏa mạnh mẽ của cách mạng công nghiệp 4.0, khi mọi bước đi cần phải nhanh và liên tục để bắt kịp những xu hướng chung của thế giới. Xây dựng văn hóa trong an toàn lao động trở thành vũ khí tối thượng cho đòn bẩy thành công của các doanh nghiệp trong thời đại ngày nay. Có như vậy các doanh nghiệp mới tạo ra môi trường văn hóa mang bản sắc riêng của doanh nghiệp mình.
Đặc biệt tạo môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư, đối tác an tâm liên doanh liên kết với doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp phát triển một cách bền vững. Nguyên tắc quản lý về an toàn, vệ sinh lao động tại doanh nghiệp Thứ nhất, Nhà nước quy định nghiêm ngặt chế độ an toàn lao động, vệ sinh lao động. An toàn lao động, vệ sinh lao động là có liên quan trực tiếp đến đến sức khỏe, tính mạng của người lao động. Xuất phát từ tầm quan trọng này mà Nhà nước quy định nghiêm ngặt chế độ bảo hộ lao động từ khâu ban hành văn bản pháp luật đến tổ chức thực hiện và xử lý vi phạm.
Nhà nước giao cho cơ quan có thẩm quyền lập chương trình quốc gia về bảo hộ lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động; ban LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 hành hệ thống tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm, về an toàn lao động, vệ sinh lao động. Các đơn vị sử dụng lao động có nghĩa vụ cụ thể hóa các quy định này cho phù hợp với đơn vị minh và nghiêm chỉnh tuân thủ các quy định này. Trong số 6 nhiệm vụ của thanh tra lao động thì nhiệm vụ thanh tra việc chấp hành an toàn lao động, vệ sinh lao động được xếp hàng đầu. Có thể nói trong số các chế định của pháp luật lao động, chế định về an toàn lao động, vệ sinh lao động có tính chất bắt buộc cao mà các chủ thể hầu như ít được thỏa thuận như các chế định.
Thứ hai, thực hiện toàn diện và đồng bộ an toàn lao động, vệ sinh lao động Nguyên tắc thực hiện toàn diện và đồng bộ an toàn lao động, vệ sinh lao động thể hiện trên các mặt sau : - An toàn lao động và vệ sinh lao động là bộ phận không thể tách rời khỏi các khâu lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh. - An toàn lao động và vệ sinh lao động là trách nhiệm của không chỉ người sử dụng lao động mà còn của cả người lao động nhằm bảo đảm sức khỏe tính mạng của bản thân và môi trường lao động… - Bất kỳ ở đâu có tiếp xúc với máy móc, công cụ lao động… thì ở đó phải có an toàn lao động, vệ sinh lao động [19]. Thứ ba, đề cao và đảm bảo quyền và trách nhiệm của tổ chức công đoàn trong việc thực hiện an toàn lao động, vệ sinh lao động. - Công tác an toàn lao động, vệ sinh lao động mang tính quần chúng rộng rãi, do vậy chúng là một nội dung quan trọng thuộc chức năng của bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động của tổ chức công đoàn.
- Trong phạm vi chức năng và quyền hạn của mình, Công đoàn được quyền tham gia với cơ quan Nhà nước xây dựng chương trình quốc gia về an toàn lao động, vệ sinh lao động cũng như xây dựng pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động. Trong phạm vi đơn vị cơ sở, tổ chức công đoàn phối hợp với người sử dụng lao động tuyên truyền giáo dục người lao động tuân thủ các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động.