Chương 1 ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT CỦA LÊ THÁNH TÔNG 1. ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ, CHÍNH TRỊ, KINH TẾ - XÃ HỘI VIỆT NAM THẾ KỶ XIV - XV VỚI SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT CỦA LÊ THÁNH TÔNG Tồn tại xã hội có mối quan hệ biện chứng với ý thức xã hội, chúng tác động qua lại lẫn nhau. Khi bàn về mối quan hệ này, C. ngghen đã khẳng định: “Ý thức không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là sự tồn tại được ý thức, và tồn tại của con người là quá trình đời sống hiện thực của con người., chính con người, khi phát triển sự sản xuất vật chất và sự giao tiếp vật chất của mình, đã làm biến đổi, cùng với hiện thực đó của mình, cả tư duy lẫn sản phẩm tư duy của mình.
Không phải ý thức quyết định đời sống mà chính đời sống quyết định ý thức. ng ghen, 1995, Toàn tập, tập 4, tr. Vào thế kỷ XV, trong yêu cầu xây dựng một Đại Việt hùng mạnh, thống nhất, độc lập tự chủ trên tất cả mọi mặt, cụ thể như về kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, tư tưởng chính trị nói chung, tư tưởng nhà nước và pháp luật của Lê Thánh Tông đã hình thành và phát triển. Với nhiệm vụ cơ bản nhất của nó là tập hợp sức mạnh của toàn dân tộc để một mặt xây dựng và phát triển đất nước, một mặt chống lại những âm mưu, thủ đoạn xâm lược từ phương Bắc.
Vì vậy, để hiểu được tư tưởng nhà nước và pháp luật của Lê Thánh Tông, trước hết chúng ta cần tìm hiểu, nghiên cứu những điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị - xã hội của nó, tức hiện thực Đại Việt trong thế kỷ XIV - XV. Đây là những cơ sở vật chất, xã hội nền tảng để từ đó mà Lê Thánh Tông nắm bắt, nhận thức để giải quyết. Điều kiện lịch sử, chính trị của xã hội Đại Việt thế kỷ XIV - XV với sự hình thành tư tưởng nhà nước và pháp luật của Lê Thánh Tông Vào thế kỷ XV, khi xã hội Đại Việt bộc lộ những bất ổn và đại cục từng bước chuyển quyền lực từ nhà Trần sang nhà Hồ thì sự mất ổn định này đã kéo dài 14 khá lâu, gây nên những vấn đề khủng hoảng sâu sắc, đặc biệt là về thiếu hụt kinh tế, suy thoái chính trị - xã hội. Cùng với sự quấy phá của Chiêm Thành, sự xâm lược tàn bạo của nhà Minh, Đại Việt cuối thế kỷ XIV dần lâm vào suy thoái.
Sở dĩ nhà Trần đi đến suy vong là vì: “Cậy mình giàu mạnh, mặc cho dân khốn khổ, chỉ ham vui chơi, đắm đuối tửu sắc. Những việc vô ích bày ra hằng ngày: nào là đánh bạc vây cờ, chọi gà, thả chim; nào là cá vàng nuôi chậu, chim rừng nhốt lồng. Khoa tốt tài nhỏ mọn, giành lấy hơn thua; quên hẳn thiên hạ lớn lao, chẳng hề đoái nghĩ. Kẻ oan uổng bị khổ ở chốn câu giam, hai ba năm không được xét hỏi; người thân sơ phải khuất ở tay nội giám, hai ba tháng mà việc chưa xong.
Khanh tướng lập đảng riêng tây; triều đình thiếu người can gián. Cho đến nỗi con vua cháu chúa bị hại bởi kế gian thần; quyền lớn việc to đều lọt vào tay xiểm nịnh. Nhân dân oán ghét mà không biết; lòng trời khiển trách mà chẳng kinh. Chính giáo do đó mà suy đồi; kỷ cương do đó mà rối loạn” (Viện Sử học Việt Nam, 1976, tr.
Để giải quyết tất cả những vấn đề này, giải quyết khủng hoảng chính trị lúc bấy giờ của Đại Việt, Hồ Quý Ly khi nắm được đại quyền trong triều nhà Trần đã thực hiện hàng loạt các biện pháp. Sau đó ông còn soán ngôi nhà Trần để thành lập nên triều đại mới, nhà Hồ. Quý Ly lấy niên hiệu là Thánh Nguyên, đặt quốc hiệu là Đại Ngu, tiếp tục đẩy mạnh các biện pháp cải cách trên nhiều lĩnh vực. Thậm chí, có những cải cách vượt qua thời đại của mình khi ông cải cách tiền tệ, cho ban hành tiền giấy và thu hồi tiền đồng, lập nên một hình thức tài chính mới trong lịch sử nước ta.
Điều này được thực hiện ngay từ năm 1396, khi Hồ Quý Ly còn là Phụ chính Thái sư. Đồng tiền giấy tuy là một giải pháp đi trước thời đại nhưng lúc bất giờ khi lấy nó thay cho tiền đồng thì mục tiêu chính là một giải pháp pháp giảm đi đồng kim loại vừa nặng, vừa làm khan hiếm nguyên liệu chứ không xuất phát từ nhu cầu lưu thông tiền tệ. Và cũng để nhằm mục đích sản xuất như chế tạo công cụ lao động hay đúc súng dùng cho quân đội. Hoạt động cải cách này được thực hiện triệt để trong cả nước một cách rộng rãi từ năm 1400.
Những mệnh giá tiền giấy có các loại như: 5 tiền, 3 tiền, 2 tiền, 20 đồng, 10 đồng. 15 Cải cách của Hồ Quý Ly tuy gây nhiều phiền nhiễu nhưng cũng phần nào giúp cho xã hội tái lập sự ổn định. Điều đó cũng thể hiện Hồ Quý Ly là người có năng lực, quyết đoán và tầm nhìn chiến lược. Tuy nhiên, do ông quá chú trọng về pháp trị đến mức cực đoan.
Bên cạnh đó, những mâu thuẫn trong triều và mâu thuẫn xã hội còn gay gắt, Hồ Quý Ly chưa có cơ sở chính trị vững chắc nên chưa tạo ra được sức mạnh thống nhất giữa triều đình - quân đội - lực lượng toàn dân tộc. Điều này dẫn đến hệ lụy là cuộc cải cách chưa thật sự thành công. Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Họ Hồ vô đạo, giặc thừa dịp ấy mà cướp nước ta. Tội ác tàn bạo của chúng, các ngươi cũng thấy cả rồi” (Đại Việt sử ký toàn thư (Hoàng Văn Lâu-Ngô Thế Long dịch theo bản khắc năm Chính Hòa thứ 18-1697), Nxb.
Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998, tập 2, tr. Nguyễn Trãi cũng nhận định: “Họ Hồ đã dùng gian trí để cướp lấy nước, lại lấy gian trí để hiếp lòng dân. lại thêm nhiều thuế má phiền, giao địch nặng, pháp luật ngặt, hình phạt nghiêm. Chỉ vụ ích kỷ, phì gia, chẳng nghĩ khổ dân hại nước” (Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb.
Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976, tr. Do đó, đất nước đã rơi vào tay ngoại bang. Đánh giá về những cải cách và con người của Hồ Quý Ly và điều kiện Đại Việt trong giai đoạn đầu thế kỷ XV, ta thấy rằng trước hết phải công nhận rằng Hồ Quý Ly là một nhà chính trị, nhà tư tưởng mới có nhiều ý tưởng cải cách táo bạo. Ông cũng là người quyết liệt và có tinh thần yêu nước.
Hồ Quý Ly cũng là một vị vua có tinh thần kiên quyết chống giặc để bảo vệ bờ cõi. Nhưng vấn đề quan trọng nhất đã bị bỏ qua trong tư tưởng của ông, đó là tính phù hợp với thực tế. Những tư tưởng và chính sách được thực thi dưới triều Hồ không phù hợp với thời đại, từ đó khiến cho hiệu quả của các cải cách không như mong đợi, mặt khác còn gây ra những xung đột. Ở một góc độ về tư tưởng, vẫn trên nền tảng của Nho giáo, nhưng tính thực dụng của Hồ Quý Ly đã tấn công vào những giáo điều cứng nhắc và mang một số ý nghĩa lịch sử nhất định.
Đó là những điểm độc đáo trong thời kỳ trung đại ở Việt Nam. Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi, Lê Lợi chính thức lên ngôi hoàng đế (15/04 năm Mậu thân), lấy niên hiệu Thuận Thiên, mở ra trang sử của triều đại 16 Lê sơ (1428 - 1527), đồng thời mở ra thời kỳ mới của lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam. Vào đầu triều Lê, kinh nghiệm, tri thức thời chiến chưa đủ để đưa đất nước phát triển. Chúng ta thấy rằng các tướng lĩnh của Lam Sơn khởi nghĩa hầu hết đều tham gia trực tiếp vào bộ máy chính quyền ở các cấp.
Bộ chỉ huy nghĩa quân Lam Sơn đã trở thành Bộ máy nhà nước độc lập, tự chủ. Đội ngũ này dạn dày chiến trường, quen thử thách, là đội ngũ công thần khai quốc đông đảo nhất so với các triều đại trước đây. Tuy nhiên cũng vì thế, tiêu cực đã xảy ra. Dù ở dưới thời mình, Vua Lê Thái Tổ vẫn khống chế được triều đình và điều hành tốt công việc triều chính nhưng ngay ở thời điểm đó, đã có nhiều công thần liên kết để trục lợi riêng, lấn át quyền vua.
Hiện tượng này tuy được nhận thức nhưng đã ngày càng phổ biến, khó kiểm soát. Thêm vào đó, vua Lê Thái Tổ, với uy tín của cuộc khởi nghĩa nhưng trong quá trình lãnh đạo ở vai trò mới, cũng không thể tránh khỏi một số sai lầm trong quan hệ với triều thần, từ đó cũng khiến các quan hệ trong triều đình ngày càng mâu thuẫn, căng thẳng, nghi kỵ nhau. Lần lượt những người như Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo, Nguyễn Trãi, là những công thần không thể thay thế được của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn bị hàm oan, bị sát hại… đã dẫn đến những vấn đề đặt ra cho vua Lê Thái Tổ khi ông phải đối diện với sự xuất hiện của thái độ bất hợp tác. Và không dừng lại ở đó, điều này còn âm ỉ và gây ra nhiều sóng gió cho các triều vua kế ngôi.
Vua Lê Thái Tông (1433-1442) lên ngôi khi còn rất trẻ. Triều đình lúc này, tuy có nhiều người giỏi nhưng thực tế lại thiếu người có tài văn trị. Giúp việc hỗ trợ cho vua trẻ có các phụ chính trợ giúp. Họ là các quan đại thần chức cao vọng trọng.
Họ là những người mà xưa kia là các tướng soái tài ba trong quân đội Lam Sơn. Họ cũng đã gầy dựng cho riêng mình những chiến công hiển hách để góp phần vào thành công chung của cuộc khởi nghĩa như Tư đồ Lê Sát, Tư khấu Lê Ngân, Đô đốc Phạm Văn Vấn. Nhưng trong điều kiện mới của chế độ, họ không phải là những người có nhiều khả năng. Trong nhiều trường hợp, họ cho thấy rằng về năng lực quản trị, xử lý chính trị, điều hành đất nước, họ có 17 nhiều lúng túng.
Thời bình đòi hỏi năng lực về chính sự, kinh tế xã hội thay vì là quân sự như chiến trận. Thêm vào đó, xuất phát từ lợi ích cá nhân, một số trong họ đã xuất hiện những đa nghi, cấu kết cùng nhau để thao túng triều chính. Những điều này dẫn đến sự việc việc đáng tiếc đã xảy ra, đôi khi cô lập người tài, gây ra những vụ án lớn như án của Nguyễn Trãi, Lưu Nhân Chú, Trịnh Khả, Bùi Ư Đài.