MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết Hiện nay, Covid-19 đã và đang trở thành một đaịdicḥ truyền nhiễm nguy hiểm, với sức lây lan phức tap,̣ chưa từng cótrên phaṃ vi toàm cầu. Đại dịch này khởi nguồn từ Vũ Hán – Trung Quốc từ cuối năm 2019. Chỉ trong vòng 3 tháng kể từ tháng 12/2019 đến tháng 3/2020, Covid-19 đã lan ra 115 quốc gia với 114.
Do đó ngày 11/3/2020, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) chính thức công bố dịch Covid-19 do virus Corona chủng mới (SARS-CoV-2) là đại dịch trên toàn cầu. Theo UNDP, cuộc khủng hoảng vẫn chưa đi đến hồi kết, với hơn 400.000 ca nhiễm mới được báo cáo mỗi ngày, trong đó có hơn 50.000 ca ở Đông Nam Á. Hy vọng lớn nhất, vẫn là việc triển khai vắc-xin một cách nhanh chóng và công bằng cùng sự phối hợp hành động đa phương để duy trì đầu tư, thương mại và việc làm khi dịch bệnh được ngăn chặn [24]. Hiện nay vắc-xin phòng Covid-19 được xem là chìa khóa hữu hiệu để đạt miễn dịch cộng đồng, do đó chiến dịch tiêm chủng đang chạy đua với thời gian hòng kìm hãm số ca dương tính và tử vong ở mức cao chưa từng có từ trước đến nay.
Ở Việt Nam, ca nhiễm Covid-19 đầu tiên được phát hiện vào ngày 23/1/2020 và kể từ đó đến nay (13/01/2022) Việt Nam có 1.444 ca nhiễm [25], đứng thứ 28/224 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong khi với tỷ lệ số ca nhiễm/1 triệu dân, Việt Nam đứng thứ 143/224 quốc gia và vùng lãnh thổ (bình quân cứ 1 triệu người có 20. Trước tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp, ngày 8/3/2021 [26], Việt Nam bắt đầu triển khai tiêm vắc xin ngừa COVID-19 rộng rãi, một chương trình tiêm chủng mở rộng lớn nhất từ trước đến nay, với khoảng 100 triệu mũi trong năm 2021. Việt Nam phấn đấu đặt mục tiêu cuối năm 2021, hoặc đầu năm 2022 có thể đạt miễn dịch cộng đồng, ước khoảng 70% dân số Việt Nam phải được tiêm chủng vắc xin COVID-19 với phương châm “Tiêm đến đâu, an toàn đến đó, không để lãng phí 1 liều vắc xin nào” [33]. Tính tới ngày 27/12/2021 cả nước đã tiêm được hơn 144 triệu liều vaccine trong tổng số hơn 166 triệu liều vaccine đã phân bổ [26].
Tỷ Kham thảo miễn phí – Kết bạn Zalo/Tele mình 0917.864 Dịch vụ viết thuê đề tài – KB Zalo/Tele 0917.com 1 Kham thảo miễn phí – Kết bạn Zalo/Tele mình 0917.864 lệ bao phủ ít nhất 01 liều vaccine là 79% và tỷ lệ bao phủ đủ vaccine liều cơ bản là 66% tổng dân số Việt Nam. Tỷ lệ này đã vượt mức mục tiêu mà Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đề ra đến hết năm 2021: 40% dân số của mỗi quốc gia được tiêm vắc- xin phòng Covid-19. Tại buổi lễ phát động trực tuyến triển khai chiến dịch tiêm vắc xin phòng COVID-19 toàn quốc, Thủ tướng Chính phủ nhấn mạnh việc tiêm vắc xin phòng Covid-19 là biện pháp hữu hiệu nhất trong công tác phòng chống dịch, do đó, Đảng, Nhà nước sẽ tiếp tục tập trung thực hiện việc đàm phán, ngoại giao, huy động tài chính để mua, nhập khẩu, tiếp nhận chuyển giao công nghệ sản xuất vắc xin. Đồng thời, tăng cường nghiên cứu, sản xuất vắc xin trong nước để Nhân dân được tiếp cận vắc xin phòng Covid-19 trên nguyên tắc công bằng, bình đẳng, công khai, minh bạch, linh hoạt, an toàn, hiệu quả, không ai bị bỏ lại phía sau trong việc tiếp cận, tiêm vắc xin phòng Covid-19.
Tuy nhiên, tại Việt Nam, đây cũng là lần đầu tiên triển khai một chiến dịch tiêm vắc xin lớn trên quy mô toàn quốc, toàn bộ dân cư từ 18 tuổi trở lên, và sau đó bao gồm cả trẻ em, do vậy khó tránh khỏi những bất cập. Trong quá trình triển khai tiêm phòng, chống Covid-19, trên một số phương tiện TTĐC đã phản ánh một số ý kiến người dân về những vụ việc như: được tiêm vắc xin trước mặc dù không nằm trong nhóm đối tượng ưu tiên, lựa chọn loại vắc xin để tiêm, có thời điểm tỉ lệ chủng ở các khu vực có sự chênh lệch lớn. đã gây nên những ý kiến, quan điểm nhiều chiều về tính bình đẳng trong tiếp cận vắc xin covid -19. Để có đánh giá tổng thể về chương trình tiêm Vắc xin Covid 19 tại Việt Nam, đặc biệt là khía cạnh bình đẳng trong tiếp cận Vắc xin, trong khuôn khổ khóa luận tốt nghiệp cử nhân, tôi xin lựa chọn đề tài “Quan điểm của sinh viên về bình đẳng trong tiếp cận vắc xin Covid-19 hiện nay” (Nghiên cứu trường hợp sinh viên Học viện Báo chí & Tuyên truyền) để có được cái nhìn khách quan và bao quát nhất về công bằng trong tiếp cận vắc-xin Covid-19 tại Việt Nam trên quan điểm của sinh viên – nhóm tri thức trong xã hội.
Từ đó, cóthểđưa ra những đềxuất, khuyến nghi ̣ 2 phùhơp̣ nhằm nâng cao hiệu quảcông tác tiêm vắc xin COVID-19 trong thời gian tới. Tổng quan tài liệu Covid-19 làdicḥ bệnh bùng phát trên toàn cầu vào đầu năm 2020, và đến tháng 12 năm 2020, vắc xin Covid-19 đã bắt đầu được phân phát và sử dụng tại nhiều quốc gia trên thế giới [27]. Tuy đươc̣ xãhội vàcác nhànghiên cứu quan tâm nhưng córất it́ các nghiên cứu đươc̣ thưc̣ hiện đối với chủđềvắc xin Covid -19. Đặc biệt làcác nghiên cứu liên quan trực tiếp về quan điểm của người dân/ nhóm xã hội về bình đẳng trong tiếp cận vắc xin.
Nhưng bên canḥ đóvẫn cónhững nghiên cứu vàbáo cáo đươc̣ công bốliên quan đến vắc xin Covid -19 cũng như một số nghiên cứu cụ thể về tính bình đẳng, bất bình đẳng trong y tế.1 Những công trình nghiên cứu về bình đẳng, bất bình đẳng trong y tế a. Trên thế giới Tại Mỹ, nghiên cứu “Inequality in the United States Healthcare System” (Sự bất bình đẳng trong hệ thống chăm sóc sức khoẻ tại Hoa Kỳ) của tác giả Devi Sridhar [3] giải thích nguyên nhân không nên sử dụng hệ thống y tế bán công của Hoa Kỳ làm mô hình cho các quốc gia khác vì nó làm trầm trọng thêm sự bất bình đẳng trong tiếp cận dịch vụ chăm sóc và tình trạng sức khỏe giữa những người sử dụng và không sử dụng bảo hiểm y tế. Những kết quả chính được đưa ra với phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp như sau: người Mỹ gốc Ấn, người Mỹ gốc Phi và người Mỹ Latinh có sức khoẻ kém hơn người Mỹ trắng và người Châu Á. Cùng với đó, tỉ lệ tử vong của trẻ sơ sinh của người Mỹ gốc Phi và người Mỹ gốc Ấn cũng cao hơn các chủng tộc khác.
Những người thu nhập thấp có tình trạng sức khoẻ kém hơn các nhóm khác. Những người không có BHYT có xu hướng được tiếp cận ít hơn với các dịch vụ tầm soát/phòng ngừa, chẩn đoán bệnh khi đã ở trong tình trạng nặng và nhận được ít các phương pháp điều trị hơn (thuốc và phẫu thuật). Đối với phụ nữ không có BHYT thường trì hoãn các cuộc thăm khám, bỏ qua các đơn thuốc của bác sĩ. 47% những người không có BHYT đã phải trải qua nỗi đau tàn tật tạm thời và 19% đã phải trải qua nỗi đau tàn tật trong thời gian dài.
Ngoài ra, những người không có 3 BHYT khi gặp các vấn đề về sức khoẻ sẽ phải chịu gánh nặng về chi phí điều trị rất cao tại Mỹ. 63% người Mỹ nhận được bảo hiểm y tế nhờ chế độ ưu đãi của các công ty mà họ đang làm việc; 14% nhờ vào các chương trình cộng đồng; 5% tự chi trả; 17% không có BHYT. Những người không có BHYT là (1) Những người lao động phổ thông với mức lương thấp (2) Nhóm nghèo và cận nghèo là 2 nhóm người không dễ để tiếp cận với BHYT bởi chi phí rất đắt (3) Những người Mỹ gốc Phi, gốc Ấn, gốc Tây Ban Nha là nhóm người không có BHYT cao nhất khi chia theo chủng tộc (4) So với nam giới, phụ nữ được tiếp cận với BHYT ít hơn. Hệ thống y tế và bảo hiểm ngày càng đắt đỏ tại Mỹ, chính những điều này làm gia tăng bất bình đẳng về y tế đối với các nhóm dễ bị tổn thương.
Cùng với đó, những nhóm này thường làm những công việc chân tay (81%) nên không nhận được chế độ đãi ngộ về BHYT của công ty họ. Do nghiên cứu đã từ rất lâu (từ năm 2005) nên có thể sẽ không còn cho kết quả phù hợp ở thời điểm hiện tại ở một vài khía cạnh. Tuy nhiên, việc bất bình đẳng trong BHYT và chi phí chi trả cho BHYT cũng như các dịch vụ y tế luôn là một vấn đề xã hội trong nội tại nước Mỹ hiện nay. Tại Trung Quốc, nghiên cứu “Differences in regional distribution and inequality in health-resource allocation on institutions, beds, and workforce: a longitudinal study in China” (Tạm dịch: Sự khác biệt về khu vực và sự bất bình đẳng trong phân bổ nguồn lực y tế về cơ sở khám chữa bệnh, giường bệnh, nhân viên trong lĩnh vực y tế: một nghiên cứu dài hạn tại Trung Quốc) của nhóm tác giả Enhong Dong, Jie Xu, Xiaoting Sun, Ting Xu, Lufa Zhang & Tao Wang [4] với mục đích phân tích sự khác biệt trong phân bổ về khu vực và bất bình đẳng trong phân bổ nguồn lực y tế về cơ sở y tế, giường bệnh và nhân viên y tế ở Thượng Hải trong 7 năm (2010 - 2016).
Bằng phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp: Niên giám Thống kê Y tế Thượng Hải (2010 - 2016) và Niên giám Thống kê Thượng Hải (2010 - 2016) được xuất bản bởi Uỷ ban Y tế Thượng Hải và Cục Thống kê Thượng Hải, nghiên cứu chỉ ra: từ năm 2010 đến năm 2016, số cơ sở khám chữa bệnh, giường bệnh và lực lượng làm việc ngành y tế trên 1000 dân ở tất cả các quận đều có xu hướng tăng. Các quận trung tâm có mật độ nguồn lực chăm sóc sức khỏe cao nhất 4 so với ngoại thành. Đối với nguồn lực chăm sóc sức khỏe, các quận trung tâm và ngoại thành tăng trưởng khác nhau trong cùng thời kỳ. So với các quận ngoại thành, các quận trung tâm tăng nhanh hơn số giường bệnh và y tá trên 1000 dân và tăng chậm hơn về số lượng các cơ sở, kỹ thuật viên và bác sĩ trên 1000 dân.
Đáng chú ý, một số quận trung tâm và ngoại thành thậm chí còn có mức tăng trưởng trung bình âm trong giai đoạn này. Khi so sánh theo thời gian, số lượng của kỹ thuật viên, bác sĩ, y tá và giường bệnh đều cao hơn so với các cơ sở khám chữa bệnh. Điều này cho thấy sự tồn tại của sự mất cân bằng giữa lực lượng lao động và phân bổ trang thiết bị ở Thượng Hải trong giai đoạn này.