Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ triết học với đề tài "Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về nhà nước với việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam" được tác giả Trần Ngọc Liêu thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2009, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Bùi Thanh Quất, thuộc chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử (mã số: 62.05).

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả trình bày rằng trong bối cảnh thực tiễn đất nước và quốc tế có nhiều biến đổi sâu sắc, Đảng Cộng sản Việt Nam kiên định con đường cách mạng vô sản hướng tới xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sự lựa chọn này đặt ra yêu cầu phải sáng tạo lý luận vì không thể tìm thấy lời giải đáp có sẵn cho mọi vấn đề cụ thể của Việt Nam từ trong di sản kinh điển cũng như thực tiễn nước khác. Tại Đại hội IX và Đại hội X, Đảng đã xác định rõ mô hình và nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; quản lý xã hội bằng pháp luật và hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp.

Khoảng trống nghiên cứu then chốt mà luận án nhận diện là: Xét về lịch sử, việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam diễn ra sau nhiều quốc gia, nhưng về bản chất đây lại là mô hình nhà nước trong chế độ xã hội chủ nghĩa – một chế độ ở trình độ phát triển cao hơn về chất so với chế độ tư bản chủ nghĩa. Do đó, nghiên cứu phải giải quyết "nhiệm vụ kép": vừa khảo sát mô hình lý luận và thực tiễn của các nhà nước pháp quyền hiện tồn trên thế giới (vốn chưa hoàn toàn chín muồi), vừa luận giải và định hình tương lai của mô hình nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện nhiệm vụ này, việc làm rõ và khẳng định quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về nhà nước đóng vai trò là cơ sở lý luận và phương pháp luận nền tảng.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là nhận thức và vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về nhà nước để xác định và giải quyết những vấn đề cơ bản đang đặt ra nhằm tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Luận án thực hiện 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Trình bày khái quát và làm rõ giá trị lý luận của những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về nhà nước đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
  2. Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về nhà nước để nghiên cứu các quan niệm tiêu biểu về nhà nước pháp quyền trên thế giới và ở Việt Nam, qua đó xây dựng nhận thức lý luận về bản chất nhà nước pháp quyền.
  3. Dựa trên nhận thức lý luận về bản chất nhà nước pháp quyền theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về nhà nước, xác định và đề xuất hướng giải quyết những vấn đề cơ bản đang đặt ra nhằm tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong hiện thực.

Đối tượng nghiên cứu là những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về nhà nước, các quan niệm tiêu biểu về nhà nước pháp quyền trên thế giới và việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu được giới hạn ở các quan điểm của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin và Hồ Chí Minh qua các văn bản đã công bố chính thức; tập trung xây dựng định nghĩa khoa học về nhà nước pháp quyền dưới góc độ triết học - chính trị mác-xít và đề xuất phương hướng giải quyết ở tầm quan điểm phương pháp luận.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong luận án điểm lại các công trình nghiên cứu về nhà nước pháp quyền từ khi Cương lĩnh năm 1991 ra đời đến thời điểm thực hiện luận án (2009). Các công trình và tác giả tiêu biểu được trích dẫn gồm:

  • Viện Thông tin Khoa học xã hội: Nhà nước pháp quyền và xã hội công dân.
  • Nguyễn Văn Niên: Xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam - một số vấn đề lý luận và thực tiễn.
  • Bộ Tư pháp: Về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Tìm hiểu về nhà nước pháp quyền.
  • Lê Văn Cảm: Học thuyết về nhà nước pháp quyền và thực tiễn của nó ở Liên bang Nga.
  • Đào Trí Úc: Tăng cường pháp chế, xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam, quản lý xã hội bằng pháp luật; Nhà nước pháp quyền: Khái niệm, những đặc trưng cơ bản - Điều kiện và con đường hình thành nhà nước pháp quyền ở nước ta; Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng.
  • Phùng Văn Tửu: Xây dựng, hoàn thiện nhà nước, pháp luật của dân, do dân và vì dân ở Việt Nam.
  • Lê Minh Thông: Một số vấn đề về hoàn thiện tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
  • Nguyễn Đăng Dung: Sự hạn chế quyền lực nhà nước; Nhà nước và trách nhiệm của nhà nước.
  • Lê Minh Quân: Xây dựng nhà nước pháp quyền đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
  • Nguyễn Trọng Thóc: Xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân.
  • Trần Hậu Thành: Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
  • Nguyễn Duy Quý và Nguyễn Tất Viễn (đồng chủ biên): Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân: Lý luận và thực tiễn.
  • Tập thể tác giả: Nhà nước pháp quyền và xã hội công dân; Vận dụng học thuyết Mác để xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam.

Tác giả phân loại các nghiên cứu đi trước thành 5 hướng chính:

  1. Nghiên cứu lịch sử tư tưởng pháp quyền thế giới từ thời Cổ đại đến Cận - Hiện đại.
  2. Khảo sát lý luận và thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền tại các nước tư bản (Đức, Pháp, Mỹ, Nga) để khái quát thành các nguyên tắc và giá trị chung.
  3. Tìm kiếm mầm mống và điều kiện lịch sử của nhà nước, pháp quyền trong lịch sử Việt Nam.
  4. Khai thác di sản của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin và Hồ Chí Minh về nhà nước.
  5. Nghiên cứu tổng hợp gắn liền với quá trình đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Việt Nam.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết tập trung vào 2 vấn đề căn bản:

  • Thứ nhất, xác lập lại quan điểm khi nghiên cứu di sản kinh điển: Khắc phục cách tiếp cận máy móc vốn chỉ đi tìm các thuật ngữ trùng khớp ngôn từ rồi vội vã kết luận các nhà kinh điển không bàn về nhà nước pháp quyền. Luận án khẳng định tư tưởng không đồng nhất với ngôn ngữ; C. Mác, Ph. Ăngghen và V.I. Lênin đã giải quyết triệt để vấn đề nhà nước thông qua chủ nghĩa duy vật lịch sử và học thuyết hình thái kinh tế - xã hội. Cần lấy lý luận mác-xít làm điểm xuất phát để phân tích hiện tượng nhà nước pháp quyền, thay vì lấy các "giá trị chung" của xã hội tư sản để phán xét di sản mác-xít.
  • Thứ hai, phương pháp tư duy về mối quan hệ giữa cái phổ biến và cái đặc thù: Tránh việc tuyệt đối hóa mô hình nhà nước tư sản thành chuẩn mực phổ quát bắt buộc áp đặt cho Việt Nam. Luận án khẳng định tính chất pháp quyền của nhà nước Việt Nam mang bản chất xã hội chủ nghĩa khác về chất so với xã hội tư sản, và các giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền được định hình, thể hiện thông qua quá trình phát triển tự thân mang tính đặc thù của lịch sử chính trị Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án là công trình nghiên cứu lý luận thuần túy theo định hướng triết học xã hội và triết học chính trị.

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích:

  • Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử mác-xít, trọng tâm là học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, quy luật cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, mối quan hệ biện chứng giữa xã hội công dân và nhà nước, sự hình thành giai cấp và nguồn gốc tha hóa quyền lực công từ mâu thuẫn lợi ích.
  • Hệ thống quan điểm triết học - chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (thể hiện trong Cương lĩnh 1991, Văn kiện Đại hội VII, VIII, IX, X).

Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng phương pháp luận triết học mác-xít kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành khoa học xã hội:

  • Phương pháp kết hợp lịch sử và lôgíc: Luận giải sự vận động của các quan hệ sản xuất, phân công lao động dẫn đến sự xuất hiện, biến đổi của các hình thái nhà nước và tư tưởng pháp quyền qua các thời kỳ.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Mổ xẻ các văn bản kinh điển, phân loại các luồng tư tưởng trên thế giới và trong nước để tổng hợp thành các luận điểm lý luận.
  • Phương pháp trừu tượng hóa và khái quát hóa: Rút ra bản chất triết học của khái niệm nhà nước pháp quyền từ các biểu hiện thể chế thực nghiệm.
  • Phương pháp quy nạp và diễn dịch: Đi từ các luận điểm cụ thể của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin, Hồ Chí Minh để diễn dịch thành các nguyên tắc phương pháp luận cho thực tiễn Việt Nam.
  • Phương pháp hệ thống - cấu trúc: Xem xét bộ máy nhà nước và các thiết chế chính trị - xã hội trong chỉnh thể cấu trúc quyền lực thống nhất.
  • Phương pháp phân tích văn bản: Khảo cứu trực tiếp các tác phẩm kinh điển, văn kiện chính trị, hiến pháp và các tài liệu chuyên khảo.

Nguồn tư liệu:

  • Toàn tập tác phẩm của C. Mác và Ph. Ăngghen (như Phê phán triết học pháp quyền của Hêghen, Hệ tư tưởng Đức, Những luận cương về Phơbách, Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước, Góp phần phê phán kinh tế chính trị học, Phê phán Cương lĩnh Gôta...).
  • Toàn tập tác phẩm của V.I. Lênin (như Nhà nước và cách mạng, Cách mạng vô sản và tên phản bội Cauxky, các văn kiện về pháp chế Xô-viết).
  • Hồ Chí Minh Toàn tập và các văn kiện chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam.
  • Các công trình chuyên khảo, bài báo khoa học về nhà nước và pháp luật xuất bản trong nước và quốc tế.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về nhà nước

Chương 1 hệ thống hóa và luận giải toàn diện di sản lý luận của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về hiện tượng nhà nước.

Tác giả kinh điển Tác phẩm / Văn kiện tiêu biểu Luận điểm và nội dung cốt lõi
C. Mác và Ph. Ăngghen Phê phán triết học pháp quyền của Hêghen, Hệ tư tưởng Đức, Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước - Lật ngược quan điểm duy tâm của Hêghen; khẳng định "xã hội công dân" quyết định nhà nước.
- Xác định 2 lớp nghĩa của nhà nước: (1) Tổng thể sự tồn tại của nhân dân/cách thức tổ chức xã hội; (2) Nhà nước chính trị (bộ máy).
- Nguồn gốc nhà nước bắt nguồn từ phân công lao động, tư hữu và mâu thuẫn giữa lợi ích riêng với lợi ích chung.
- 2 đặc trưng của nhà nước: Phân chia dân cư theo địa vực và thiết lập quyền lực công cộng.
- Lôgíc vận động: Đồng nhất trừu tượng $\rightarrow$ Đối lập với xã hội $\rightarrow$ Tái đồng nhất cụ thể (nhà nước tự tiêu vong tính chính trị).
V.I. Lênin Nhà nước và cách mạng, Cách mạng vô sản và tên phản bội Cauxky - Nhấn mạnh bản chất giai cấp của nhà nước và tính tất yếu của bạo lực cách mạng để đập tan bộ máy cũ.
- Luận giải nhà nước chuyên chính vô sản là "nhà nước quá độ", "nửa nhà nước".
- Mối quan hệ biện chứng giữa chuyên chính và dân chủ: Dân chủ cho tuyệt đại đa số nhân dân, chuyên chính đối với giai cấp bóc lột.
- Xác lập các nguyên tắc pháp chế Xô-viết: Pháp chế thống nhất, tuân thủ nghiêm minh; khẳng định pháp quyền bị quy định bởi chế độ kinh tế và trình độ văn hóa; chú trọng giáo dục văn hóa để nhân dân biết làm chủ bằng pháp luật.
Hồ Chí Minh Yêu sách của nhân dân An Nam, Đường kách mệnh, Hồ Chí Minh Toàn tập - Vận dụng sáng tạo, không áp dụng máy móc đấu tranh giai cấp của phương Tây vào Đông Dương.
- Khẳng định bản chất Nhà nước Việt Nam mới là nhà nước của dân, do dân, vì dân; quyền lực và quyền lợi thuộc về nhân dân.
- Tư tưởng pháp quyền: Quản lý xã hội bằng pháp luật ("Trăm đều phải có thần linh pháp quyền"), tổ chức theo nguyên tắc quyền lực nhà nước thống nhất, có sự phân công và phối hợp.

Tác giả chỉ ra rằng theo C. Mác và Ph. Ăngghen, nhà nước không phải là một thực thể tự thân mà là hiện tượng phái sinh từ phương thức sản xuất vật chất. Mâu thuẫn giữa năng suất lao động và nhu cầu phân phối dẫn đến việc một bộ phận chiếm hữu tư liệu sản xuất và biến quyền lực công thành công cụ bảo vệ đặc quyền giai cấp. V.I. Lênin đã cụ thể hóa học thuyết này trong bối cảnh chiến tranh cách mạng, phân tích sâu sắc các công cụ cưỡng chế (quân đội thường trực, cảnh sát) và xác định điều kiện kinh tế cho sự tự tiêu vong của nhà nước khi xã hội cộng sản đạt trình độ phát triển cao ("làm hết năng lực, hưởng theo nhu cầu"). Trong khi đó, Hồ Chí Minh đã tiếp thu tinh hoa văn hóa chính trị Đông - Tây trên nền tảng mác-xít để xây dựng nhà nước dân chủ mới ở Việt Nam, đặt nền móng cho việc quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật.

Chương 2: Nhận thức bản chất nhà nước pháp quyền trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về nhà nước

Chương 2 thực hiện việc khảo cứu lịch sử tư tưởng và xác lập định nghĩa triết học về nhà nước pháp quyền:

  • Lịch sử tư tưởng pháp quyền trên thế giới: Phân tích mầm mống từ thời Cổ đại khi con người tìm kiếm cơ chế ràng buộc quyền lực bằng quy phạm; quá trình định hình các học thuyết tiêu biểu thời Cận - Hiện đại gắn với phương thức sản xuất tư bản và giai cấp tư sản. Luận án vạch rõ giá trị lịch sử (chống chế độ phong kiến chuyên chế, đề cao quyền tự do cá nhân và trật tự pháp luật) song cũng chỉ rõ giới hạn giai cấp (tính chất hình thức của nền dân chủ tư sản, che đậy bất bình đẳng kinh tế bằng bình đẳng pháp lý trừu tượng).
  • Quan niệm của giới khoa học Việt Nam: Hệ thống hóa các cuộc thảo luận học thuật trong nước từ sau đổi mới, làm rõ những điểm đồng thuận về các tiêu chí pháp quyền cũng như những điểm còn phân tán trong cách tiếp cận thuật ngữ.
  • Xác lập định nghĩa và bản chất triết học - chính trị: Từ phương pháp luận duy vật lịch sử, luận án khẳng định nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước độc lập (như kiểu nhà nước chủ nô, phong kiến, tư sản hay xã hội chủ nghĩa), mà là một phương thức tổ chức và thực thi quyền lực công cộng đạt đến trình độ văn minh nhất định. Bản chất của nhà nước pháp quyền thể hiện ở mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội công dân, trong đó quyền lực công cộng bị chế ước bởi pháp luật, và pháp luật đó phải thể hiện ý chí, bảo đảm quyền tự do, bình đẳng của nhân dân lao động.

Chương 3: Tiếp tục xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước

Chương 3 tập trung giải quyết các vấn đề thực tiễn của Việt Nam trên cơ sở lý luận đã xác lập:

  • Đổi mới tư duy lý luận của Đảng: Trình bày tiến trình nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các kỳ Đại hội (VII, VIII, IX, X), đánh giá các bước chuyển biến từ nhận thức về "quản lý bằng pháp luật" đến việc xác định hoàn thiện thể chế "Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa". Tác giả chỉ ra các vấn đề lý luận đặt ra cần tiếp tục làm sâu sắc, đặc biệt là mối quan hệ giữa sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và quyền làm chủ của nhân dân.
  • Thể chế hóa quyền lực của nhân dân thành pháp luật: Đi sâu phân tích nội hàm khái niệm "nhân dân" trong thời kỳ quá độ, xác định các cơ chế chính trị - pháp lý để chuyển hóa ý chí, lợi ích chính đáng của các tầng lớp nhân dân thành các văn bản quy phạm pháp luật có tính cụ thể và khả thi cao.
  • Hoàn thiện bộ máy nhà nước và hệ thống chính trị: Đánh giá thẳng thắn các hạn chế của hệ thống chính trị Việt Nam thời điểm đó (tình trạng quan liêu, trùng chéo chức năng, thiếu đồng bộ trong cơ chế kiểm tra, giám sát). Luận án đề xuất phương hướng hoàn thiện hệ thống thiết chế nhằm thực hiện triệt để nguyên tắc: Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp nhịp nhàng giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp; tăng cường kiểm tra, giám sát tính hợp hiến và hợp pháp trong mọi hoạt động của công quyền.

Kết quả và những đóng góp mới

Theo công bố của tác giả tại phần mở đầu, luận án đạt được các kết quả và đóng góp mới sau:

  1. Về cách tiếp cận lý luận: Luận án xác lập cách tiếp cận phù hợp và cách luận giải mới nhằm khám phá các giá trị khoa học trong di sản của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin và Hồ Chí Minh về nhà nước; chứng minh rằng lý luận mác-xít cung cấp cơ sở phương pháp luận đầy đủ để nhận thức bản chất nhà nước pháp quyền mà không cần sao chép các tín điều tư sản.
  2. Về hệ thống hóa tư tưởng: Hệ thống hóa và đánh giá khách quan các quan niệm tiêu biểu trên thế giới và ở Việt Nam về nhà nước pháp quyền từ lập trường duy vật lịch sử, phân định rõ giá trị tiến bộ và hạn chế giai cấp của các học thuyết pháp quyền tư sản.
  3. Về mặt khái niệm: Xây dựng định nghĩa và khái niệm "Nhà nước pháp quyền" dưới góc độ triết học - chính trị mác-xít, làm rõ vị trí của nó như một phương thức tổ chức quyền lực công cộng gắn liền với trình độ phát triển của xã hội.
  4. Về mặt thực tiễn và giải pháp: Đề xuất hệ thống phương hướng mang tính phương pháp luận nhằm tiếp tục đổi mới tư duy lý luận của Đảng, thể chế hóa quyền lực nhân dân và hoàn thiện bộ máy nhà nước cùng các thiết chế chính trị - xã hội tại Việt Nam.

Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện ở việc cung cấp tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, hoạch định chính sách xây dựng thể chế, đồng thời phục vụ giảng dạy các chuyên ngành Triết học, Chính trị học, Luật học và Khoa học quản lý.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, văn bản luận án xác định rõ phạm vi tiếp cận thuần túy ở cấp độ triết học - chính trị mác-xít (nghiên cứu bản chất, quy luật chung và phương pháp luận). Do đó, luận án không đi sâu giải quyết các vấn đề kỹ thuật lập pháp chi tiết, kỹ thuật tư pháp hay các quy trình thủ tục hành chính cụ thể thuộc phạm vi của khoa học luật pháp thực chứng.

Về nguồn tư liệu, nghiên cứu tập trung khai thác hệ thống tác phẩm kinh điển của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, chưa bao quát chi tiết toàn bộ các trào lưu triết học pháp quyền phương Tây đương đại ngoài mác-xít.

Hướng nghiên cứu tiếp được gợi mở từ luận án bao gồm:

  • Tiếp tục cụ thể hóa các nguyên tắc phương pháp luận triết học thành các cơ chế pháp lý thực định trong từng lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp.
  • Nghiên cứu sâu hơn về cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước và cơ chế giám sát, bảo vệ Hiến pháp (tài phán hiến pháp) phù hợp với nguyên tắc quyền lực nhà nước thống nhất trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo dành cho các nhóm đối tượng:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Thuộc các chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, Triết học chính trị, Lý luận Nhà nước và Pháp luật, Lịch sử tư tưởng chính trị. Công trình cung cấp phương pháp luận mẫu mực trong việc khai thác và phân tích văn bản kinh điển mác-xít.
  • Các nhà hoạch định chính sách và cán bộ làm công tác thể chế: Giúp nắm vững cơ sở lý luận nền tảng khi tham mưu, xây dựng các đề án đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước, cải cách hành pháp, tư pháp và hoàn thiện hệ thống pháp luật.

Các phần nội dung đáng tham khảo nhất:

  • Phần phân tích hai lớp nghĩa của khái niệm nhà nước và cơ chế tha hóa quyền lực công cộng trong Chương 1.
  • Phần luận giải bản chất triết học của nhà nước pháp quyền và phê phán các quan điểm phiến diện về pháp quyền tư sản trong Chương 2.
  • Hệ thống quan điểm phương pháp luận về thể chế hóa quyền lực nhân dân trong Chương 3.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao tác giả cho rằng không thể đánh giá sự hiện diện của tư tưởng nhà nước pháp quyền trong di sản Mác - Ăngghen chỉ dựa vào câu chữ?
Tác giả giải thích rằng tư tưởng chỉ tồn tại thông qua hình thức vật chất như ngôn ngữ, nhưng tư tưởng không đồng nhất với ngôn ngữ. Việc các nhà kinh điển có dùng hay không thuật ngữ quen thuộc của giai cấp tư sản không quyết định việc họ có tư tưởng đó hay không. Bằng việc xây dựng chủ nghĩa duy vật lịch sử và học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, C. Mác và Ph. Ăngghen đã vạch trần bản chất sâu xa của nhà nước và quyền lực công, giải quyết triệt để nền tảng của vấn đề pháp quyền.

2. Khái niệm "nhà nước" được C. Mác và Ph. Ăngghen luận giải theo hai lớp nghĩa nào?
Theo phân tích của luận án dựa trên tác phẩm Phê phán triết học pháp quyền của Hêghen, nhà nước được hiểu theo hai lớp nghĩa: (1) Tổng thể của sự tồn tại của nhân dân (xã hội được tổ chức theo một cách thức xác định); và (2) Nhà nước chính trị (bộ máy nhà nước). Sự vận động biện chứng giữa hai lớp nghĩa này phản ánh quá trình tha hóa của bộ máy quyền lực công tách khỏi xã hội và xu hướng tái đồng nhất với xã hội khi giai cấp bị xóa bỏ.

3. V.I. Lênin phân tích mối quan hệ giữa tính chuyên chính và tính dân chủ của nhà nước vô sản như thế nào?
V.I. Lênin chỉ rõ chuyên chính và dân chủ là hai mặt của bản chất giai cấp nhà nước. Chuyên chính vô sản không đối lập với dân chủ mà là sự mở rộng tối đa dân chủ cho đại đa số nhân dân lao động (dân chủ cho người nghèo), đồng thời thực hiện chuyên chính, trấn áp bằng bạo lực đối với thiểu số bóc lột nhằm bảo vệ thành quả cách mạng.

4. Điểm sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề đấu tranh giai cấp khi xây dựng Nhà nước Việt Nam mới là gì?
Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin trên cơ sở thực tiễn Việt Nam, nhận thấy cuộc đấu tranh giai cấp ở Đông Dương không giống phương Tây. Người xác lập quan điểm "không chủ trương đấu tranh giai cấp" một cách máy móc, giáo điều, mà tập trung đại đoàn kết toàn dân để xây dựng một nhà nước của dân, do dân, vì dân, quản lý xã hội bằng pháp luật.

5. Luận án dẫn các văn kiện nào của Đảng Cộng sản Việt Nam để khẳng định mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa?
Luận án dẫn Nghị quyết và Báo cáo chính trị của Cương lĩnh năm 1991, Đại hội VII, Đại hội VIII, đặc biệt trích dẫn trực tiếp Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và lần thứ X khẳng định nguyên tắc: Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; quản lý xã hội bằng pháp luật.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Ngọc Liêu là công trình nghiên cứu hệ thống về mối quan hệ giữa quan điểm mác-xít về nhà nước và thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bằng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận án đã làm sáng tỏ giá trị lý luận kinh điển của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, định nghĩa bản chất triết học của nhà nước pháp quyền như một phương thức tổ chức quyền lực công cộng văn minh. Công trình cung cấp hệ thống quan điểm phương pháp luận phục vụ công cuộc đổi mới tư duy lý luận của Đảng, thể chế hóa quyền lực của nhân dân và hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà nước Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.