phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các công trình đã công bố, luận văn gồm 2 chương 4 tiết. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: QUAN ĐIỂM CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƢỚC LIÊM KHIẾT 1. Cơ sở hình thành quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nƣớc liêm khiết 1. Cơ sở tư tưởng, lý luận 1.Từ giá trị truyền thống dân tộc về xây dựng nhà nước Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành và phát triển trước hết từ những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.
Việt Nam là dân tộc có nền văn hóa lâu đời, được hình thành và phát triển qua chiều dài lịch sử với hàng ngàn năm văn hiến. Với những bản sắc văn hóa và truyền thống riêng. Từ khi dựng nước đến nay Việt Nam trải qua biết bao triều đại, từ những nhà nước đầu tiên: Văn Lang, Âu Lạc, cho tới sau này là Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần…, đều có những nét đặc trưng rất cơ bản mà ở triều đại nào cũng có đó là tư tưởng: Lấy dân làm gốc. Trong “Bình ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi từng viết: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân Quân điếu phạt trước lo trừ bạo Như nước Đại Việt ta từ trước Vốn xưng nền văn hiến đã lâu” Tư tưởng chính trị lấy dân làm gốc là truyền thống chính trị của dân tộc Việt Nam.
Nó ra đời từ rất sớm và được gìn giữ phát huy từ đời nay qua đời khác với tinh thần cơ bản là “Phàm mưu việc lớn phải lấy dân làm gốc”. Đó là một nền văn hóa trọng đạo lý làm người đề, cao trách nhiệm, bổn phận của cá nhân đối với gia đình, làng nước, Tổ quốc, coi đó là chuẩn mực cao nhất của nhân cách con người. Theo cách nhìn truyền thống của văn hóa Việt Nam, giá trị con người không thể hiện ở phẩm chất của khách công hầu mà ở nhân nghĩa đạo đức của bậc “ưu ái, quốc dân”, biết chăm lo vun đắp cho vận mệnh chung của đất nước, của cộng đồng. Văn hóa đó dạy cho người dân không 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com được quên cội nguồn của mình.
Có nhiều câu ca dao đậm tình nghĩa đã đi vào lòng người dân Việt Nam từ thế hệ này sang thế hệ khác, chẳng hạn như: “Dù ai đi ngược về xuôi. Nhớ ngày giỗ tổ mùng Mười, tháng Ba” Nhà nước liêm khiết dưới thời phong kiến là nhà nước mà kẻ bầy tôi phải nghe theo mệnh lệnh và phục tùng vua. Trong cả nước quan lại là bầy tôi của vua, nhân dân là thần dân của vua, vua là người đứng đầu bách thần trong cả nước. Nước – quốc gia phong kiến không phải của thần dân mà là của vua.
Trong lịch sử chúng ta có thể tìm thấy rất nhiều những bài học về quản trị nhà nước bằng chế độ dưỡng liêm nhằm ngăn ngừa nạn tham nhũng của quan chức. Chế độ dưỡng liêm đã được thực thi từ rất lâu, ngay từ những ngày đầu xây dựng nền độc lập của quốc gia sau một ngàn năm Bắc thuộc. Vào thời Lý, Vua Lý Thánh Tông đã đặt ra “bổng dưỡng liêm” để cấp cho các quan chức trông coi việc hình pháp, xét xử, giam giữ… nhằm nuôi dưỡng đức tính liêm khiết, trong sạch của quan lại trong bộ máy tư pháp, ngăn chặn nạn hối lộ trong hoạt động chấp pháp. Trong Đại Nam quốc sử diễn ca có ghi lại việc này như sau: “Ân riêng mưa móc đượm nhuần Đã tiền lại lúa ân cần dưỡng liêm” Ở hầu hết các triều đại phong kiến việc đề cao các quan lại liêm khiết là điều vô cùng cần thiết.
Sự đề cao đó thể hiện ở việc đưa ra các tiêu chí ưu tiên sự liêm khiết, ngay thẳng trong việc lựa chọn, thăng chức quan lại. Thông qua các biện pháp khảo hạch, thanh tra, giám sát cũng như lấy tín nhiệm trong dư luận về quan lại, về những việc họ đã làm nếu vị quan nào có tài đức, chính trực thì lựa chọn, cất nhắc lên những chức vụ cao hơn để tỏ rõ sự khuyến khích người tài năng, liêm khiết. Vua Lê Thánh Tông đã ra sắc lệnh: “Từ nay, Cấp sự trung trong Lục khoa và Giám sát ngự sử nếu có khuyết ngạch thì bộ Lại chọn các quan trong kinh sư, ngoài các đạo. là người liêm khiết, cần mẫn 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cứng rắn, ngay thẳng, có thành tích về chính trị, thì cất nhắc lựa bổ”[49, tr1031].Đồng thời khen thưởng những vị quan liêm khiết: Các quan lại liêm khiết không chỉ được nhà Vua ban cho các chức vụ xứng đáng với tài năng, đức độ đi liền nhiều bổng lộc mà còn được nhà Vua khen thưởng cho sự thanh liêm của mình.
Sử sách còn lưu trường hợp Ngự sử quan Nguyễn Thiện đã được Lê Thánh Tông khen thưởng do hết lòng việc nước, ngay thẳng không bợ đỡ, không nao núng trước uy quyền để cầu lợi. Dưới thời Nguyễn, Nho giáo là tư tưởng chính thống, đội ngũ quan lại đều thấm nhuần học thuyết Nho giáo. Trong Nho giáo tư tưởng về bậc chính nhân quân tử, những người có thể đứng ra làm quan giúp vua cai quản đất nước đặc biệt đề cao chữ Liêm, đức Liêm. Chữ Liêm thành “Lục kế” mà người làm quan phải thi hành.
Đó là Liêm thiện (Thanh liêm và lương thiện), Liêm năng (Thanh liêm và năng động), Liêm kính (Thanh liêm và kính cẩn), Liêm chính (Thanh liêm và chân chính), Liêm pháp (Thanh liêm và pháp độ), Liêm biện (Thanh liêm và biết cách tổ chức). Thời Nguyễn rất chú trọng việc giáo hóa đạo đức cho quan lại, thường xuyên dạy bảo về sự liêm khiết, trong sạch cho giới quan trường. Năm 1827, nhà vua viết cáo dụ: “Trẫm nửa đêm nghĩ ngợi, rất tức giận, muốn sửa chữa một phen để trừ tệ hại lâu ngày, nhưng còn nghĩ chính trị của vương giả là trước giáo hóa mà sau hình phạt, cho nên dạy bảo cặn kẽ, nói không ngại phiền. Quan lớn nhỏ cùng nhân dân trong thành hạt các ngươi giữ đạo thương yêu, đức tốt, sẵn có lương tâm, tự nay nên rửa lòng đổi lỗi để cho người trên giữ phép, người dưới thanh liêm, yên dân giặc tắt, từ đây đổi thói bạc thành thuần hậu, để cùng hưởng phúc thăng bình”[58, tr.
Chính chủ nghĩa yêu nước nhân văn Việt Nam là cuội nguồn, là điểm xuất phát, là động lực trên đường cứu nước và là bộ lọc các học thuyết để Hồ Chí Minh lựa chọn và tiếp nhận tinh hoa văn hóa nhân loại mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác Lênin. Đúng như Người nói, “trong quá trình tìm đường cứu nước, 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com qua nghiên cứu Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V. Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hoàn toàn tin theo V. Lênin và Quốc tế thứ ba, thấm nhuần và vận dụng sáng tạo tư tưởng của V.
Lênin vào việc giải quyết những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam”[38, tr. Bởi vậy chủ nghĩa yêu nước nhân văn Việt Nam chính là cội nguồn thôi thúc Hồ Chí Minh xây dựng một nhà nước Việt Nam liêm khiết và giàu mạnh. Sau Cách mạng tháng Tám, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa mới ra đời đã phải đương đầu với vô vàn khó khăn, thách thức. Vận mệnh của đất nước như “ngàn cân treo sợi tóc”, chữ liêm có yêu cầu rộng hơn: là mọi người đều phải liêm.
Cũng như trung là trung với tổ quốc, hiếu là hiếu với nhân dân; ta thương cha mẹ ta, mà còn phải thương cha mẹ người, phải cho mọi người đều biết thương cha mẹ. Hồ Chí Minh kế thừa những tinh hoa văn hóa của dân tộc, đồng thời phát triển tinh hoa ấy lên một tầng cao mới. Nếu ngày xưa trung là trung với vua, hiếu là hiếu với cha mẹ thì giờ trung là trung với Tổ quốc, với dân tộc, hiếu với toàn thể nhân dân, không những hiếu với cha mẹ mình mà còn hiếu với cha mẹ người khác. Mọi người không những yêu thương gia đình mình mà còn phải yêu thương toàn thể dân tộc.
Bởi đều là con rồng, cháu lạc đều sinh ra từ trăm trứng trong bọc trứng của mẹ Âu Cơ. Tinh hoa văn hóa nhân loại về xây dựng nhà nước Từ cội nguồn là truyền thống tốt đẹp của dân tộc, Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành trên cơ sở tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại mà trước hết là tinh hoa văn hóa phương Đông. Xét về lãnh thổ, phương Đông là toàn bộ khu vực Châu Á và phần Đông Bắc Châu Phi. Trong buổi bình minh của lịch sử, các dân tộc phương Đông đã sáng tạo nên nhiều thành tựu văn hóa rực rỡ mà ngày nay chúng ta còn đang thừa hưởng.
Lẽ tất nhiên Hồ Chủ tịch của chúng ta cũng thừa hưởng những thành tựu này trong xây dựng đất nước và giải phóng dân tộc. Nội dung 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com luận văn đề cập đến tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước liêm khiết, vậy Người đã thừa hưởng điều gì từ nền văn hóa phương Đông, đó chính là Nho giáo. Hồ Chí Minh đã tiếp thu và vận dụng tư tưởng Nho giáo vào xây dựng nhà nước kiểu mới. Trong những bài nói, bài viết của mình, Người không trích dẫn hoàn toàn những lời dăn dạy ấy mà đã chuyển thành những luận đề cho phù hợp văn hóa Việt Nam và yêu cầu xây dựng nhà nước kiểu mới - nhà nước của dân, do dân, vì dân.
Khổng Tử nói: Sớm nghe đạo, chiều chết cũng cam. Hồ Chí Minh khi trả lời các nhà báo cũng nói: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”[41, tr. Thực tế cho thấy, cả cuộc đời của Người đã làm đúng như những gì Người nói, cả cuộc đời thanh liêm, chân chính, cả cuộc đời vì lợi ích của dân tộc mà không màng đến danh lợi cá nhân. Từ nhỏ, Hồ Chí Minh được tiếp xúc với những tư tưởng văn hóa của Phật giáo đã được đưa vào Việt Nam từ rất sớm.
Phật giáo vào Việt Nam từ đầu thế kỷ thứ I và có ảnh hưởng rất lớn đến văn hóa Việt Nam, nhất là ở thời đầu xây dựng nhà nước độc lập. Phật giáo được coi như quốc giáo của thời Lý, Trần và có nhiều đóng góp vào công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, hình thành những nét đặc sắc của văn hóa Việt Nam ở thời kỳ này.