CHƯƠNG 1 LY LUAN VE PHAT TRIEN XA HQI VA MOI TRUONG SINH THAI 1. KHAI NIEM VE PHAT TRIEN XÃ HỘI VÀ MOI TRƯỜNG SINH THAL 1. Phát triển xã hội Xã hội với tư cách là một chỉnh thể vật chất toàn vẹn luôn vận động, biến đôi và phát triển. Theo nghĩa chung nhất, phát triển là thuộc tính bản chất, phố vốn có của thế giới vật chất, là xư hướng chung của tự nhiên, xã hội, tư duy.
Theo quan niệm duy vật biện chứng, phát triển là sự biến đổi không thuận nghịch về mặt chất lượng của sự vật từ thấp lên cao, sự biến đổi do sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập ở bên trong sự vật tạo ra, tất yếu. dẫn tới sự nhảy vọt về chất, là quá trình phủ định cái cũ, khẳng định cái mới, tạo ra khuynh hướng tiến lên của sự vật. Phát triển là xu thế khách quan nằm ngoài ý thức con người, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Sự phát triển kinh tế - xã hội không chỉ bao gồm sự tăng trưởng về mặt kinh tế mà còn bao gồm các chỉ tiêu về sự phát triển con người và xã hội như: tuổi thọ bình quân, tỷ lệ người lớn biết chữ, thu nhập bình quân đầu người. Mọi sự biến đôi, phát triển kinh tế - xã hội của xã hội đều có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với môi trường sống.
Do đó nhiệm vụ bảo vệ môi trường sống. vừa là điều kiện của sự phát triển, đồng thời là điều kiện tất yếu của sự tồn tại, phát triển của con người và xã hội Có nhiều cách tiếp cận khác nhau đối với sự phát triển xã hội. Theo quan niệm của triết học Mácxít - cách tiếp cận hình thái kinh tế - xã hội hay gọi tắt là “cách tiếp cận hình thái” thì phát triển xã hội là sự phát triển kế tiếp nhau " của các hình thái kinh tế xã hội từ thấp lên cao, cụ thẻ là từ hình thái kinh tế - xã hội Nguyên thủy đến Chiếm hữu nô lệ, đến Phong kiến rồi đến Tư bản chủ nghĩa và đỉnh cao của sự phát triển đó là hình thái kinh tế - xã hội Cộng sản chủ nghĩa mà chủ nghĩa xã hội mới chỉ là giai đoạn đầu. Quá trình phát triển kế tiếp nhau của các hình thái kinh tế - xã hội được C.Mác coi đó là một quá trình lịch sử - tự nhiên.
Một cách tiếp cận khác đối với quá trình phát triển xã hội đang được quan tâm đó là cách tiếp cận theo nền văn minh của nhà tương lai học người Mỹ A. Theo cách tiếp cận này thì lich sử xã hội là sự kế tiếp nhau của các nền văn minh: văn minh nông nghiệp, văn minh công nghiệp và van minh hậu công nghiệp hay còn gọi là văn minh tin học, được A.Toffler gọi đó là ba làn sóng của lịch sử. Làn sóng thứ ba - nền văn minh tin học (văn minh trí tuệ) đang “tràn qua” xã hội với một tốc độ nhanh chưa từng có. Theo chúng tôi hiểu, về thực chất cách tiếp cận “nền văn minh” đối với sự phát triển của lịch sử xã hội có thể bỗ sung và làm phong phú thêm quan niệm về sự phát triển xã hội.
Tuy nhiên, cách tiếp cận “hình thái” sâu sắc và toàn diện hơn vì nó đề cập. tới lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, cơ sở hạ tẳng, kiến trúc thượng tẳng, mối liên hệ tác động lẫn nhau của các yếu tố cơ bản đó của xã hội, đặc biệt là chú trọng đến yếu tố con người trong lực lượng sản xuất. Còn cách tiếp cận “nền văn minh” lại làm rõ hơn vai trò quyết định của lực lượng sản xuất, yếu tố kỹ thuật- công cụ sản xuất đối với sự phát triển của xã hội. Ngày nay, đã và đang xuất hiện nhiều quan niệm, mô hình khác nhau về sự phát triển xã hội, chúng phụ thuộc vào điểm xuất phát về kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ của các quốc gia, khu vực và sự chỉ phối của các quan điểm chính trị - xã hội.
Trong thời gian qua, nhiều quan điểm, nhiều mô hình phát triển xã hội có đặc trưng chung là đã qua dé cao va tap trung chủ yếu vào các yếu tố kinh tế, yếu tố kỹ thuật - công nghệ, tuyệt đối hóa các yếu tố đó, 12 coi chúng như những tiêu chí qu) sự đồng nhất phát triển xã hội với tông thu nhập quốc dân, thu nhập quốc dân tính theo đầu người, tỷ trọng nông nghiệp, tỷ trọng công nghiệp trong nền kinh tế, coi văn hóa phương Tây là mô hình phát triển chung, tối ưu của xã hội. Chính quan điểm coi sự phát triển xã hội dựa vào các quan điểm, mô hình trên với những tiêu chí phát triển cực đoan, lệch hẳn về mục tiêu kinh tế đã dẫn đến tai họa cho môi trường sống như nạn cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường sống, sự phân cực sâu sắc giữa các nước giàu và các nước nghẻo, giữa người giàu và người nghèo; tranh chấp tài nguyên, nguồn nước; chạy đua vũ trang và chiến tranh hạt nhân. Nền văn minh công. nghiệp đã tồn tại trên thế giới hơn 300 năm, thế nhưng, cho đến nay, một bộ.
phận đáng kể loài người vẫn đứng trước nguy cơ nghèo đói, bệnh tật, khủng hoảng môi trường sống. Đó là những vấn đẻ đang đe dọa sự sống của hành. tỉnh chúng ta. Mọi tai họa đều có thể xảy ra nếu như con người và xã hội loài người không thay đổi chiến lược phát triển của mình.
Quan niệm vẺ sự phát triển bên vững đã xuất hiện thể hiện yêu cầu mới về nội dung phát triển của xã hội hiện đại Điều 3 - Luật báo vệ môi trường của nước Việt Nam năm 2005 ghỉ rõ: “Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ. xã hội và bảo vệ môi trường”. Kinh tế học cũng đã xác định: “Phát triển bền vững: là quá trình phát triển lành mạnh, trong đó sự phát triển của công đồng người này không làm thiệt hại đến lợi ích của cộng đồng người khác, sự phát triển của thế hệ hôm nay không xâm phạm đến lợi ích của các thé hé mai sau va sự phát triển của loài người không đe dọa sự sống còn hoặc làm suy giảm nơi sinh sống của các loài khác trên hành tỉnh” [49, tr. 13 Phát triển bền vững là xu hướng mà tắt cả các quốc gia hiện nay lựa chọn.
Đó là sự đầu tư cho triển trình phát triển kinh tế - xã hội của hiện tại đồng thời tạo tiền đề tốt cho các thế hệ tương lai. Bảo đảm cho sự phát triển kinh tế hiện tại nhưng không làm mắt đi cơ hội và gây khó khăn cho các thế hệ mai sau. Trong phát triển bền vững thì tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường được coi là mối quan hệ song hành và cần được duy trì ở trạng thái cân bằng. Nhu vay, trong xu hướng phát triển của xã hội, trước những thành tựu đã đạt được cũng như những nguy cơ con người đang và sẽ đối mặt, nhân loại đang hướng đến một quan điểm phát triển bền vững.
Trong đó, sự phát triển về kinh tế không phải là tiêu chuẩn duy nhất của xã hội mà còn phải đảm bảo. các yếu tổ khác cho con người mà môi trường là nhân tố không thể thiếu. Môi trường sinh thái Luật bảo vệ môi trường của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Điều 3, mục 1 định rõ: “môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vat” [37, tr. Là đối tượng nghiên cứu của khoa học môi trường, môi trường bao gồm.
“tắt cả các yếu tố sống và không sống ở xung quanh chúng ta. Như vậy, môi trường được hiểu gồm: không khí, đại đương và lục địa, trong đó có cả sinh vật (động vật, thực vật va vi sinh vật) sinh sống” [11, tr. Theo Từ điển tiếng ¡- “Môi trường là toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên, xã hội, trong đó, con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong quan hệ với con người, với sinh vật ấy. Môi trường sinh thái là toàn bộ các điều kiện vô cơ và hữu cơ của các hệ sinh thái ảnh hưởng đến hoạt động.
sản xuất và mọi hoạt động khác của xã hội loài người” [57, tr.397] Quan điểm triết học Mác - Lênin cho rằng: “môi trường là nơi sinh sống và hoạt động của con người, là nơi tồn tại của xã hội. Đó là môi trường sinh địa 14 ~ hóa học, hay sinh quyền. Sinh quyền là vùng lưu hành sự sống trên trái đất, là một hệ thống mở vẻ nhiệt động học, bao gồm toàn bộ các cơ thể sống (sinh thể), các sản phẩm và các chất thai trong quá trình hoạt động sống của chúng, đồng thời bao gồm cả phần khí quyển (không khí), thủy quyền (nước), thạch quyền (đất đá) và năng lượng mặt trời, nơi đã và đang có sự sống” [28, tr425] Môi trường sống của con người không đơn giản chỉ là môi trường địa lý - các điều kiện địa lý như trước đây đã từng quan niệm, cũng không chỉ là môi trường tự nhiên thuần túy (điều kiện địa lý cộng với thể giới sinh vật), ma phải là môi trường tự nhiên - xã hội hay môi trường “tự nhiên người hóa”, bởi vì, con người là một thực thể sinh học - xã hội hay là một động vật xã hội. Ngày nay, môi trường sống của con người và xã hội thường được gọi là môi trường, sinh thái.
Thực chất của vấn đề môi trường sinh thái đang được cả loài người quan tâm là vấn đề mối quan hệ qua lại và sự tác động lẫn nhau giữa con người, xã hội và tự nhiên. Tóm lại, môi trường là tat cả những gì có xung quanh con người, là cơ sở để con người, xã hội loài người sống và phát triển, có thể chia thành hai loại môi trường: môi trường xã hội và môi trường tự nhiên. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, vấn đề môi trường được luận văn xem xét ở khía cạnh môi trường tự nhiên với các yếu tổ tự nhiên đóng vai trò là điều kiện thiết yếu cho. sự tổn tại và phát triển của con người và xã hội loài người.