TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH -----------***------------ NGUYỄN THANH QUYÊN MSSV:1055040232 TƢ TƢỞNG PH N CHIA QUY N L C NHÀ NƢ C TRONG L CH S LẬP HI N VIỆT NAM LUẬN V N T T NGHIỆP C NH N LUẬT Niên khóa: 2010 - 2014 GVHD: ThS. NGUYỄN MẠNH H NG TP.HỒ CHÍ MINH – N M 2014 MỤC LỤC CHƢƠNG 1: KHÁI LUẬN CHUNG V TƢ TƢỞNG PH N CHIA QUY N L C NHÀ NƢ C 1. Lịch sử hình thành và phát triển của tƣ tƣởng phân quyền. Nội dung và giá trị thời đại của học thuyết phân quyền.
Nội dung của học thuyết phân quyền. Giá trị thời đại của học thuyết phân quyền. Sự áp dụng học thuyết phân quyền trong các mô hình chính thể đƣơng đại. Chính thể đại nghị.
Chính thể cộng hòa tổng thống. Chính thể cộng hòa hỗn hợp. Tƣ tƣởng phân chia quyền lực nhà nƣớc trong lịch sử lập hiến Việt Nam. 30 CHƢƠNG 2: TƢ TƢỞNG PH N CHIA QUY N L C NHÀ NƢ C TRONG HI N PHÁP HIỆN HÀNH, TH C TRẠNG VÀ KI N NGH 2.
Tƣ tƣởng phân chia quyền lực nhà nƣớc trong Hiến pháp năm 2013. Vấn đề phân công quyền lực nhà nước. Vấn đề phối hợp quyền lực nhà nước. Vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước.
Vấn đề phân công quyền lực nhà nước. Vấn đề phối hợp quyền lực nhà nước. Vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước. Vấn đề phân công quyền lực nhà nước.
Vấn đề phối hợp quyền lực nhà nước. Vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước .Tính cấp thiết của đề tài Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước được hình thành từ thời cổ đại và phát triển rực rỡ trong thời đại khai sáng, gắn liền với tên tuổi của Aristotle, Polybe, John Locke. Các tư tưởng này được Charlesclouis De SecondatMontesquieu khái quát lên thành học thuyết, thường được gọi là học thuyết phân chia quyền lực nhà nước hay thuyết phân quyền. Nguyên tắc phân chia quyền lực nhà nước có cơ sở từ thuyết phân quyền đã trở thành nguyên tắc cơ bản trong tổ chức bộ máy nhà nước tư bản.
Vì phân quyền gắn liền với việc giới hạn quyền lực nhà nước, đảm bảo quyền tự do chính trị của công dân. Trong khi đó, việc tổ chức quyền lực nhà nước ở các nước xã hội chủ nghĩa trong một thời gian dài đã phủ nhận hoàn toàn nguyên tắc này, thay vào đó là nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa. Ở nước ta, từ khi lập hiến đến nay, nguyên tắc phân quyền vẫn chưa một lần được ghi nhận trong Hiến pháp nhưng thực tế vẫn được áp dụng, đặc biệt là trong Hiến pháp năm 1946. Trong công cuộc đổi mới và hội nhập hiện nay, với định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta vẫn theo nguyên tắc tập quyền nhưng có tiếp thu hạt nhân hợp lý của học thuyết phân quyền.
Tuy nhiên, tổ chức bộ máy nhà nước trong Hiến pháp năm 2013 cũng bộc lộ nhiều bất cập và nảy sinh nhiều vấn đề liên quan đến cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước như sự phân công chưa thật sự rõ ràng, chồng chéo thẩm quyền giữa các nhánh quyền lực, vấn đề kiểm soát quyền lực của Quốc hội chưa được đề cập… Yêu cầu đặt ra trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền là phải khắc phục được những điểm yếu trên nhằm đảm bảo hoạt động của Nhà nước đạt hiệu quả cao. Từ đó, việc nghiên cứu những giá trị của học thuyết phân quyền và chuyển hóa nó vào mô hình bộ máy nhà nước ta là điều cần thiết mang tính cấp bách. Với việc nghiên cứu một cách nghiêm túc cũng như việc đưa ra các giải pháp trong Luận văn, tác giả mong muốn góp một phần nhỏ trong công tác hoàn thiện pháp luật nước nhà. Trong quá trình thực hiện đề tài hẳn còn sai sót, mong quý Thầy Cô góp ý và nhắc nhở.
Tác giả xin chân thành cảm ơn! 2. Tình hình nghiên cứu Đề tài “Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước trong lịch sử lập hiến Việt Nam” đã có một Luận văn Cử nhân Luật nghiên cứu, đó là Luận văn “Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước trong lịch sử lập hiến Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Hồng Phượng. Đây là một công trình nghiên cứu chuyên sâu về đề tài này nhưng được thực hiện từ năm 2009 nên vấn đề thể hiện tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước trong Hiến pháp năm 2013 chưa được đề cập. Ngoài ra, cũng có một số bài viết trên tạp chí có đề cập đến vấn đề phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước nhưng chưa phân tích về lịch sử hình thành, nội dung, giá trị thời đại của học thuyết phân quyền.Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của Luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề về nội dung và ý nghĩa của nguyên tắc phân quyền trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.
Qua việc tìm hiểu sự thể hiện tư tưởng phân chia quyền lực trong lịch sử lập hiến Việt Nam để đánh giá những tiến bộ và yếu kém cần loại bỏ. Qua đó, đề xuất một số kiến nghị liên quan đến nguyên tắc “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” nhằm làm cho tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước đạt hiệu quả cao, chống lại sự thâu tóm trong quyền lực nhà nước. Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, Luận văn có nhiệm vụ: Làm rõ lịch sử hình thành và phát triển của tư tưởng phân quyền. Nội dung và giá trị của học thuyết phân quyền.
Việc áp dụng học thuyết phân quyền trong các mô hình chính thể đương đại. Phân tích, đánh giá cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước có hay không sự vận dụng tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước trong lịch sử lập hiến Việt Nam và mức độ áp dụng như thế nào. Đề xuất một số kiến nghị về tổ chức bộ máy nhà nước có khai thác yếu tố tích cực của nguyên tắc phân chia quyền lực nhà nước. Phạm vi vàđối tƣợng nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu: Luận văn này chỉ dừng lại ở việc phân tích, đánh giá, làm rõ sự thể hiện tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước trong phạm vi các cơ quan nhà nước ở trung ương trong lịch sử lập hiến Việt Nam và đưa ra một số định hướng mang tính định hướng tham khảo trong tổ chức bộ máy nhà nước.
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các cơ quan nhà nước ở trung ương qua hiến định. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận văn Luận văn này sẽ góp phần làm sáng tỏ những điểm lý luận và thực tiễn của phương thức hạn chế quyền lực nhà nước chống sự chuyên chế, độc tài và đề xuất một số ý kiến về tổ chức bộ máy nhà nước trong tương lai. Kết quả của Luận văn này có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu và giảng dạy của các cơ sở đào tạo luật. Phƣơng pháp nghiên cứu Trong phạm vi nghiên cứu, tác giả sử dụng hầu hết các phương pháp nghiên cứu chung của ngành khoa học pháp lý từ phân tích, tổng hợp đến chứng minh và so sánh, dựa trên phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin.
Kết cấu của Luận văn Luận văn này gồm: Lời nói đầu Hai chương: Chƣơng 1: Khái luận chung về tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước. Chƣơng 2: Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước trong Hiến pháp hiện hành, thực trạng và kiến nghị. Kết luận Danh mục tài liệu tham khảo CHƢƠNG 1 KHÁI LUẬN CHUNG V TƢ TƢỞNG PH N CHIA QUY N L C NHÀ NƢ C 1. Lịch sử hình thành và phát triển của tƣ tƣởng phân quyền Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước hay còn gọi là tư tưởng phân quyền xuất hiện từ rất sớm.
Tư tưởng này được nảy sinh từ thực tiễn tổ chức bộ máy nhà nước Athens và La Mã, gắn liền với việc thiết lập và củng cố nền dân chủ. Sau này, các nhà tư tưởng thời khai sáng khái quát lên thành học thuyết và trở thành nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước tư bản. Khoảng thế kỉ thứ IV TCN, Aristotle (384 - 322 TCN) trên cơ sở nghiên cứu Hiến pháp của 158 nhà nước đơn nhất và liên bang đã viết tác phẩm “Chính trị học” và “Hiến pháp Athens”. Qua các tác phẩm này, ông đã đặt nền tảng cho sự ra đời của học thuyết phân quyền dù chỉ ở mức độ sơ khai.
Ông phân biệt các lĩnh vực hoạt động của nhà nước thành ba bộ phận hoàn toàn riêng biệt với nhau. Đó là các quyền thảo luận hay quyết nghị, áp dụng luật hay hành pháp và phán xử theo luật. Ba chức năng này sẽ phân cho các cơ quan khác nhau đảm nhiệm. Ngoài ra, ông cũng trình bày cách thức hình thành, chức năng, thẩm quyền, thành viên và cơ cấu của từng bộ phận.Đặc biệt, ông cho rằng không có loại hình chính phủ nào là duy nhất có thể phù hợp với tất cả thời đại và quốc gia 1.Như vậy, có thể nói Aristotle là người đầu tiên trình bày về tư tưởng phân quyền.
Nhưng do hạn chế của thời đại ông chưa thấy được mối quan hệ giữa ba bộ phận này, cũng như không nêu được nguyên nhân vì sao lại phân chia quyền lực nhà nước thành ba bộ phận như trên. Sau Aristotle còn có Polybe(210 - 120 TCN) cũng bổ sung thêm vào tư tưởng này tính độc lập tương đối của các bộ phận quyền lực nhà nước2. Mặc dù có giá trị vượt thời đại song tư tưởng phân quyền hầu như không được nhắc đến trong thời kì hưng thịnh của chế độ phong kiến, khi mà chính thể quân chủ chuyên chế ngự trị ở hầu hết các nước. Chỉ đến khi quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa xuất hiện, trở thành chỗ dựa vững chắc về mặt tư tưởng cho các 1Sau này, Rousseau trong tác phẩm nổi tiếng “Khế ước xã hội” cũng nhiều lần đề cập đến luận điểm này “Nhưng các mục tiêu chung nói trên của một thể chế tốt đẹp là Tự do và Bình đẳng sẽ tùy theo hoàn cảnh mỗi nước mà đổi khác do tình huống quốc gia.
Mỗi dân tộc sẽ tự chọn lấy thể chế thích hợp riêng của mình”.