mở đầu cuộc cách mạng, đã tác động mãnh liệt trên toàn nước Nga, phong trào bãi công và những tiếng hô “Chúng ta không cần Nga hoàng nữa”, “Đả đảo chế độ chuyên chế I” vang lên sôi sục; những xáo động trong nông dân nổi lên như gió cuốn, nhiều nơi nông dân đã tự do canh tác, chăn nuôi trên đất ruộng và đồng cỏ của địa chủ; lục quân và hải quân dao động; những cuộc khởi nghĩa lẻ tẻ nổ ra, những phần tử trí thức dân chủ và thanh niên học sinh tích cực tham gia phong trào cách mạng; những người bônsêvích đi với công nhân, có nhiều người bị bắt và bị giết. Trong điều kiện của cao trào cách mạng, mỗi giai cấp và mỗi đảng phái cần phải vạch thảo sách lược, xác định đường lối hành động, mối quan hệ của mình với các giai cấp và đảng phái khác, với chính phủ. Nhiệm vụ này cũng được đặt ra đối với Đảng công nhân dân chủ - xã hội Nga. Để kịp thời vạch ra đường lối sách lược của giai cấp công nhân và đảng của nó, đảng của những người bônsêvích, do V.Lênin đứng đầu, đã chủ động triệu tập Đại hội III Đảng công nhân dân chủ - xã hội Nga, tuy nhiên, phái mensêvích từ chối tham dự.
Đại hội họp ở Luân Đôn từ ngày 12-4 đến ngày 27-4-1905 [4, 475]. Đại hội III đã đề ra các nhiệm vụ: thành lập nước cộng hòa dân chủ, tịch thu ruộng đất của địa chủ chia cho nông dân, thực hiện ngày làm việc 8 giờ; đồng thời, xác định việc tổ chức lại giai cấp, đấu tranh trực tiếp chống chế độ chuyên chế gắn với khởi nghĩa vũ trang là một trong những nhiệm vụ chính và cấp thiết của Đảng trong giai đoạn cách mạng hiện tại. Ngoài ra, Đại hội đã tính tới khả năng giành được chính quyền và phải thành lập một 18 chính phủ với sự tham gia của đại biểu Đảng để đấu tranh chống lại âm mưu phản cách mạng và bảo vệ lợi ích duy nhất của giai cấp công nhân, đưa cách mạng đi lên. Những nghị quyết, kế hoạch chiến lược và sách lược cách mạng đó do Đại hội đề ra là cương lĩnh chiến đấu của Đảng trong cuộc đấu tranh đưa cách mạng dân chủ đến thắng lợi.
Cũng trong khoảng thời gian này, tại Giơnevơ đã diễn ra Hội nghị của những người mensêvích. Hội nghị đưa ra sách lược cải lương, cơ hội chủ nghĩa. Những người mensêvích mong muốn giai cấp vô sản phải lệ thuộc vào giai cấp tư sản và trao quyền lãnh đạo cho giai cấp tư sản, buộc cuộc đấu tranh của quần chúng nhân dân phải phục tùng lợi ích của giai cấp tư sản. Bằng sách lược của mình, phái mensêvích đã chia rẽ sự thống nhất của giai cấp công nhân, phá vỡ những nỗ lực của giai cấp công nhân trong việc đoàn kết quảng đại quần chúng nhân dân Nga trên trận tuyến cách mạng.
Đây thực sự là mối nguy hại lớn đối với cuộc đấu tranh giành thắng lợi cho cách mạng. Tình hình đó đòi hỏi V.Lênin phải vạch trần sách lược cơ hội chủ nghĩa của những người mensêvích, giải thích rõ sách lược cách mạng đúng đắn của Đảng công nhân dân chủ - xã hội Nga tại Đại hội III để giác ngộ đảng viên và quần chúng công - nông, từ đó thống nhất tư tưởng và hành động của giai cấp vô sản, đảm bảo sự ủng hộ hoàn toàn của lực lượng chiến đấu của giai cấp vô sản và tất cả những người lao động đối với sách lược cách mạng của những người bônsêvích. Trên cơ sở đó, từ tháng 6 đến tháng 7-1905, V.Lênin đã viết cuốn “Hai sách lược của Đảng công nhân xã hội dân chủ trong cuộc cách mạng dân chủ” [4, 476]. Cuốn sách có ý nghĩa lịch sử to lớn đối với phong trào cách mạng và phong trào công nhân quốc tế.
Mùa hè năm 1905, phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ, tiến tới đình công có tính chất chính trị rộng lớn, các cuộc biểu tình diễn ra rầm rộ với hàng chục vạn người tham gia. Phong trào nông dân thực hiện chiếm đất 19 đai, thu hoạch mùa màng lan rộng trong các khu vực sông Vônga, miền Trung và miền Nam nước Nga. Đặc biệt, phong trào đấu tranh đã lan sang binh lính, điển hình là cuộc khởi nghĩa của chiến hạm Pôtemkin thuộc hạm đội Hắc Hải nổ ra ngày 4-6-1905 ở Ôđétxa. Đầu tháng 10-1905, nổ ra tổng bãi công chính trị trên cả nước với hai triệu người tham gia.
Mở đầu là cuộc bãi công đường sắt làm toàn bộ tuyến đường xe lửa ngừng hoạt động. Công nhân các ngành trong cả nước liền hưởng ứng, tạo nên một cao trào bãi công lớn. Cao trào bãi công chính trị tháng Mười 1905 làm cho mọi sinh hoạt trong cả nước bị ngưng trệ, lực lượng Chính phủ bị tê liệt. Ngày 17-10-1905, Nga hoàng Nicôlai II buộc phải tuyên bố trả tự do cho những người bị bắt giữ, “ban bố” cho nhân dân quyền tự do thân thể bất khả xâm phạm, cho phép tự do tín ngưỡng, hội họp và thành lập các hội, tổ chức đoàn thể, tuyên bố từ nay về sau “mọi đạo luật đều sẽ không có hiệu lực nếu chưa được Đuma quốc gia thông qua” [98, 264].
Tháng 12-1905, tại Mátxcơva nổ ra khởi nghĩa vũ trang, tiếp đó tại nhiều thành phố và địa phương như Đônetxơ, Kháccốp, bắc Cápcadơ cũng lần lượt nổ ra khởi nghĩa. Cuộc khởi nghĩa ở Mátxcơva là đỉnh cao của cách mạng năm 1905. Sau khi cuộc khởi nghĩa này thất bại, tuy vẫn có những cuộc bãi công và khởi nghĩa lẻ tẻ, nhưng đều bị Chính phủ Nga hoàng đàn áp. Sự biến ngày 3-6-1907 đánh dấu cuộc cách mạng này thất bại hoàn toàn, mở đầu thời kỳ phức tạp của cách mạng Nga.
Chính phủ Nga hoàng đã bội tín, xé bỏ Tuyên bố tháng 10-1905, giải tán Đuma quốc gia II và sửa đổi hiến pháp, xét xử và đưa đi đày khổ sai các đại biểu của Đảng dân chủ - xã hội. Đây là cuộc đảo chính, nghĩa là thành quả cách mạng của công nhân, nông dân lại bị địa chủ và tư sản cướp mất, những kẻ phản cách mạng đã giành được thắng lợi tạm thời, đánh dấu nước Nga bước vào thời kỳ phản động nhất của ách thống trị bằng cảnh sát của P. Cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội và chủ nghĩa xét lại của những người mácxít Nga Hội nghị thành lập Quốc tế II họp ngày 14-7-1889, tại La Hay, là thời điểm quan trọng trong phong trào công nhân thế giới, chứng tỏ rằng giai cấp công nhân đã trưởng thành đòi hỏi hình thành một tổ chức quốc tế mới trên cơ sở kế thừa những quan điểm từ Quốc tế I và cải biến cho phù hợp với xu thế vận động của lịch sử với mục tiêu thống nhất, sách lược linh hoạt, nhằm đảm bảo tính hoạt động sáng tạo của phong trào công nhân mỗi nước. Tuy nhiên, những chuyển biến phức tạp của tình hình thế giới, sự khủng hoảng giá trị và các xung đột xã hội ở đêm trước chủ nghĩa đế quốc đã tác động không nhỏ đến phong trào công nhân.
Hơn nữa, sự thất bại của Công xã Paris (1871) vẫn còn ám ảnh nhiều nhà lý luận của chủ nghĩa Mác, kể cả những người đã từng đứng về Mác và Ăngghen trước đó. Trong phong trào công nhân diễn ra sự phân hóa sâu sắc, chia làm hai nhóm lớn: nhóm các nhà mácxít kiên định (Đítxơghen, Laphácgơ, Bêben, Cauxky (trước 1895); Plêkhanốp (trước 1903)), và nhóm xét lại, cơ hội, cải lương. Có thể gọi các đại diện của chủ nghĩa xét lại là những người cơ hội chủ nghĩa, còn nội dung tư tưởng của chủ nghĩa xét lại mang tính cải lương. Chủ nghĩa cơ hội, theo Từ điển Chủ nghĩa cộng sản khoa học, là “việc làm cho chính trị và tư tưởng của phong trào công nhân thích nghi với lợi ích và nhu cầu của tầng lớp phi vô sản”.
Chủ nghĩa cơ hội chủ trương “lợi dụng cơ hội mưu cầu những lợi ích trước mắt và cục bộ, bất kể làm việc đúng hay sai” (theo Từ điển Tiếng Việt); có “thái độ chính trị không theo một đường lối rõ rệt”, “không có chính kiến hẳn hoi, có thể ngả bên này hay bên nọ để mưu cầu những lợi ích trước mắt”. Đặc biệt, trong phong trào công nhân, chủ nghĩa cơ hội có “khuynh hướng chính trị chủ trương thỏa hiệp giai cấp, hợp tác giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản” (theo Từ điển Chính trị vắn tắt). 21 Chủ nghĩa cơ hội ra đời khoảng nửa cuối thế kỷ XIX, phát triển nhanh chóng trong những năm cuối của thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Đây là một trào lưu tư tưởng chống chủ nghĩa Mác trong Đảng dân chủ - xã hội Đức, được lấy từ những hiện tượng lẻ tẻ, vụn vặt để khái quát thành lý luận có hệ thống [98, 65].
Sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa cơ hội là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản và chính sách của giai cấp tư sản, là kết quả của một thời đại lịch sử nhất định. Chủ nghĩa cơ hội có thể biến dạng thành chủ nghĩa xét lại, một trào lưu tư tưởng thù địch với chủ nghĩa Mác - Lênin, xuất hiện trong nội bộ phong trào công nhân và cộng sản dưới chiêu bài “phê phán”, “xem lại”, “xét lại” hoặc thậm chí phát triển học thuyết mácxít lêninnít. Ông tổ của chủ nghĩa xét lại là E. Sau khi Ph.Ăngghen mất (tháng 8-1895), những quan điểm lý luận của chủ nghĩa cơ hội và chủ nghĩa cải lương ẩn náu đằng sau tư tưởng của Bécstanh (1850 - 1932) bắt đầu bộc lộ công khai.
Từ năm 1896 - 1898, Bécstanh công bố trên tờ Thời mới một loạt bài có tiêu đề chung là “Những vấn đề của chủ nghĩa xã hội”, công khai phê phán “cách giải thích truyền thống” của chủ nghĩa Mác. Luận điểm trung tâm của cụm bài này là vứt bỏ những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác về sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản: chỉ có bằng cuộc cách mạng xã hội, giai cấp vô sản mới giành được thắng lợi cho chủ nghĩa xã hội. Năm 1900, cụm bài này được Bécstanh bố cục là phần II “Những vấn đề của chủ nghĩa xã hội” trong cuốn Lịch sử và lý luận về chủ nghĩa xã hội, trong đó tư tưởng trung tâm của Bécstanh được trình bày ở bài “Lý luận về sự sụp đổ và chính sách thực dân”. Bécstanh từ chỗ “hoài nghi” và “khiên cưỡng” đi tới chỗ hoàn toàn “hoài nghi” và phủ định những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác [98, 37- 41].
Nhiều quan điểm lý luận của Bécstanh đã bị một số nhà lý luận mácxít trong Đảng dân chủ - xã hội Đức và của Quốc tế II phê phán nghiêm khắc.