Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ AN TOÀN LAO ĐỘNG VÀ VỆ SINH LAO ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 1. An toàn lao động và vệ sinh lao động 1. Khái niệm an toàn lao động và đặc điểm 1. Khái niệm Theo tiêu chuẩn về Hệ thống quản lý an toàn, sức khỏe nghề nghiệp (OHSAS 2008) thì an toàn lao động là giải pháp phòng, chống tác động của các yếu tố nguy hiểm nhằm bảo đảm không xảy ra thương tật, tử vong đối với con người trong quá trình lao động.
Đối với tác giả Nguyễn Bá Ngọc (2005) cho rằng, an toàn lao động là đảm bảo nơi làm việc cho người lao động không nguy hiểm đến tính mạng hoặc sức khoẻ không bị tác động xấu. Theo bản thân nhận định, an toàn lao động có thể được hiểu là tổng hợp các biện pháp, phương thức nhằm ngăn chặn, phòng ngừa các tai nạn, sự cố trong quá trình làm việc, lao động. Làm được việc đó sẽ giúp hạn chế tối đa những thương tích, thiệt hại về tài sản, chi phí của doanh nghiệp. Đặc điểm Luật An toàn vệ sinh lao động (2015) quy định việc bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động, do đó các quy định về an toàn lao động mang tính bắt buộc cao.
Theo Hà Tất Thắng (2015) chủ thể quản lý an toàn lao động là nhà nước, là dạng quản lý mang tính quyền lực nhà nước. Nhà nước đã thể chế các biện pháp này thành quy định, tiêu chuẩn, yêu cầu cụ thể có tính chất bắt buộc chung đối với các đơn vị sử dụng lao động, các cá nhân người lao động và các chủ thể có liên quan trong quá trình áp dụng pháp luật. Có thể thấy, phần lớn các văn bản pháp luật đều chứa đựng các quy định “cứng”, không thể thỏa thuận giữa các chủ thể khi tham gia. Trong chế định pháp luật về an toàn lao động vẫn có một số quy định mang tính “định khung” khi xác định quyền lợi tối thiểu của người lao động, nhưng xét một cách khái quát và so sánh với cơ chế điều chỉnh của nhiều chế định khác của Luật lao động, có thể thấy: các quy định về an toàn 7 lao động mang tính “cứng nhắc” hơn và khó có thể có phần linh hoạt để các bên thực hiện trong hợp đồng lao động hoặc thỏa ước lao động tập thể.
Khái niệm vệ sinh lao động và đặc điểm 1. Khái niệm Theo tiêu chuẩn về Hệ thống quản lý an toàn, sức khỏe nghề nghiệp (OHSAS 2008) thì Vệ sinh lao động là giải pháp phòng, chống tác động của yếu tố có hại gây bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe cho con người trong quá trình lao động. Theo Nguyễn Anh Lương (2012) thì vệ sinh lao động là một lĩnh vực khoa học công nghệ chuyên ngành của bảo hộ lao động, nghiên cứu việc quản lý - nhận dạng, đánh giá, kiểm soát nguy cơ của các tác hại nghề nghiệp, các mối nguy hại đối với sức khỏe con người, đề xuất các biện pháp cải thiện môi trường, điều kiện làm việc nhằm bảo vệ sức khỏe, nâng cao khả năng lao động và ngăn ngừa bệnh nghề nghiệp cho người lao động. Có thể hiểu, vệ sinh lao động là các biện pháp đảm bảo môi trường làm việc, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ cho người lao động và giữ vệ sinh môi trường chung.
Hay nói cách khác an toàn lao động chính là giải pháp để không xảy ra tai nạn trong quá trình lao động. Còn vệ sinh lao động là giải pháp để giúp người lao động không bị các bệnh liên quan đến ngành nghề đang làm. Đặc điểm Luật An toàn vệ sinh lao động (2015) quy định về chính sách, chế độ đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, do đó các quy phạm về an toàn lao động, vệ sinh lao động mang tính xã hội rộng rãi. Việc thực hiện đòi hỏi sự tham gia rộng rãi của tất cả các chủ thể; thực hiện đúng, đủ các quy định, tiêu chuẩn cũng chính là hoạt động đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động của mọi chủ thể tham gia quan hệ lao động.
Họ là người thực hiện, giám sát việc thực hiện các quy định và cũng là người phát hiện các yếu tố nguy hiểm, có hại; từ đó yêu cầu, đề xuất biện pháp giải quyết nhằm góp phần đảm bảo và cải thiện điều kiện lao động ngày một tốt hơn. Do vậy, công tác vệ sinh lao động chỉ có hiệu quả khi mọi ngành, mọi tổ chức, mọi cá nhân tự giác thực hiện. Do đó, các quy định về vệ sinh lao động thường mang tính xã hội. 8 Hà Tất Thắng (2015) cho rằng, quy định về vệ sinh lao động đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe của người lao động.
Lao động an toàn là yêu cầu tất yếu khách quan của quá trình sản xuất, người lao động vừa tác động tới môi trường xung quanh vừa chịu các tác động ngược trở lại của môi trường nơi họ lao động. Do hoạt động sản xuất là một trong những nguyên nhân gây tác hại đến môi trường sống, cùng với sự phát triển của văn minh nhân loại, những tiến bộ về trình độ khoa học kỹ thuật, công nghệ sản xuất cũng tăng lên góp phần đáng kể vào sự tiến bộ của xã hội nhưng mặt khác lại làm cho môi trường sống, môi trường lao động ngày càng xấu đi. Môi trường lao động ngày càng đa dạng, phức tạp, nguy hiểm đòi hỏi công tác vệ sinh lao động phải được phát triển tương xứng. Công tác vệ sinh lao động được thực hiện tốt sẽ giảm thiểu các chi phí về y tế và bảo hiểm xã hội không cần thiết đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; cũng như góp phần bảo vệ môi trường sống của con người.
Hiệu quả của việc thực hiện tốt công tác này góp phần giảm tới mức thấp nhất sự tiêu hao lao động và những tổn thất về vật chất, con người và môi trường. Khái niệm về tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp 1. Khái niệm về tai nạn lao động Theo khoản 8 Điều 3 Luật an toàn, vệ sinh lao động số 84/2015/QH13 thì tai nạn lao động được định nghĩa: Tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động. Tai nạn lao động là tai nạn xảy ra trong quá trình trực tiếp hoặc liên quan đến lao động, công tác do tác động đột ngột của các yếu tố nguy hiểm từ bên ngoài làm chết người hoặc làm tổn thương hay hủy hoại chức năng hoạt động bình thường của một bộ phận nào đó của cơ thể (Hà Tất Thắng, 2015).
Khi người lao động bị nhiễm độc đột ngột với sự xâm nhập vào cơ thể một lượng lớn các chất độc, có thể gây chết người ngay tức khắc hoặc hủy hoại chức năng gan, thận,… thì gọi là nhiễm độc cấp tính và cũng được gọi là tai nạn lao động. Khái niệm về bệnh nghề nghiệp Theo khoản 9 Điều 3 Luật an toàn, vệ sinh lao động số 84 thì thì Bệnh nghề nghiệp là bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp tác động đối với người lao động. Một hiện trạng bệnh lý mang tính chất đặc trưng nghề nghiệp hoặc liên quan đến nghề nghiệp mà nguyên nhân sinh bệnh là do tác hại kéo dài và thường xuyên của điều kiện lao động xấu. Cũng có thể nói rằng đó là sự suy yếu dần về sức khỏe, gây nên bệnh tật cho người lao động do tác động của các yếu tố nguy hiểm, có hại phát sinh trong quá trình sản xuất lên cơ thể người lao động được gọi là bệnh nghề nghiệp (Nguyễn Anh Lương, 2012).
Vai trò của an toàn vệ sinh lao động trong Doanh nghiệp Có thể nói, an toàn lao động có vai trò và ý nghĩa vô cùng quan trọng không chỉ đối với người trực tiếp lao động, doanh nghiệp sử dụng lao động mà còn ảnh hưởng tới sự phát triển chung đối với nền kinh tế và toàn xã hội. Nói cách khác, khi vấn đề an toàn và vệ sinh lao động được thực hiện hiệu quả là góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và giảm gánh nặng đối với xã hội. Đối với doanh nghiệp, bảo đảm an toàn cho người lao động sẽ giúp cắt giảm tối đa các chi phí do tai nạn gây ra. Không những vậy, xét về mặt vĩ mô, công tác an toàn, vệ sinh lao động được thực hiện chặt chẽ, nghiêm ngặt, góp phần tạo được niềm tin và uy tín thương hiệu đối với người lao động cũng như công chúng cho doanh nghiệp.
Mục đích của an toàn - vệ sinh lao động là thông qua các biện pháp về khoa học kỹ thuật, tổ chức, kinh tế, xã hội để loại trừ các yếu tố nguy hiểm và có hại phát sinh trong sản xuất, tạo nên một điều kiện lao động thuận lợi và ngày càng được cải thiện tốt hơn, ngăn ngừa tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hạn chế ốm đau và giảm sức khỏe cũng như các điều kiện khác đối với người la động nhằm đảm bảo an toàn, bảo vệ sức khỏe và tính mạng của người lao động, góp phần bảo vệ và phát triển lực lượng sản xuất, tăng năng xuất lao động. Theo tác giả đánh giá, An toàn lao động trước hết là một phạm trù sản xuất, nhằm bảo vệ yếu tố năng động nhất của lực lượng sản xuất là người lao động. Mặt 10 khác việc chăm lo sức khỏe cho người lao động, mang lại hạnh phúc cho bản thân và gia đình họ còn có ý nghĩa nhân đạo. Quản lý an toàn lao động, vệ sinh lao động của doanh nghiệp 1.
Khái niệm về quản lý an toàn lao động, vệ sinh lao động Hà Tất Thắng (2015) cho rằng: Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất. Ông đã đưa ra các tư tưởng chính của thuyết quản lý theo khoa học là: Tiêu chuẩn hóa công việc, chuyên môn hóa lao động, cải tạo các hệ quản lý. Về quản lý hành chính, Ông cho rằng: Quản lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức điều khiển, phối hợp và kiểm tra. Ông là người đầu tiên nêu một cách rõ ràng các yếu tố của quá trình quản lý, cách thức phân tích một quá trình quản lý phức tạp thành các chức năng tương đối độc lập và mang tính phổ biến gồm các chức năng: Dự đoán – Lập kế hoạch; Tổ chức; Điều khiển; Phối hợp; Kiểm tra.