Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ lịch sử với đề tài "Quá trình xây dựng tổ chức và hoạt động của Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam từ năm 1945 đến năm 1954" do nghiên cứu sinh Đoàn Thị Hương thực hiện tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (mã số: 60 22 56 01), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Trịnh Nhu (Hà Nội, 2014).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, thực dân Pháp nổ súng gây hấn tại Sài Gòn vào ngày 23-9-1945, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lần thứ hai. Nam Bộ trở thành chiến trường bùng nổ kháng chiến sớm nhất, đồng thời là địa bàn xa cơ quan đầu não của Trung ương Đảng (đóng tại Việt Bắc) trong bối cảnh giao thông liên lạc gặp muôn vàn khó khăn, chiến trường toàn quốc bị chia cắt. Trước tình thế đó, Trung ương Đảng đã chủ trương duy trì, củng cố cơ quan lãnh đạo chung cho toàn xứ là Xứ ủy Nam Bộ (tiền thân là Xứ ủy Nam Kỳ), không giải thể cấp xứ như đã thực hiện ở Bắc Bộ và Trung Bộ. Đến tháng 3-1951, nhằm tăng cường sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương đối với chiến trường miền Nam, Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương (Khóa II) quyết định giải thể Xứ ủy Nam Bộ, thành lập Trung ương Cục miền Nam do đồng chí Lê Duẩn làm Bí thư (chính thức thành lập tháng 6-1951).

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ rõ: Mặc dù Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam đóng vai trò lãnh đạo trực tiếp toàn diện cuộc kháng chiến tại Nam Bộ và thực hiện nghĩa vụ quốc tế đối với cách mạng Campuchia, các công trình khoa học đã công bố trước đó chưa từng tiếp cận hai cơ quan này như một đối tượng nghiên cứu lịch sử độc lập, toàn diện và có hệ thống. Các nghiên cứu trước đây thường đặt vấn đề phân tán, hòa lẫn vào diễn biến phong trào kháng chiến chung, thiên về góc độ quân sự hoặc chỉ mô tả các sự kiện cụ thể ở từng địa phương mà thiếu cái nhìn tổng thể về tiến trình xác lập, hoàn thiện tổ chức bộ máy và hoạt động thực tiễn của cơ quan lãnh đạo cấp cao của Đảng tại Nam Bộ.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu quá trình xây dựng tổ chức và hoạt động của Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1945-1954) nhằm làm sáng rõ quá trình xây dựng, đặc điểm tổ chức, hoạt động và vai trò của cơ quan lãnh đạo của Đảng ở Nam Bộ trong kháng chiến chống thực dân Pháp; đóng góp vào công tác nghiên cứu, giảng dạy Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam; cung cấp các luận cứ khoa học cho công tác xây dựng Đảng hiện nay.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Sưu tầm, hệ thống hoá nguồn sử liệu về quan điểm và thực tiễn xây dựng Đảng liên quan đến Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp.
    2. Tái hiện và luận giải quá trình xây dựng tổ chức bộ máy cùng hoạt động của Xứ uỷ Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam giai đoạn 1945-1954.
    3. Làm rõ vai trò của Xứ uỷ Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam trong lãnh đạo chiến tranh cách mạng trên địa bàn phụ trách.
    4. Phân tích khoa học những đặc điểm, ưu điểm, hạn chế của quá trình xây dựng Xứ uỷ Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1945-1954); đúc kết các bài học kinh nghiệm có giá trị lý luận và thực tiễn.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Sự chỉ đạo của Trung ương Đảng về xây dựng Xứ ủy Nam Bộ, Trung ương Cục miền Nam; cơ cấu tổ chức, bộ máy và hoạt động của Xứ ủy Nam Bộ rồi Trung ương Cục miền Nam trong lãnh đạo kháng chiến, kiến quốc ở Nam Bộ và thực hiện nhiệm vụ quốc tế với cách mạng Campuchia.
  • Phạm vi nội dung: Quá trình xác lập, biến đổi cơ cấu tổ chức, bộ máy, nhân sự chủ chốt; hoạt động lãnh đạo của Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam trên các lĩnh vực: phát động kháng chiến, xây dựng lực lượng vũ trang, mặt trận dân tộc thống nhất, chính quyền cách mạng, kinh tế - văn hóa kháng chiến, công tác xây dựng nội bộ Đảng và chỉ đạo giúp đỡ phong trào kháng chiến Campuchia.
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 1945 đến năm 1954.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn Nam Bộ và các khu vực thuộc trách nhiệm phụ trách theo phân công của Trung ương Đảng, bao gồm các tỉnh Nam Bộ và địa bàn Campuchia (hai tỉnh cực Nam Trung Bộ là Bình Thuận và Ninh Thuận từ năm 1948 thuộc về Liên khu 5).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã khảo cứu và phân loại một khối lượng lớn công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo các nhóm tài liệu:

Nhóm tài liệu Các công trình tiêu biểu được khảo cứu Nhận xét và đánh giá của tác giả
Lịch sử Đảng và lịch sử cuộc kháng chiến chung - Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, sơ thảo, tập 1 (1920-1954) [40]
- Lịch sử biên niên Đảng Cộng sản Việt Nam, tập III (1945-1954) [86]
- Lịch sử biên niên Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954-1975) (GS.TS Trịnh Nhu chủ biên) [233]
- Các Đại hội đại biểu toàn quốc và hội nghị BCH Trung ương Đảng (1930-2006) (PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc chủ biên) [126]
- Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp - Thắng lợi và Bài học [36]
- Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược 1945-1954 (2 tập) [236; 237]
Phản ánh được các chủ trương, đường lối chung của Trung ương và một số sự kiện biên niên về cấp ủy Đảng ở Nam Bộ; tuy nhiên nội dung về tổ chức bộ máy và hoạt động của Xứ ủy, Trung ương Cục thời kỳ 1945-1954 chỉ mang tính khái quát, chưa đi sâu phân tích hệ thống.
Sách chuyên khảo, lịch sử địa phương và quân khu - Đảng với vấn đề nông dân, nông nghiệp và nông thôn (1930-1975) (PGS.TS Vũ Quang Hiển chủ biên) [96]
- Quân khu 8 - Ba mươi năm kháng chiến (1945-1975) [74]
- Lịch sử công tác Đảng, công tác chính trị LLVT Quân khu 9 [75]
- Tây Nam Bộ 30 năm kháng chiến (1945-1975) [37]
- Lịch sử Đảng bộ miền Đông Nam Bộ (1945-1954) [91]
- Lịch sử căn cứ U Minh 30 năm kháng chiến [73]
- Lịch sử Nam Bộ kháng chiến, Tập I và Biên niên (Hội đồng chỉ đạo biên soạn, 2010) [92; 93; 94]
Cung cấp nguồn tư liệu phong phú về phong trào kháng chiến, hoạt động quân sự và xây dựng căn cứ địa của các khu, tỉnh; tuy nhiên công tác xây dựng Đảng cấp Xứ ủy và Trung ương Cục thường bị mờ nhạt hoặc hòa lẫn vào hoạt động chỉ đạo tác chiến địa phương.
Lịch sử ban, ngành, đoàn thể Trung ương - Lịch sử công tác tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930-2000) (Ban Tổ chức Trung ương) [143]
- Sơ thảo lược sử công tác tư tưởng của Đảng 1930-2000 [44]
- Lịch sử biên niên công tác tư tưởng - văn hóa (1925-1954) [104]
Bước đầu phản ánh các mảng công tác tổ chức, tư tưởng của Đảng tại Nam Bộ; song nội dung còn khái quát, chưa phân tích toàn diện mối quan hệ vận hành và vai trò của các ban chuyên môn thuộc Xứ ủy và Trung ương Cục.
Hồi ký, tư liệu nhân chứng lịch sử - Hồi ký, sách chuyên khảo về các nhà lãnh đạo: Lê Đức Thọ [112], Lê Duẩn [95], Nguyễn Văn Linh [105], Hoàng Quốc Việt [140], Hà Huy Giáp [84], Trường Chinh [81; 82]
- Kỷ yếu: Ban Tổ chức Trung ương Cục miền Nam thời kháng chiến chống Pháp [54], Hồi ký về Khu di tích căn cứ Xứ ủy Nam Bộ tại Đồng Tháp Mười [88]
- Bài nói, bài viết, tọa đàm của các cán bộ: Võ Văn Kiệt, Trần Văn Trà, Võ Chí Công, Phạm Văn Xô, Lê Toàn Thư, Phan Triêm, Trần Quang Lê [89; 90]
Cung cấp nguồn tư liệu sống động, chân thực về nhân sự, đời sống và sự chỉ đạo thực tế tại chiến trường; là cơ sở quan trọng để đối chiếu, thẩm tra và chính xác hóa các sự kiện lịch sử của cơ quan đầu não kháng chiến ở Nam Bộ.
Bài viết tạp chí chuyên ngành - GS.TS Trịnh Nhu: "Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam về tổ chức trong tiến trình đấu tranh giành chính quyền và kháng chiến kiến quốc (1930-1945)" [117]
- PGS.TS Trần Thị Thu Hương: "Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng - Bài học lớn từ thực tiễn cách mạng Việt Nam" [98]
Đã khẳng định tính tất yếu và sự sáng tạo của Đảng trong xây dựng cơ quan lãnh đạo các cấp, gợi mở nhiều khía cạnh lý luận và thực tiễn để luận án đi sâu đúc kết bài học lịch sử.
Công trình của các học giả nước ngoài - Yves Gras: L'histoire de la Guerre d'Indochine [240]
- Philippe Devillers: Paris - Saigon - Hanoi, Tài liệu lưu trữ của cuộc chiến tranh 1944-1947 [78]
- Lucien Bodard: La Guerre d'Indochine [48]
- Archimedes L. Patti: Why Vietnam? [118]
- Furuta Motoo: Việt Nam trong lịch sử thế giới [108]
- Stein Tonnesson: Các nghiên cứu về tổ chức Đảng ở Nam Kỳ [241]
Cung cấp tài liệu lưu trữ từ phía đối phương về chính sách của chính quyền thuộc địa Pháp; tuy nhiên chứa đựng nhiều nhận định sai lệch, thiếu khách quan: đồng nhất tổ chức Đảng với Mặt trận Việt Minh (Yves Gras), cho rằng Xứ ủy và Việt Minh Nam Bộ "tự trị" đối với Trung ương (Lucien Bodard), nhận định hai nhóm "Tiền Phong" và "Giải Phóng" là "địch thủ" (Stein Tonnesson), hoặc thổi phồng vai trò cá nhân của tướng Nguyễn Bình.

Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết

Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc và phát triển từ đề tài luận văn thạc sĩ năm 2009 ("Tổ chức và hoạt động của Trung ương Cục miền Nam từ năm 1951 đến năm 1954"), tác giả đã mở rộng toàn diện cả về thời gian (từ 1945 đến 1954) và đối tượng nghiên cứu (bao gồm cả Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam). Luận án giải quyết triệt để các khoảng trống lịch sử: làm rõ cơ sở hình thành và biến đổi mô hình lãnh đạo; chứng minh mối quan hệ chỉ đạo chặt chẽ, thống nhất của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với Nam Bộ; phân tích toàn diện các mặt hoạt động chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, chính sách ruộng đất, công tác tôn giáo, công tác quốc tế tại Campuchia; đồng thời sử dụng tư liệu gốc để đính chính các nhận định sai lệch của một số học giả phương Tây.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận

Luận án lấy chủ nghĩa duy vật lịch sử và phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng thế giới quan và phương pháp luận; vận dụng các nguyên tắc của V.I. Lênin về xây dựng tổ chức Đảng kiểu mới (tập trung dân chủ, đoàn kết thống nhất, tự phê bình và phê bình); quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác xây dựng Đảng trong điều kiện Đảng lãnh đạo chính quyền và chỉ đạo chiến tranh cách mạng.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc: Là hai phương pháp chủ đạo nhằm tái hiện tiến trình hình thành, phát triển và chuyển đổi của Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam theo trình tự thời gian, đồng thời khái quát hóa bản chất, quy luật vận động và các bài học lịch sử của mô hình tổ chức.
  • Phương pháp đặc thù của khoa học Lịch sử Đảng: Lấy các văn bản nghị quyết, chỉ thị, thông cáo gốc của Ban Chấp hành Trung ương, Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam làm cơ sở chuẩn mực để đối chiếu, thẩm định với các sự kiện, hành động và nhân vật lịch sử trong thực tiễn.
  • Phương pháp so sánh, thống kê và phê phán sử liệu: Phân tích, đối chiếu các nguồn tư liệu lưu trữ trong nước với tài liệu của đối phương và hồi ký của nhân chứng để sàng lọc, loại bỏ các chi tiết thiếu khách quan, xác thực tính chuẩn xác của các sự kiện và chức danh lãnh đạo.

Nguồn tư liệu

  1. Văn kiện Đảng: Các tập trong bộ sách Văn kiện Đảng Toàn tập chứa đựng các chỉ thị, nghị quyết, báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương, Thường vụ Trung ương, Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam.
  2. Tài liệu lưu trữ gốc: Nguồn hồ sơ, tài liệu bảo quản tại Kho Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, Phòng Tư liệu Viện Lịch sử Đảng (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) và các cơ quan lưu trữ chuyên ngành.
  3. Lịch sử Đảng bộ địa phương và tài liệu nhân chứng: Hệ thống sách lịch sử Đảng bộ các tỉnh, thành phố miền Nam; các bản hồi ký, bài nói, bài viết, biên bản tọa đàm của các cán bộ từng trực tiếp hoạt động tại Xứ ủy và Trung ương Cục miền Nam thời kỳ kháng chiến chống Pháp.
  4. Tư liệu báo chí và đối phương: Các bài viết trên các tạp chí khoa học (Tạp chí Lịch sử Đảng, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, Tạp chí Lịch sử Quân sự Việt Nam, Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Xưa & Nay); tư liệu, báo cáo thu giữ của thực dân Pháp được thẩm định và chắt lọc khoa học.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Xứ ủy Nam Bộ kiện toàn tổ chức bộ máy và lãnh đạo nhân dân Nam Bộ tiến hành kháng chiến (1945-1951)

Chương 1 tái hiện quá trình chuyển biến tổ chức của Xứ ủy Nam Bộ qua các giai đoạn lịch sử từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến đầu năm 1951, chia làm hai tiết nội dung chính:

1. Thống nhất hai Xứ ủy thành Xứ ủy Nam Bộ, bước đầu củng cố tổ chức, bộ máy và lãnh đạo nhân dân chống thực dân Pháp mở rộng chiếm đóng (1945-1946)

  • Bối cảnh và sự thống nhất hai Xứ ủy: Trước Cách mạng tháng Tám, tại Nam Kỳ tồn tại song song hai tổ chức lãnh đạo là Xứ ủy "Tiền Phong" (thành lập 10-1943) và Xứ ủy lâm thời "Giải Phóng" (thành lập 3-1945), dẫn tới sự phân liệt ở nhiều đảng bộ cấp tỉnh ("Việt Minh cũ" và "Việt Minh mới"). Nhằm thống nhất lãnh đạo khi thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Nam Bộ, ngày 15-10-1945, Hội nghị Cầu Vĩ (Mỹ Tho) do đồng chí Hoàng Quốc Việt chủ trì đã quyết định giải thể hai cơ quan cũ, lập ra Xứ ủy Nam Bộ lâm thời gồm 11 đồng chí, bầu vắng mặt đồng chí Tôn Đức Thắng làm Bí thư. Ngày 25-10-1945, tại Hội nghị Thiên Hộ (Mỹ Tho), đồng chí Lê Duẩn được cử làm Bí thư Xứ ủy lâm thời, đồng chí Tôn Đức Thắng giữ chức Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ.
  • Chủ trương cải tổ Đảng bộ Nam Bộ của Trung ương: Đầu năm 1946, khi các cán bộ chủ chốt được triệu tập ra Bắc và thực dân Pháp mở rộng lấn chiếm, hoạt động của Xứ ủy lâm thời gặp nhiều gián đoạn, nội bộ một số nơi mất đoàn kết. Từ ngày 25 đến 27-5-1946, Trung ương Đảng họp tại Hà Nội và quyết định lập "Ủy ban cải tổ Đảng Nam Bộ" do đồng chí Lê Duẩn phụ trách (cùng các đồng chí Nguyễn Thị Thập, Hoàng Minh Châu) trở vào miền Nam chấn chỉnh tổ chức với khẩu hiệu "thống nhất, trong sạch". Ngày 1-10-1946, Ủy ban ra thông cáo lập Xứ ủy Nam Bộ lâm thời gồm 9 ủy viên (Ban Thường vụ gồm: Nguyễn Văn Kỉnh, Hà Huy Giáp, Nguyễn Thị Thập, Nguyễn Đức Thuận, Phạm Hùng). Đến tháng 11-1946, Hội nghị mở rộng tại căn cứ Đồng Tháp Mười (Kinh Năm Ngàn) kiện toàn Xứ ủy lâm thời gồm 10 ủy viên, cử đồng chí Phạm Hùng làm Bí thư, đưa các phần tử cơ hội, thoái hóa ra khỏi Đảng.
  • Lãnh đạo các mặt kháng chiến ban đầu:
    • Quân sự: Sáng 23-9-1945, cuộc họp tại số 269 đường Cây Mai (Chợ Lớn) do Bí thư Xứ ủy Trần Văn Giàu chủ trì đã quyết định thành lập Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ, phát động nhân dân kháng chiến. Trước tình trạng các sư đoàn "Dân quân cách mạng" thành phần phức tạp bị tan vỡ khi địch tấn công, Hội nghị ngày 20-11-1945 của Xứ ủy chia Nam Bộ thành 3 chiến khu, chủ trương chấn chỉnh bộ đội, thành lập các chi đội Vệ quốc đoàn và xây dựng Quốc gia tự vệ Cuộc (sau đổi thành Sở Công an Nam Bộ theo Sắc lệnh 23/SL). Xứ ủy cũng cử cán bộ sang Campuchia và Thái Lan lập các đơn vị bộ đội hải ngoại (Bộ đội Hải ngoại số 1, Bộ đội Quang Trung, Bộ đội Trần Phú, Tiểu đoàn Cửu Long 2) đưa vũ khí về chi viện miền Nam.
    • Chính quyền và bầu cử Quốc hội: Lãnh đạo tổ chức thành công cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I vào ngày 6-1-1946 tại tất cả các tỉnh thành Nam Bộ (chỉ trừ tỉnh Tây Ninh do chiến sự quá ác liệt).
    • Nhiệm vụ quốc tế với Campuchia: Tháng 10-1945, Xứ ủy cử đoàn công tác quân sự sang Campuchia; giúp đỡ thành lập "Ủy ban Cao Miên độc lập" và đến cuối năm 1946 giúp thành lập "Ủy ban giải phóng dân tộc Campuchia lâm thời".

2. Thành lập Xứ ủy chính thức, lãnh đạo nhân dân Nam Bộ kháng chiến kiến quốc và thực hiện nghĩa vụ quốc tế (1947-1951)

  • Thành lập Xứ ủy chính thức: Thực hiện chỉ đạo chuẩn bị kháng chiến toàn quốc của Trung ương, từ ngày 16 đến 19-6-1947, Xứ ủy họp sáp nhập các Khu ủy và Liên tỉnh ủy thành các Khu ủy 7, 8, 9 và Khu ủy Sài Gòn - Chợ Lớn (hoạt động như một "phân cục của Xứ ủy"). Từ ngày 16 đến 20-12-1947, Hội nghị đại biểu toàn xứ họp tại Kinh Năm Ngàn (Đồng Tháp Mười) với 63 đại biểu chính thức, bầu Ban Chấp hành Xứ Đảng bộ chính thức gồm 15 ủy viên chính thức và 3 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Bí thư; Ban Thường vụ gồm: Lê Duẩn, Nguyễn Văn Kỉnh, Nguyễn Đức Thuận, Phạm Hùng, Ung Văn Khiêm. Hội nghị quy định cơ cấu tổ chức Đảng tại Nam Bộ theo 5 cấp (chi bộ, quận/huyện, tỉnh, khu, xứ) và xác định Xứ ủy đảm nhận nhiệm vụ "Phân Cục Trung ương", phụ trách chỉ đạo cả Nam Bộ, Nam phần Trung Bộ và Campuchia.
  • Xây dựng bộ máy tham mưu và hoàn thiện lãnh đạo: Tháng 7-1948, Đại hội đại biểu Xứ Đảng bộ Nam Bộ lần thứ nhất họp tại Kinh Năm Ngàn tái bầu đồng chí Lê Duẩn làm Bí thư. Để vận hành bộ máy, Xứ ủy từng bước thành lập: Ban Dân vận, Văn phòng Xứ ủy (12-1947); Ban Tổ chức, Ban Tuyên truyền huấn luyện, Ban Thi đua (7-1949 theo Nghị quyết số 01/NQ-XU); Ban Kinh tế tài chính, Báo Thống nhất, Ban Giao thông liên lạc, Ban Công tác đội (11-1949), Ban Kiểm tra, Ban Kiểm tra quân sự, Ban Mặt trận (5-1950). Ngày 24 và 25-8-1950, Ban Thường vụ Xứ ủy ban hành Nghị quyết số 17/NQ-XU thống nhất tổ chức các ban chuyên môn của Đảng, chính quyền và quân sự nhằm phối hợp toàn diện trong giai đoạn mới.

Chương 2: Trung ương Cục miền Nam thành lập, lãnh đạo kháng chiến ở Nam Bộ đi đến thắng lợi (1951-1954)

Chương 2 trình bày bước chuyển đổi mang tính bước ngoặt về mô hình tổ chức lãnh đạo cấp cao của Đảng ở miền Nam từ năm 1951 đến khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp:

  • Sự thành lập Trung ương Cục miền Nam: Tháng 3-1951, Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa II) quyết định giải thể Xứ ủy Nam Bộ và thành lập Trung ương Cục miền Nam. Đồng chí Lê Duẩn - Ủy viên Bộ Chính trị được cử làm Bí thư Trung ương Cục. Tháng 6-1951, Trung ương Cục miền Nam chính thức được thành lập, trực tiếp đại diện cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng chỉ đạo chiến trường Nam Bộ và thực hiện nhiệm vụ quốc tế đối với cách mạng Campuchia.
  • Lãnh đạo giai đoạn 1951-1953 (Giữ vững và phát triển thế tiến công): Trung ương Cục đã chỉ đạo kiện toàn tổ chức Đảng các cấp, tổ chức lại các phân liên khu, củng cố khối đoàn kết toàn dân, thực hiện triệt để các chính sách kinh tế - tài chính tự cấp tự túc, đẩy mạnh phong trào du kích chiến tranh, tiến hành giảm tô và cấp chia ruộng đất tạm cấp cho nông dân nghèo Nam Bộ.
  • Lãnh đạo phối hợp chiến trường kết thúc thắng lợi kháng chiến và chuyển hướng phong trào (1953-1954): Trung ương Cục miền Nam đã lãnh đạo quân dân Nam Bộ đẩy mạnh hoạt động quân sự, phối hợp chặt chẽ với chiến trường chính Bắc Bộ và chiến dịch Điện Biên Phủ; chỉ đạo thi hành Hiệp định Giơnevơ năm 1954, tổ chức công tác chuyển quân tập kết ra Bắc, đồng thời bí mật bố trí, sắp xếp lực lượng cán bộ ở lại để chuyển hướng phong trào cách mạng miền Nam sang phương thức đấu tranh chính trị trong giai đoạn mới.

Chương 3: Nhận xét, kinh nghiệm

Chương 3 tổng kết các đánh giá khoa học về tổ chức và hoạt động của hai cơ quan lãnh đạo, đồng thời đúc kết các bài học kinh nghiệm:

  • Nhận xét về đặc điểm và ưu điểm: Mô hình Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam thể hiện sự vận dụng đúng đắn, linh hoạt các nguyên tắc xây dựng Đảng của chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh đặc thù của chiến trường Nam Bộ xa Trung ương. Cấp ủy đã thể hiện rõ vai trò trung tâm đoàn kết, tinh thần độc lập tự chủ, sáng tạo trong lãnh đạo chiến tranh du kích, công tác tôn giáo, công tác dân tộc, chính sách ruộng đất và nghĩa vụ quốc tế.
  • Hạn chế: Do hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, chia cắt địa bàn và những tồn tại lịch sử ban đầu, việc kiện toàn tổ chức có thời điểm bị gián đoạn, phương thức lãnh đạo ở một số địa phương trong giai đoạn đầu còn mang tính tự động, sự phối hợp giữa một số ban chuyên môn đôi lúc thiếu đồng bộ.
  • Một số kinh nghiệm lịch sử:
    1. Kinh nghiệm về việc giữ vững sự chỉ đạo tập trung, thống nhất của Trung ương Đảng gắn liền với việc phát huy tính chủ động, linh hoạt và sáng tạo của cấp ủy Đảng tại chiến trường xa.
    2. Kinh nghiệm xây dựng khối đoàn kết thống nhất trong nội bộ Đảng bộ, kiên quyết khắc phục tư tưởng bè phái, cục bộ, hẹp hòi ("Việt Minh cũ", "Việt Minh mới").
    3. Kinh nghiệm về phương thức sinh hoạt Đảng, xây dựng quy chế làm việc khoa học giữa cấp ủy với các ban tham mưu, chính quyền và lực lượng vũ trang thời chiến.
    4. Kinh nghiệm lựa chọn, đào tạo, bố trí và sử dụng cán bộ lãnh đạo cốt cán có đủ uy tín, năng lực và phẩm chất chính trị để gánh vác nhiệm vụ nơi tuyến đầu.

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Đóng góp về mặt tư liệu:
    • Luận án đã sưu tầm, tập hợp, hệ thống hóa và thẩm định một khối lượng lớn tư liệu gốc, văn bản nghị quyết, chỉ thị của Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam thời kỳ 1945-1954 đang lưu giữ tại Kho Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng và Viện Lịch sử Đảng.
    • Bổ sung các nguồn sử liệu mới từ hồi ký, biên bản tọa đàm của các đồng chí lãnh đạo trực tiếp (Lê Duẩn, Tôn Đức Thắng, Phạm Hùng, Nguyễn Văn Linh, Trần Văn Trà...) nhằm làm rõ các chi tiết lịch sử chưa từng được công bố đầy đủ.
  2. Đóng góp về mặt khoa học lịch sử và nội dung:
    • Tái hiện một cách hoàn chỉnh, có hệ thống quá trình biến đổi về cơ cấu tổ chức, bộ máy tham mưu giúp việc và nhân sự chủ chốt của Xứ ủy Nam Bộ qua các mốc lịch sử: Hội nghị Cầu Vĩ (10-1945), Hội nghị Thiên Hộ (10-1945), Ủy ban Cải tổ Đảng bộ Nam Bộ (5-1946), Thông cáo lập Xứ ủy lâm thời (10-1946), Hội nghị Kinh Năm Ngàn (11-1946), Hội nghị đại biểu toàn Xứ lập Xứ ủy chính thức (12-1947), Đại hội đại biểu Xứ Đảng bộ lần I (7-1948) cho đến khi thành lập Trung ương Cục miền Nam (1951) và giải thể chuyển giao nhiệm vụ (1954).
    • Làm rõ vị trí và vai trò lãnh đạo toàn diện của cấp ủy Đảng ở Nam Bộ không chỉ trên lĩnh vực quân sự mà cả trong xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng chính quyền, mặt trận dân tộc thống nhất, vận động đồng bào tôn giáo, thực hiện chính sách ruộng đất, xây dựng kinh tế - văn hóa kháng chiến và nghĩa vụ quốc tế giúp đỡ phong trào kháng chiến Campuchia.
    • Dùng cứ liệu khoa học lịch sử để hiệu chỉnh các sai lệch, phản bác những luận điểm thiếu khách quan của một số tác giả nước ngoài (như việc Yves Gras đồng nhất Đảng với Mặt trận Việt Minh; Lucien Bodard cho rằng Việt Minh Nam Bộ "tự trị" đối với Trung ương; hay Stein Tonnesson nhận định hai nhóm "Tiền Phong" và "Giải Phóng" là "địch thủ").
  3. Đóng góp về mặt thực tiễn:
    • Cung cấp cơ sở khoa học và những bài học kinh nghiệm lịch sử phục vụ công tác xây dựng Đảng hiện nay, đặc biệt là kinh nghiệm củng cố kỷ cương, nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc của cơ quan lãnh đạo cấp cao và công tác cán bộ trong điều kiện đặc thù.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do giới hạn tư liệu thời chiến và nguồn lưu trữ có những phần bị thất lạc qua các giai đoạn chiến tranh ác liệt, một số nhân sự dự khuyết hoặc chức danh cụ thể ở cấp cơ sở, tiểu ban chuyên môn trong giai đoạn 1945-1946 chưa thể xác định được đầy đủ toàn bộ họ tên và quê quán (như tài liệu văn bản ghi nhận ủy viên dự bị Xứ ủy lâm thời tháng 10-1946 mới xác định được tên "Hồ").
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng nghiên cứu so sánh chuyên sâu về sự kế thừa mô hình tổ chức, quy chế làm việc giữa Trung ương Cục miền Nam giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1951-1954) với Trung ương Cục miền Nam giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1961-1975).
    • Đi sâu khảo cứu chuyên đề về hoạt động chỉ đạo thực hiện nghĩa vụ quốc tế của Trung ương Cục miền Nam đối với việc xây dựng cơ sở Đảng và lực lượng kháng chiến cách mạng Campuchia thời kỳ 1945-1954 dựa trên các nguồn tư liệu lưu trữ đối ngoại mới được giải mật.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu và giảng dạy Lịch sử Đảng: Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo dành cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Việt Nam hiện đại, Lịch sử quân sự và Khoa học Xây dựng Đảng.
  • Đối với các cơ quan tham mưu, hoạch định chính sách xây dựng Đảng: Các bài học kinh nghiệm về xây dựng bộ máy tham mưu, cơ chế phân công thường trực cấp ủy, xử lý mối quan hệ lãnh đạo giữa Trung ương và địa phương, công tác vận động quần chúng đặc thù (tôn giáo, dân tộc, trí thức) tại địa bàn Nam Bộ có giá trị tham khảo thực tiễn cho các ban Đảng và cơ quan tổ chức cấp ủy hiện nay.
  • Phần đáng chú ý để tra cứu: Toàn bộ hệ thống biên niên tổ chức, danh sách nhân sự Xứ ủy qua các thời kỳ (10-1945, 10-1946, 11-1946, 12-1947) và hệ thống các nghị quyết về việc thành lập các ban chuyên môn giúp việc của Xứ ủy Nam Bộ trong Chương 1.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao Trung ương Đảng duy trì Xứ ủy Nam Bộ mà giải thể Xứ ủy Bắc Bộ và Xứ ủy Trung Bộ sau Cách mạng tháng Tám 1945?

Sau Cách mạng tháng Tám, Trung ương Đảng chủ trương giải thể Xứ ủy Bắc Bộ và Trung Bộ để Trung ương trực tiếp chỉ đạo các tỉnh ủy, thị ủy. Tuy nhiên, đối với Nam Bộ, thực dân Pháp nổ súng tái xâm lược sớm nhất (23-9-1945), biến Nam Bộ thành chiến trường xa nhất so với căn cứ địa Việt Bắc trong điều kiện giao thông liên lạc cực kỳ khó khăn, chiến trường bị chia cắt. Do đó, Trung ương Đảng quyết định duy trì và củng cố Xứ ủy Nam Bộ làm cơ quan lãnh đạo chung cho toàn xứ để bảo đảm sự chỉ đạo tập trung, kịp thời đối với chiến trường miền Nam.

2. Sự phân liệt giữa Xứ ủy "Tiền Phong" và Xứ ủy "Giải Phóng" được giải quyết như thế nào vào tháng 10-1945?

Trước yêu cầu cấp bách của cuộc kháng chiến, ngày 15-10-1945, Hội nghị cán bộ Đảng bộ Nam Bộ tại Cầu Vĩ (Mỹ Tho) do đồng chí Hoàng Quốc Việt (Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng) chủ trì đã quyết định giải thể cả hai Xứ ủy "Tiền Phong" và "Giải Phóng", thành lập một cơ quan thống nhất lấy tên là Xứ ủy Nam Bộ lâm thời gồm 11 đồng chí (gồm Tôn Đức Thắng, Lê Duẩn, Phạm Hùng, Ung Văn Khiêm, Hà Huy Giáp, Nguyễn Đức Thuận, Nguyễn Văn Kỉnh, Nguyễn Thanh Sơn, Phan Trọng Tuệ, Lê Văn Sĩ, Đào Văn Trường), bầu đồng chí Tôn Đức Thắng làm Bí thư. Ngày 25-10-1945, tại Hội nghị Thiên Hộ (Mỹ Tho), đồng chí Lê Duẩn được cử làm Bí thư Xứ ủy lâm thời thay đồng chí Tôn Đức Thắng để đồng chí Tôn Đức Thắng tập trung phụ trách Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ và chỉ đạo lực lượng vũ trang.

3. Cơ cấu nhân sự và phân công nhiệm vụ của Xứ ủy Nam Bộ chính thức được bầu tại Hội nghị tháng 12-1947 gồm những ai?

Hội nghị đại biểu toàn xứ họp từ 16 đến 20-12-1947 tại Kinh Năm Ngàn (Đồng Tháp Mười) đã bầu Ban Chấp hành Xứ Đảng bộ chính thức gồm 15 ủy viên chính thức và 3 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Lê Duẩn được bầu trực tiếp làm Bí thư Xứ ủy. Ban Thường vụ gồm 5 đồng chí: Lê Duẩn (Bí thư, phụ trách Dân quân), Nguyễn Văn Kỉnh và Nguyễn Đức Thuận (Phó Bí thư; Nguyễn Văn Kỉnh phụ trách Tổ chức, Nguyễn Đức Thuận phụ trách Khu 7), Phạm Hùng (Ủy viên Thường vụ, phụ trách Công an), Ung Văn Khiêm (Ủy viên Thường vụ, phụ trách Hành chính). Các ủy viên khác được phân công cụ thể: Hà Huy Giáp (Tuyên huấn), Nguyễn Thị Thập (Phụ vận), Lê Văn Sỹ và Hoàng Dư Khương (Việt Minh), Nguyễn Văn Long (Hành chính), Nguyễn Văn Trí (Chính trị), Lê Minh Định (Dự khuyết, phụ trách Dân vận), các đồng chí Trần Văn Trà, Nguyễn Văn Trấn, Nguyễn Văn Vịnh, Phan Trọng Tuệ, Nguyễn Thanh Sơn phụ trách Quân sự.

4. Lý do thành lập Trung ương Cục miền Nam thay thế Xứ ủy Nam Bộ vào năm 1951 là gì?

Bước sang giai đoạn đẩy mạnh kháng chiến và chuẩn bị tổng phản công, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (2-1951) đặt ra yêu cầu tăng cường sự lãnh đạo tập trung và trực tiếp của Ban Chấp hành Trung ương đối với các chiến trường trọng yếu. Tháng 3-1951, Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương (Khóa II) quyết định giải thể Xứ ủy Nam Bộ để thành lập Trung ương Cục miền Nam (chính thức ra mắt tháng 6-1951). Trung ương Cục là một bộ phận đại diện của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đặt tại miền Nam do đồng chí Lê Duẩn - Ủy viên Bộ Chính trị làm Bí thư, giúp nâng cao thẩm quyền chỉ đạo trực tiếp cuộc kháng chiến toàn diện tại Nam Bộ và phối hợp thực hiện nhiệm vụ quốc tế đối với cách mạng Campuchia.

5. Luận án bác bỏ những luận điểm sai lệch nào của các học giả nước ngoài?

Luận án sử dụng các văn bản chỉ thị, nghị quyết gốc và sự thật lịch sử để bác bỏ các nhận định sai lệch:

  • Bác bỏ quan điểm của Yves Gras khi đồng nhất tổ chức Đảng Cộng sản Đông Dương với Mặt trận Việt Minh.
  • Bác bỏ nhận định của Lucien Bodard cho rằng Việt Minh Nam Bộ "tự trị" hoàn toàn đối với Trung ương ngoài Bắc, hoặc thổi phồng vai trò của tướng Nguyễn Bình là người "một mình xây dựng cuộc kháng chiến miền Nam".
  • Bác bỏ luận điểm của Stein Tonnesson khi cho rằng các tổ chức Đảng nhóm "Giải Phóng" và "Tiền Phong" thời kỳ 1943-1945 là "địch thủ" của nhau, làm sáng rõ bản chất đó chỉ là sự thiếu thống nhất về tổ chức và nhận thức trong hoàn cảnh bị thực dân khủng bố chia cắt, vốn đã được Trung ương uốn nắn và hợp nhất thành công.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Đoàn Thị Hương là công trình khoa học chuyên khảo đầu tiên tái hiện một cách toàn diện, có hệ thống về quá trình xây dựng tổ chức bộ máy và hoạt động thực tiễn của Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam từ năm 1945 đến năm 1954. Bằng phương pháp nghiên cứu lịch sử Đảng kết hợp thẩm định nguồn tư liệu gốc phong phú, luận án đã làm sáng tỏ tính đúng đắn, linh hoạt và sáng tạo của Trung ương Đảng cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc xác lập mô hình lãnh đạo phù hợp với đặc thù chiến trường Nam Bộ xa Trung ương. Kết quả nghiên cứu không chỉ góp phần làm sâu sắc thêm tiến trình lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà còn đúc kết những bài học kinh nghiệm quý giá về tổ chức bộ máy và công tác cán bộ phục vụ sự nghiệp xây dựng Đảng hiện nay.