CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Nghiên cứu về trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn bè của vị thành niên. • Nghiên cứu về các dạng trải nghiệm tiêu cực của vị thành niên Quan hệ bạn bè có vai trò rất quan trọng cho sự phát triển cảm xúc, xã hội và nhân cách của trẻ vị thành niên.
Vì vậy những nghiên cứu về trải nghiệm bạn bè cũng được các nhà nghiên cứu quan tâm và phần lớn các nghiên cứu tập trung hướng đến các trải nghiệm tiêu cực. Trong nghiên cứu của mình, Asher (2001) đã đưa ra danh mục các vấn đề tiêu cực trong quan hệ bạn bè gồm 32 kiểu tẩy chay/ từ chối được chia thành 6 nhóm. Đó là: Loại trừ và chấm dứt tương tác (chối bỏ, tẩy chay, xua đuổi, làm ngơ/ lờ đi…), Tẩy chay quyền tiếp cận (không chơi với, tẩy chay quyền tiếp cận người khác, tẩy chay quyền tiếp cận tài nguyên…), Gây hấn/ bạo lực/ bắt nạt (gây hấn về thể chất, bằng lời nói, gây thiệt hại về vật chất.), Sự thống trị (ra lệnh, gây mâu thuẫn…), Qui gán vi phạm về mặt đạo đức (không chấp thuận, đổ lỗi…), Có sự tham gia của bên thứ ba (mách tội, khen ngợi người tẩy chay, tẩy chay của bên thứ ba). Dựa trên danh mục của Asher (2001), Lev-Wiesel và cộng sự (2013) đã xây dựng 1 thang đo lường vấn đề tiêu cực trong quan hệ bạn bè.
Theo đó, các thành phần cấu thành của sự tẩy chay của bạn bè sẽ được phản ánh trong thang đo gồm 4 khía cạnh. Đó là: Bị xúc phạm, bị phớt lờ, bị đổ lỗi, và bị bạo lực và hách dịch. Mô hình này ngắn gọn và tập trung vào một số vấn đề nổi cộm và phổ biến nhất trong quan hệ bạn bè hiện nay của trẻ. Dù có những khác biệt nhưng các mô hình trên đều có những khía cạnh quan tâm chung như tẩy chay và bạo lực/bắt nạt.
Một điều đáng lưu ý là tất cả các dạng trải nghiệm tiêu cực này đều được đặt dưới cái ô mang tên tẩy chay xã hội (social rejection). Như 5 thế, theo Asher và Lev-Wiesel, tẩy chay xã hội bao gồm trong đó các hành vi phớt lờ, loại trừ, đổ lỗi và cả bắt nạt, gây hấn, bạo lực. Xuất phát từ quan điểm về cái tôi xã hội khác biệt (social self – discrepancy), Kupersmidt và cộng sự (1996) đã tổng hợp các kết quả nghiên cứu và đề xuất 5 nhóm vấn đề sau trong quan hệ bạn bè đồng lứa của học sinh có thể dẫn đến hành vi điều chỉnh sai của trẻ ở trường. Đó là: Bị tẩy chay, Thiếu quan hệ tương hỗ, Không được quan tâm, thấu hiểu, Thiếu mạng lưới xã hội và Vấn đề về đặc điểm của người bạn được coi là tốt nhất của trẻ.
Phải hứng chịu, trải nghiệm những hành vi này từ bạn bè có thể dẫn đến những vấn đề về điều chỉnh sai, rối loạn hành vi ở trẻ vị thành niên. Các dạng hành vi bắt nạt bao gồm các hình thức: Bắt nạt về thể chất (hình thức đe dọa rõ ràng nhất và có thể bao gồm đá, đánh, cắn, véo, giật tóc và đe dọa), Bắt nạt bằng lời nói (gọi tên xấu, lan truyền tin đồn và trêu chọc dai dẳng), Đe dọa về mặt tình cảm (cố tình loại bạn khỏi một hoạt động nhóm như tiệc tùng hoặc đi chơi ở trường), Bắt nạt phân biệt chủng tộc (nói xấu chủng tộc, chế giễu phong tục văn hóa của nạn nhân và có cử chỉ xúc phạm), Bắt nạt tình dục (tiếp xúc vật lý không mong muốn hoặc bình luận lăng mạ liên quan đến tình dục), Bắt nạt trên mạng (sử dụng các phương tiện điện tử qua máy tính và điện thoại di động để hành hạ, đe dọa, quấy rối, làm nhục, làm xấu hổ) (Storm out bullying, n. Theo Brank và cộng sự (2012), có 4 dạng bắt nạt gồm: thể chất, lời nói, tâm lý, và bắt nạt qua mạng xã hội. Berger và cộng sự (2014) cũng phân chia bắt nạt thành 4 loại: thể chất, bằng lời, quan hệ và bắt nạt qua mạng.
Có thể thấy, trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn bè bao gồm việc hứng chịu nhiều dạng hành vi khác nhau, từ trực tiếp đến qua mạng. Mỗi tác giả có những cách phân loại riêng từ quan điểm của mình, nhưng nói chung có thể gộp thành hai dạng phổ biến là tẩy chay và bắt nạt. Dưới mỗi dạng này là những hành vi tẩy chay hoặc bắt nạt cụ thể mà nạn nhân của quan hệ bạn bè phải hứng chịu. 6 • Nghiên cứu về hiện trạng các trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn bè Những nghiên cứu về hiện trạng các trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn bè đã chỉ ra rằng mọi đứa trẻ đều đã từng trải qua những căng thẳng xã hội và xung đột bạn bè ở các mức độ khác nhau, và 10 đến 15% gặp khó khăn nghiêm trọng và mắc các rối loạn tâm lý bởi các vấn đề trong quan hệ bạn bè, bao gồm bị tẩy chay, bị loại trừ xã hội và trở thành nạn nhân của bắt nạt, bạo lực (Bierman, 2004 ; Gresham, Cook, Crews & Kern, 2004).
Nghiên cứu của Masten và cộng sự (2009) cho thấy, có đến khoảng 30% trẻ em bị bạn bè tẩy chay với các hình thức khác nhau ở trường học. Nghiên cứu của Phan Thị Mai Hương và cộng sự (2021) đã chỉ ra có tới 86% số học sinh đã từng trải nghiệm các vấn đề trong quan hệ bạn bè. Loại vấn đề trong quan hệ bạn bè phổ biến hơn cả là bị tẩy chay và bị xúc phạm. Trên toàn thế giới, bắt nạt được thừa nhận là một vấn đề nghiêm trọng (Smith, Madsen, Moody, 1999; Wei & Huang, 2005), ảnh hưởng đến hàng triệu trẻ em trong trường học.
Tác giả Schwartz và các cộng sự (2011) cũng như của Longobardi và cộng sự (2017) đồng quan điểm và cho rằng bắt nạt, bạo lực trường học là phổ biến và là vấn đề nghiêm trọng trên phạm vi toàn cầu trong mối quan hệ với bạn đồng lứa tuổi vị thành niên. Báo cáo chỉ ra nhiều hình thức bạo lực mà học sinh phải đối mặt trong và xung quanh trường học. Theo số liệu năm 2018 từ UNICEF: - Trên toàn cầu, cứ 3 em học sinh trong độ tuổi 13-15 thì có hơn 1 em từng bị bắt nạt, và tỷ lệ học sinh tham gia đánh nhau cũng gần như vậy. - Cứ 10 sinh viên tại 39 quốc gia công nghiệp thì có 3 em thừa nhận đã từng bắt nạt bạn đồng trang lứa.
- Tuy trẻ em gái và bé trai có nguy cơ bị bắt nạt như nhau, nhưng các bé gái có nhiều khả năng trở thành nạn nhân của các hình thức bắt nạt tâm lý hơn còn các bé trai có nguy cơ bị bạo lực và đe dọa về thể chất. 7 Thực trạng bắt nạt được nghiên cứu và cập nhật trong các nghiên cứu khoa học. Có 51,7% là nữ, 12,0% bắt nạt, 15,9% là học sinh bắt nạt. Trong đó bị bắt nạt, 52,1% bị bắt nạt bằng lời nói và 13,4% bị bắt nạt về thể chất.
Học sinh nam bị bắt nạt nhiều hơn nữ sinh 1,5 lần và học sinh ở cha mẹ ly thân bị bắt nạt nhiều hơn 2,7 lần so với những trẻ có cha mẹ sống cùng nhau (Çalışkan, Z. Trong các nghiên cứu khảo sát của Schwartz, nhiều thanh thiếu niên báo cáo rằng họ đã bị bạn bè bắt nạt vào một số thời điểm trong năm học. Tuy vậy, đối với hầu hết những thanh niên này, sự ngược đãi của những người bạn đồng trang lứa không trở thành một vấn đề đáng kể và có cường độ tương đối nhẹ. Nhưng với một số khác, tình hình lại rất nghiêm trọng.
Điều đó cho thấy mối quan hệ giữa bị bắt nạt với hệ quả về sức khỏe tâm thần có thể chịu sự ảnh hưởng khác cần được quan tâm. Tại Việt Nam, các nghiên cứu về bắt nạt và bạo lực học đường tương đối nhiều trong thời gian gần đây. Bạo lực, gây hấn hay bắt nạt học đường diễn ra bằng nhiều con đường, bằng nhiều hình thức khác nhau, không chỉ có trực tiếp trong đời sống học đường, mà còn gián tiếp qua phương tiện trực tuyến. Nguyễn Thị Bích Hạnh, Trần Văn Công (2017) chỉ ra 16,7% học sinh từng là nạn nhân của bắt nạt trực tuyến.
Trong một nghiên cứu khác, Trần Văn Công và cộng sự (2019) chỉ ra 51,6% học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông tại địa bàn Hà Nội đã bị bắt nạt trực tuyến, bị bắt nạt truyền thống hoặc bị bắt nạt bằng cả hai hình thức này. Nguyễn Thị Nhân Ái, Phạm Thị Diệu Thúy (2019), Bùi Thị Thu Huyền (2020), Nguyễn Thị Anh Thư (2020) cho thấy hành vi gây hấn với bạn bè với các hình thức khác nhau chiếm tỷ lệ khá cao ở học sinh (thậm chí tỷ lệ đó là 96,6% trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Anh Thư). Tương ứng với đó là tỷ lệ học sinh phải chịu đựng các loại hành vi này. Con số này ở nghiên cứu của Lê Thị Hải Hà và cộng sự (2017) là khoảng 60% trong số tất cả học sinh được khảo sát đã từng bị bắt nạt với tư cách là nạn nhân, kẻ bắt nạt hoặc 8 nạn nhân bị bắt nạt trong năm.
Trong số những sinh viên này, gần ba phần tư cho thấy vai trò bắt nạt không ổn định theo thời gian. Các yếu tố về bạn bè (hỗ trợ xã hội, nỗ lực của học sinh để ngăn chặn bắt nạt ở trường), sự giám sát của cha mẹ, yếu tố trường học (nhận thức được sự hỗ trợ của xã hội, nỗ lực của giáo viên để ngăn chặn bắt nạt ở trường) đều có mối liên hệ đáng kể với mức độ tham gia bắt nạt. Có thể thấy tại Việt Nam, chủ đề bắt nạt và bạo lực học đường đã và đang được các nhà nghiên cứu quan tâm nhưng các trải nghiệm như tẩy chay thì chưa được quan tâm đầy đủ như một hiện tượng độc lập, dù các trải nghiệm này không phải hiếm. Chúng thường được ẩn dưới thuật ngữ bắt nạt.
Nghiên cứu về mối liên quan giữa trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn bè với sức khoẻ tâm thần của học sinh Sức khỏe tâm thần được xem là một bộ phận không thể tách rời trong định nghĩa về sức khỏe (WHO, 2001), trong đó sức khỏe tâm thần không chỉ là không bị mắc rối loạn tâm thần, mà còn bao hàm trạng thái thoải mái, sự tự tin vào năng lực bản thân, tính tự chủ, năng lực và khả năng nhận biết những tiềm năng của bản thân.