Chương 1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ- XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ RA ĐỜI QUAN ĐIỂM VẬT CHẤT CỦA V.LÊNIN TRONG TÁC PHẨM “CHỦ NGHĨA DUY VẬT VÀ CHỦ NGHĨA KINH NGHIỆM PHÊ PHÁN” 1. ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ- XÃ HỘI RA ĐỜI QUAN ĐIỂM VẬT CHẤT CỦA V.LÊNIN TRONG TÁC PHẨM “CHỦ NGHĨA DUY VẬT VÀ CHỦ NGHĨA KINH NGHIỆM PHÊ PHÁN” Nước Nga bước vào thế kỷ XX với những chuyển biến phức tạp trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội. Là một đế quốc có lãnh thổ trải rộng từ Á sang Âu, mang trên mình những nét phổ biến và đặc thù trong quá trình phát triển, nước Nga hội đủ điều kiện vươn lên hàng ngũ các nước tiên tiến. Tuy nhiên, hệ lụy của chế độ nông nô và những dấu ấn của “phương thức sản xuất châu Á” vẫn còn đậm nét, trở thành lực cản đối với những cải cách tích cực.
Điều kiện kinh tế nước Nga đầu thế kỷ XX Về mặt địa lý, kinh tế và lịch sử, đế quốc Nga vừa thuộc châu Âu, vừa thuộc châu Á. Đầu thế kỷ XX chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, với hàng loạt mâu thuẫn. Điểm chung của giai đoạn này của chủ nghĩa tư bản là quá trình tập trung hóa, hình thành những tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia, đa quốc gia. Lênin chỉ ra những dấu hiệu cơ bản của chủ nghĩa đế quốc.
Lênin cho rằng chủ nghĩa đế quốc là sự phát triển chủ nghĩa tư bản ở trình độ cao, ở chỗ sự độc quyền thay thế cạnh tranh tự do. Lênin định nghĩa: “Nếu cần định nghĩa chủ nghĩa đế quốc cho thật hết sức vắn tắt thì phải nói rằng chủ nghĩa đế quốc là giai đoạn độc quyền của chủ nghĩa tư bản” (V. Trong đại hội nông dân, diễn ra vào đầu tháng 1 năm 1857, Sa hoàng đã đưa ra quan điểm cải cách từ trên xuống, nhằm xoa dịu sự bất mãn của nông dân. Đến ngày 18 tháng 2 năm 1861 Sắc lệnh giải phóng nông nô chính thức được Sa hoàng Alexander ký.
Sau khi sắc lệnh giải phóng nông nô được công bố, nước Nga có tổng số 21 triệu nông nô nam giới được giải phóng và được chia ruộng đât, phần 13 nông nô nữ cũng được giải phóng nhưng không được phân chia ruộng đất. Có thể nói, đây là bước nhảy để phương thức sản xuất phong kiến sang phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Rất nhiều nông nô sau khi được giải phóng trở thành lao động tự do trong các nhà máy của giai cấp tư sản. Sau cuộc cải cách này nước Nga bắt đầu bước vào thời kỳ chủ nghĩa tư bản, đang từng bước đi vào thời kỳ phát triển mới gắn với sự phổ biến kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa.
Nước Nga là giai đoạn muộn của sự phát triển tư bản chủ nghĩa, chủ nghĩa tư bản ở Nga phát triển nhanh, nhất là về công nghiệp. Cải cách nông nô tạo nên bước ngoặt lớn trong đời sống chính trị - xã hội nước Nga, dẫn đến quá trình nước Nga gắn kết với phần còn lại của châu Âu về nhiều mặt. Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển, tầng lớp quý tộc nông thôn mất dần vai trò đầu tàu của mình trong bức tranh kinh tế, xã hội. Tuy nhiên, các tàn dư của chế độ nông nô là một lực cản lớn trên con đường phát triển của nó.
“Đặc điểm của nền công nghiệp nước Nga lúc này là tuy phát triển sau nhưng có khả năng áp dụng những thành quả của các nước tiên tiến nên phần nhiều đều xây dựng được các doanh nghiệp lớn, tập trung, nhiều công nhân và trang bị kỹ thuật tiến bộ. Nhưng nếu so với các nước châu Âu thì nền kinh tế Nga còn lạc hậu, kỹ nghệ nặng còn nhỏ hẹp, yếu ớt và nền công nghiệp nói chung thì què quặt. Đầu thế kỷ XX, đế quốc Nga cũng có tất cả tính chất cố hữu của chủ nghĩa đế quốc. Nước Nga là có một nền đại công nghiệp tập trung cao độ, trong đó các tổ chức lũng đoạn tư bản chủ nghĩa ngày càng phát triển.
Một nhóm tư bản làm chủ trong toàn bộ đời sống tài chính và công nghiệp của đất nước” (Hồ Gia Hường & Vũ Dương Ninh, 1971, tr. Với sự đầu tư mạnh mẽ của tư bản nước ngoài, thúc đẩy quá trình phát triển của công nghiệp hóa. Cách mạng công nghiệp được hoàn thành trên đất Nga vào khoảng thập niên 80. Kết quả đưa tới sự giảm mạnh của lao động thủ công, năm 1880 có 2/3 cơ sở dệt máy móc.
Trong khoảng thời gian từ năm 1860 đến 1890 sản lượng công nghiệp của Nga tăng 6 lần (Đức 4 lần, Pháp 1,5 và Anh hơn 1 lần). Cuộc cải cách năm 1861 mang ý nghĩa quan trọng nhưng không triệt để, tàn dư của chế độ nông nô vẫn còn để lại rất sâu sắc thể hiện ở sự hình thành nên 14 những hình thức bóc lột giai cấp vô sản hết sức tàn khốc, gây ra cảnh nghèo nàn cùng cực của nông dân cùng với sự áp bức thậm tệ các dân tộc phụ thuộc khác. Vào cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã phát triển tại Nga, nhưng những tàn dư của chế độ nông nô vẫn còn nặng nề, ảnh hưởng đến nhịp độ phát triển kinh tế. Giới quý tộc nông thôn dù bị suy giảm ít nhiều quyền lực, nhưng vẫn duy trì một số đặc quyền.
Về mặt hình thức, nông dân được giải phóng, không còn bị xem như hàng hóa đặc biệt, có thể trao đổi giữa các chủ đất. Tuy nhiên, quyền sở hữu ruộng đất trên thực tế không tồn tại, người nông dân vẫn gắn chặt số phận mình vào số phận của kẻ làm thuê. Địa chủ đã chiếm đoạt 1/5 ruộng đất phì nhiêu nhất mà nông dân đã canh tác. Số ruộng đất còn lại nông dân phải trả với một giá đắt gấp 3 lần giá thị trường.
Gia đình Nga hoàng là chủ đất lớn nhất, chiếm đến 7 triệu mẫu Nga, nghĩa là hơn một nửa diện tích đất nông nghiệp. Như vậy, có thể thấy rằng chế độ chiếm hữu ruộng đất là cơ sở của mọi áp bức bóc lột đối với nông dân. Do đó, mặc dù thực hiện cải cách nhưng chế độ chiếm hữu ruộng đất không được giải quyết một cách thỏa đáng nên mâu thuẫn giai cấp vẫn còn tồn tại và diễn ra vẫn rất gay gắt; những căng thẳng cách mạng không giảm bớt. Tình trạng bóc lột vẫn diễn ra rất thậm tệ, điều đó cho thấy nhu cầu giải phóng triệt để khỏi ách áp bức, bóc lột của địa chủ tại nông thôn Nga.
Do đó, các cuộc đấu tranh vẫn diễn ra. Nền đại công nghiệp phát triển kéo theo sự ra đời và phát triển của giai cấp vô sản hiện đại. Một đặc điểm của sự phát triển giai cấp thợ thuyền Nga là sự tập trung cao độ trong các xí nghiệp lớn nhất. Giai cấp công nhân vừa chịu sự bóc lột của chủ nghĩa tư bản vừa chịu sự áp bức của chính phủ Nga.
Đặc biệt, cuộc khủng hoảng kinh tế 1900- 1903 càng làm tăng thêm sự khốn khổ, nghèo nàn, vất vả của công nhân. Trong những năm khủng hoảng nền công nghiệp giảm sút nhiều, 3.000 công xưởng và nhà máy bị đóng cửa, tình trạng công nhân thất nghiệp càng nhiều, ngày lao động thì kéo dài từ 12 đến 14 giờ nhưng tiền lương lại giảm sút. Đời sống với các điều kiện sinh hoạt của công nhân hết sức bấp bênh, khốn khó thậm 15 tệ. Do đó, có thể nói rằng đây là nguyên nhân lý giải vì sao giai cấp công nhân Nga sớm có ý thức đấu tranh cao.
Vào đầu thế kỷ XX ở nước Nga đã hình thành nhiều khu công nghiệp tư bản chủ nghĩa quy mô lớn, gắn với sự tăng mạnh của giai cấp công nhân. Sự phát triển nhanh chóng chủ nghĩa tư bản không những phát triển ở thành thị mà còn phát triển ở nông thôn, dẫn tới giai cấp nông dân bị phân hóa ngày một nhanh chóng. “Vào cuối thế kỷ XIX trong số 10 triệu hộ nông dân thì có gần 8 triệu rưỡi hộ là bần nông, 2 triệu hộ là trung nông, còn 1 triệu rưỡi hộ là phú nông. Nông dân vừa chịu ách bóc lột của địa chủ lẫn giai cấp tư sản nông thôn.
Phần lớn ruộng đất và hầu hết là ruộng đất tốt thì tập trung trong tay địa chủ, phú nông. Buộc người nông dân phải thuê ruộng đất của địa chủ với một cái giá cao ngất ngưỡng. Địa chủ và phú nông nô dịch nông dân, làm cho họ sống trong cảnh nghèo nàn khổ sở chết chóc. Năm 1891, đã xảy ra nạn đói khủng khiếp làm cho 40 triệu nông dân lâm vào cảnh khốn quẫn.
Sự nghèo đói cùng khổ đã đẩy nông dân đi phiêu bạt vào các hầm mỏ, công xưởng để kiếm công ăn việc làm ngày càng đông”. (Hồ Gia Hường & Vũ Dương Ninh, 1971, tr. Sự mở cửa, tạo mọi điều kiện đầu tư của các đế quốc nước ngoài đã tạo nên bước phát triển mới trong các lĩnh vực trọng yếu của nền công nghiệp nước Nga, trong đó có khoáng sản, chế biến, cơ khí. Các tập đoàn tư bản lớn giàu về vốn và kỹ thuật dần dần chi phối các hoạt động kinh tế nước Nga tại các đô thị.
Điều đó dẫn tới sự lệ thuộc vào đế quốc phương Tây của nước Nga trở thành đế quốc, và cũng chịu sự phụ thuộc nhất định về chính trị. Lợi ích của chế độ Nga hoàng và chủ nghĩa đế quốc phương Tây quan hệ mật thiết với nhau. Do đó, một mặt, Nga hoàng đã bảo vệ quyền lợi của tư bản phương Tây bằng cách ra sức bóc lột nhân dân lao động và đẩy họ đi làm bia đỡ đạn. Mặt khác, đế quốc phương Tây tìm mọi cách để chống lại phong trào công nhân, bảo vệ và duy trì chế độ Nga hoàng.
Các tổ chức lũng đoạn ra đời là kết quả của sự tập trung về vốn, về sản xuất diễn ra vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. 16 Vào đầu thế kỷ XX, tuy đã thực hiện cải cách nông nô hơn 40 năm trước, nước Nga vẫn là khâu yếu nhất của chủ nghĩa tư bản, với những dấu ấn của quan hệ nông nô và “phương thức sản xuất châu Á” khá nặng nề, nhất là tại các vùng phía Đông. Sau thất bại của cách mạng dân chủ tư sản 1905 – 1907, những mâu thuẫn xã hội vẫn hết sức gay gắt. Điểm khác biệt rõ ràng nhất là giai cấp tư sản sau biến cố 1905 – 1907 ngày càng trở nên phản động, điên cuồng chống các lực lượng tiến bộ nhằm bảo vệ lợi ích của mình.