Phần mở đầu (gồm 3 điểm đầu) nói về lịch sử của khoa học tự nhiên và liên hệ của nó với triết học, Ăngghen phân tích tình trạng khoa học tự nhiên thời đó và trình bày những điểm chung của phép biện chứng duy vật với tư Luan van 15 cách là khoa học về liên hệ phổ biến và những quy luật chủ yếu của nó: quy luật chuyển hoá lượng thành chất và ngược lại, quy luật xâm nhập vào nhau của các mặt đối lập và quy luật phủ định của phủ định. Phần thứ hai là phần chủ yếu, nói về phân loại các khoa học tự nhiên và nêu những ý kiến về từng môn khoa học và nội dung biện chứng của khoa học đó. Phần này gồm điểm 4 và điểm 5 của đề cương (điểm 5 lại có 5 điểm nhỏ). Phần cuối cùng gồm có 6 điểm, gồm các điểm 6, 7, 8, 9, 10 và 11.
Ăngghen định phê phán và vạch trần những xu hướng thế giới quan trong “thuyết không thể biết” (nhận thức có giới hạn), chủ nghĩa máy móc (quy những hình thức vận động cao thành hình thức thấp), Thuyết sức sống, chủ nghĩa Đácuyn về xã hội,… Ăngghen vạch trần và giải thích những sai lạc của các nhà tư tưởng tư sản về các hiện tượng xã hội (áp dụng một cách vô lý những quy luật của tự nhiên hữu sinh vào xã hội), đồng thời nêu nhiệm vụ chứng minh rằng: con người nhờ lao động mà tách ra khỏi giới động vật. Quyển sách dự định kết thúc bằng phần xem xét các hiện tượng xã hội, bước đầu vạch ra mối liên hệ biện chứng giữa các hiện tượng tự nhiên với các hiện tượng xã hội, biện chứng của tự nhiên và biện chứng của xã hội. QUAN ĐIỂM CỦA PH.ĂNGGHEN VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TỰ NHIÊN VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA LOÀI NGƢỜI 1. Quan điểm của Ph.Ăngghen về sự phát triển của tự nhiên - Ph.Ăngghen đã kế thừa một cách có hệ thống và có cơ sở từ những phát minh khoa học lúc bấy giờ để nghiên cứu về sự phát triển của thế giới tự nhiên, về vũ trụ và sự hình thành con người, điển hình như giả thuyết của Cant về sự hình thành và phát triển của trái đất và hệ thống mặt trời, thuyết tiến hoá địa chất, thuyết bảo toàn và chuyển hoá năng lượng, thuyết tiến hoá các giống loài của Đac-uyn, thuyết cấu tạo tế bào… Ph.Ăngghen cho rằng, Luan van 16 những phát minh khoa học này đã tạo ra một quan niệm mới về giới tự nhiên và phủ định quan niệm siêu hình về tính bất di bất dịch của giới tự nhiên.
“Quan niệm mới về giới tự nhiên đã được hoàn thành trên những nét cơ bản: tất cả cái gì cứng nhắc đều bị tan rã, tất cả cái gì là cố định đều biến thành mây khói, và tất cả những gì đặc biệt mà người ta cho là tồn tại vĩnh cửu thì đã trở thành nhất thời; và người ta đã chứng minh rằng toàn bộ giới tự nhiên đều vận động theo một dòng và một tuần hoàn vĩnh cửu” [39, tr. Điều này đã được Ph.Ăngghen lý giải rằng giới tự nhiên không bất biến, đứng im và không thay đổi, mà giới tự nhiên luôn luôn vận động theo thời gian và không gian, không có một vật thể nào, một sự vật và hiện tượng nào mãi mãi tồn tại một cách vĩnh hằng. Thế giới tự nhiên luôn vận động và phát triển.Ăngghen đã phác hoạ ra bức tranh về sự tiến hoá của giới tự nhiên: “Từ những đám tinh vân đỏ rực quay tít. mà từ đó đã hình thành vô số mặt trời và hệ thống mặt trời của cái hòn đảo vũ trụ của chúng ta” [39, tr.
Những thiên thể cá biệt được hình thành như vậy, đầu tiên vận động nhiệt năng chiếm ưu thế, sau đó nhiệt chuyển thành điện hay thành từ. Các thiên thể nguội dần. Các thiên thể càng nhỏ thì nguội nhanh hơn, các thiên thể ở trung tâm thì nguội chậm hơn. Sự giảm nhiệt độ đã làm cho các hình thức vận động của sự vật xuất hiện dần dần tuỳ theo những điều kiện mới (từ hình thái vận động vật lý dẫn đến sự xuất hiện hình thức vận động hóa học).
Hành tinh có được cái vỏ cứng và nước tích tụ trên bề mặt của nó. Cuối cùng nhiệt độ giảm xuống tới mức mà các giới hạn trong đó an-bu-min (chất sống đầu tiên, sơ đẳng) có thể sống được [39, tr. Sinh vật phát triển từ đơn bào đến đa bào. Bản chất của sự sống là “phương thức tồn tại của những thể an-bu-min, và phương thức tồn tại ấy chủ yếu là ở chỗ các thành phần hoá học của những vật thể ấy luôn luôn đổi mới Luan van 17 thông qua dinh dưỡng và điều tiết” [39, tr.
Điều này về sau đã được Ăngghen trình bày trong tác phẩm “Chống Đuy-ring”. Quan điểm của Ph.Ăngghen về sự ra đời của loài ngƣời Ph.Ăngghen đã phân tích một cách logic về quá trình tiến hoá của thế giới sinh vật, từ chất an-bu-min không có hình thù nhất định, đến tế bào đầu tiên với cái nhân và cái màng bọc bên ngoài, các loài sinh vật nguyên thuỷ không tế bào và có tế bào, những cây cỏ đầu tiên dần dần được phân hoá, những động vật đầu tiên đã phát triển, tiếp tục phân hoá thành vô số giống loài động vật, đến các loài có xương sống với hệ thống thần kinh phát triển đầy đủ nhất, cuối cùng trong các loài có xương sống mà trong đó giới tự nhiên đạt tới trình độ tự nhận thức được mình đó là con người. 474-475] Như vậy chúng ta có thể thấy được rằng con người xuất hiện trên trái đất không phải do thần thánh sinh ra, mà là kết quả của quá trình tiến hoá lâu dài của tự nhiên. Một số ngành khoa học tự nhiên cho rằng: con người từ vượn mà ra.
Thực chất cách nói như vậy không hoàn toàn đúng, vì nói như vậy người ta hình dung con người là do giống vượn ngày nay mà ra. Thực ra giống vượn hiện nay không thể đẻ ra người được, nó khác với người, như lợn rừng khác lợn thường. Có thể tổ tiên của các loài vượn hiện nay và tổ tiên của loài người giống nhau. Đến một giai đoạn phát triển nào đó có sự nhảy vọt thay đổi về chất và từ một tổ tiên chung đã đẻ ra giống vượn người và giống khỉ.
Chính giống vượn người ấy dần dần đã trở thành người thượng cổ và thành người như bây giờ. Bước chuyển quan trọng từ vượn thành người là việc người đi theo tư thế thẳng đứng, hai chi trước được giải phóng tự do hơn hai chi sau để làm những chức năng khác. Khi việc đi thẳng trở thành thường lệ, và sau đó trở thành tất yếu, thì nhờ có bàn tay con người quen làm được nhiều chức năng và Luan van 18 chủ yếu nhất trong việc chuyển từ vượn thành người là con người bắt đầu làm ra công cụ. Nên đặc biệt chú ý điều này, bước nhảy vọt có tính quyết định trong việc từ vượn thành người và con người biết làm công cụ, chứ không nên chỉ thấy rằng vượn đi hai chân mà cho đó là một đặc điểm chuyển thành người.
Thật ra con vượn khi nào cũng có thể đi hai chân được và nếu chúng ta dạy cho nó thì nó cũng đứng thẳng được. Nhưng không có một động vật nào có thể tự nó làm ra công cụ. Ăngghen khẳng định: “Chưa hề có một bàn tay vượn nào có thể chế tạo ra được một con dao bằng đá dù thô sơ nhất… Nhưng bước quyết định đã được hoàn thành: bàn tay đã được giải phóng, từ đấy, nó có thể đạt được ngày càng nhiều những sự khéo léo mới, và sự mềm mại hơn đã đạt được đó được di truyền lại và cứ tăng lên mãi từ thế hệ này sang thế hệ khác”. “Cả con người cũng xuất hiện nhờ sự phân hóa và không những phân hóa về phương diện cá thể - bằng cách phát triển từ một tế bào trứng duy nhất đến một cơ thể phức tạp nhất mà giới tự nhiên sản sinh ra được- mà còn phân hóa theo ý nghĩa lịch sử nữa.
Sau cuộc đấu tranh kéo dài hàng nghìn năm, cuối cùng bàn tay đã phân biệt với bàn chân và dáng đi thẳng đã được xác lập vững chắc rồi, thì con người tách khỏi con khỉ, và mới có cơ sở cho sự phát triển của tiếng nói có âm tiết và cho sự phát triển mạnh mẽ của bộ óc, sự phát triển đã làm cho cái vực sâu giữa người và khỉ từ đó trở nên không thể vượt qua”. 475] Như vậy, từ các cách phân tích của Ăngghen chúng ta có thể gói gọn lại với hai cách tiếp cận. Thứ nhất, con người và giới tự nhiên được hình thành từ những chất cơ bản chất, qua quá trình vận động và biến đổi từ đó mới hình thành nên giới tự nhiên và con người. Thứ hai, con người trở thành người với một điểm xuất phát là từ một loài vượn người, qua thời gian với sự tác động của nội và ngoại cảnh, loài vượn người này dần dần trở thành người như bây giờ.
Vai trò của lao động trong việc chuyển biến từ vƣợn thành ngƣời - Vai trò của lao động trong việc hình thành con người. Ăngghen nói: “Các nhà kinh tế chính trị khẳng định rằng lao động là nguồn gốc của mọi của cải. Lao động đúng là như vậy, khi đi đôi với giới tự nhiên là cái cung cấp những vật liệu cho lao động biến thành của cải. Nhưng lao động còn là một cái gì vô cùng lớn lao hơn thế nữa.
Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người, và như thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: lao động đã sáng tạo ra bản thân con người”.641] Đề cập đến vai trò của lao động trong việc hình thành con người, Ph.Ăngghen cho rằng: Lao động tạo ra dáng đi thẳng, lao động rèn luyện cơ năng và giác quan, bàn tay của con người.Ăngghen khẳng định: “Như vậy, bàn tay không những là khí quan của lao động, mà còn là sản phẩm của lao động nữa.