Luận văn thạc sĩ: Quá trình mở rộng lãnh thổ Mỹ trong thế kỷ XIX

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ussh quá trình mở rộng lãnh thổ mỹ trong thế kỷ xix, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp cải thiện thực tiễn.

Chuyên ngành

Lịch Sử

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ

2012

155
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

Lý do chọn đề tài

Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Bố cục luận văn

1. CHƯƠNG 1: TÌNH HÌNH NƯỚC MĨ VÀ YÊU CẦU MỞ RỘNG LÃNH THỔ MĨ TRONG THẾ KỶ XIX

1.1. Bối cảnh quốc tế và khu vực

1.1.1. Bối cảnh quốc tế

1.1.2. Bối cảnh khu vực

1.2. Tình hình nước Mĩ và yêu cầu mở rộng lãnh thổ Mĩ

1.2.1. Nước Mĩ nửa đầu thế kỷ XIX

1.2.1.1. Sự phát triển nền kinh tế tự chủ và yêu cầu mở rộng thị trường dân tộc
1.2.1.2. Chế độ nô lệ - rào cản đối với việc mở rộng và thống nhất lãnh thổ

1.2.2. Nước Mĩ nửa sau thế kỷ XIX

1.2.2.1. Nội chiến 1861-1865- kết thúc chế độ nô lệ ở Mĩ
1.2.2.2. Những chuyển biến kinh tế - cơ sở cho sự bành trướng lãnh thổ
1.2.2.3. Sự hình thành học thuyết “sứ mệnh hiển nhiên”- tiền đề luận của chính sách bành trướng của Mĩ

2. CHƯƠNG 2: MỞ RỘNG LÃNH THỔ MĨ TRONG THẾ KỶ XIX

2.1. Thương vụ Lousianna-mở đầu quá trình Tây tiến (1803)

2.2. Vấn đề Florida- mở rộng biên giới phía Đông Nam

2.3. Sáp nhập Oregon (1818-1846)- mở rộng lãnh thổ phía Tây Bắc

2.4. Sáp nhập Texas (1845), hiệp ước Guadalupe Hidalgo (1848)- mở rộng lãnh thổ phía Tây Nam

2.5. Thương vụ Gadsden (1854) - hoàn chỉnh biên giới phía Tây Nam

2.6. Thương vụ Alaska(1867) và cuộc xâm chiếm Hawaii (1898)-kết thúc quá trình mở rộng lãnh thổ

3. CHƯƠNG 3: TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH MỞ RỘNG LÃNH THỔ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA MĨ

3.1. Những thay đổi về thành phần và phân bố dân cư

3.2. Chuyển biến về kinh tế, xã hội

3.3. Tác động đối với sự hình thành một số yếu tố cấu thành đặc điểm văn hoá Mĩ

3.4. Tác động đối với việc thực hiện chính sách đối ngoại

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về quá trình mở rộng lãnh thổ Mỹ thế kỷ XIX

Quá trình mở rộng lãnh thổ Mỹ trong thế kỷ XIX là một giai đoạn quan trọng trong lịch sử nước này. Sau khi giành độc lập, Mỹ đã phải đối mặt với nhiều thách thức, bao gồm việc ổn định nền kinh tế và xã hội. Để giải quyết những vấn đề này, chính phủ Mỹ đã thực hiện nhiều chính sách nhằm mở rộng lãnh thổ, từ đó tạo ra một thị trường rộng lớn hơn cho nền kinh tế đang phát triển.

1.1. Bối cảnh lịch sử và yêu cầu mở rộng lãnh thổ

Sau chiến tranh giành độc lập, Mỹ cần một thị trường lớn hơn để phát triển kinh tế. Sự phát triển của nền kinh tế tư bản đã tạo ra áp lực buộc chính phủ phải tìm kiếm các vùng đất mới để mở rộng lãnh thổ.

1.2. Những thách thức trong quá trình mở rộng lãnh thổ

Mỹ đã phải đối mặt với nhiều thách thức, bao gồm sự cạnh tranh từ các cường quốc châu Âu như Anh, Pháp và Tây Ban Nha. Những vấn đề nội bộ như chế độ nô lệ cũng là rào cản lớn trong quá trình mở rộng.

II. Các phương pháp mở rộng lãnh thổ Mỹ trong thế kỷ XIX

Mỹ đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau để mở rộng lãnh thổ, bao gồm thương vụ mua bán, chiến tranh và các hiệp ước. Những phương pháp này không chỉ giúp Mỹ mở rộng lãnh thổ mà còn củng cố vị thế của mình trên trường quốc tế.

2.1. Thương vụ Louisiana và sự khởi đầu của Tây tiến

Thương vụ Louisiana vào năm 1803 là một trong những bước đi đầu tiên trong quá trình mở rộng lãnh thổ. Mỹ đã mua vùng đất này từ Pháp, mở rộng diện tích lãnh thổ gấp đôi.

2.2. Chiến tranh Mexico Mỹ và kết quả

Chiến tranh Mexico - Mỹ (1846-1848) đã dẫn đến việc Mỹ sáp nhập Texas và các vùng đất khác, tạo ra một bước ngoặt lớn trong quá trình mở rộng lãnh thổ.

2.3. Các hiệp ước và thương vụ quan trọng khác

Ngoài thương vụ Louisiana và chiến tranh Mexico, Mỹ còn thực hiện nhiều hiệp ước khác như hiệp ước Guadalupe Hidalgo và thương vụ Gadsden, giúp hoàn thiện biên giới lãnh thổ.

III. Tác động của quá trình mở rộng lãnh thổ đến Mỹ

Quá trình mở rộng lãnh thổ không chỉ thay đổi bản đồ nước Mỹ mà còn có tác động sâu rộng đến kinh tế, xã hội và văn hóa. Những thay đổi này đã định hình nước Mỹ như ngày nay.

3.1. Những thay đổi về dân cư và xã hội

Sự mở rộng lãnh thổ đã dẫn đến sự gia tăng dân số và sự đa dạng văn hóa. Nhiều người di cư từ châu Âu đã đến Mỹ, tạo ra một xã hội đa dạng hơn.

3.2. Chuyển biến kinh tế và phát triển

Mở rộng lãnh thổ đã tạo ra nhiều cơ hội kinh tế mới, từ nông nghiệp đến công nghiệp, giúp Mỹ trở thành một cường quốc kinh tế.

3.3. Tác động đến chính sách đối ngoại

Quá trình mở rộng lãnh thổ đã định hình chính sách đối ngoại của Mỹ, đặc biệt là trong việc thiết lập ảnh hưởng tại khu vực Mỹ Latinh.

IV. Kết luận về quá trình mở rộng lãnh thổ Mỹ

Quá trình mở rộng lãnh thổ Mỹ trong thế kỷ XIX đã để lại nhiều bài học quan trọng. Những chính sách và quyết định trong giai đoạn này đã định hình tương lai của nước Mỹ và ảnh hưởng đến quan hệ quốc tế.

4.1. Bài học từ quá trình mở rộng lãnh thổ

Việc mở rộng lãnh thổ đã cho thấy tầm quan trọng của việc có một chiến lược rõ ràng và quyết tâm trong việc thực hiện các mục tiêu quốc gia.

4.2. Tương lai của chính sách mở rộng lãnh thổ

Mặc dù quá trình mở rộng lãnh thổ đã kết thúc, nhưng những tác động của nó vẫn còn ảnh hưởng đến chính sách đối ngoại và nội bộ của Mỹ cho đến ngày nay.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh quá trình mở rộng lãnh thổ mỹ trong thế kỷ xix

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I TÌNH HÌNH NƯỚC MĨ VÀ YÊU CẦU MỞ RỘNG LÃNH THỔ MĨ TRONG THẾ KỶ XIX 1. Bối cảnh quốc tế và khu vực 1.Bối cảnh quốc tế Sau cuộc cách mạng tư sản, nước Pháp rơi vào tình trạng không ổn định, các tập đoàn tư sản thay phiên nhau nắm quyền. Bằng cuộc đảo chính ngày 9/11/1799, năm 1804, Đế chế thứ nhất do Napoleon đứng đầu được thiết lập, đẩy nhân dân châu Âu vào vòng xoáy chiến tranh tranh giành địa vị bá chủ kéo dài trên một thập kỷ làm đảo lộn trật tự xã hội cũ cũng như bản đồ châu Âu. Trước tính hình đó, liên minh các nước châu Âu đã hợp sức đánh bại Napoleon tại trận Waterloo năm 1815 kết thúc sự tồn tại của Đế chế thứ nhất.

Để tái lập nền quân chủ ngay khi cuộc chiến chống Napoleon chưa kết thúc, các nước châu Âu thuộc liên minh chống Pháp đã tổ chức Hội nghị Vienne nhằm định đoạt cục diện mới ở châu Âu theo chiều hướng có lợi cho mình. Hiệp ước Vienne được ký kết năm 1815 dẫn đến sự hình thành môt trật tự mới ở châu Âu và làm thay đổi bản đồ châu Âu dưới sự kiểm soát của các nước Anh, Nga, Áo và Phổ. Nhằm bảo vệ quyền lợi theo quy định tại hiệp ước Vienne, các nước châu Âu đã thành lập các tổ chức như “Đồng minh Thần thánh” và “Đồng minh Tứ cường” để chống lại phong trào đấu tranh của quần chúng. Hoà bình của Hội nghị Vienne (1815) không phải là một nền hoà bình thực sự mà chỉ nhằm đáp ứng tham vọng của các cường quốc châu Âu trên cơ sở hi sinh quyền lợi của các dân tộc và “các dân tộc bị mua đi bán lại, chia ra rồi lập lại, chỉ xuất phát từ chỗ đáp ứng được nhiều hơn những quyền lợi và những tham vọng của các nhà cầm quyền” [24, tr 103].

Sự phục hồi của chế độ phong kiến và những cải cách mang tính chất tư sản bị thủ tiêu làm mâu thuẫn giữa các thế lực phong kiến với quần chúng nhân dân gay gắt. Nhiều cuộc đấu tranh lật đổ chế độ phong kiến đã diễn ra như cuộc đấu tranh của nhân dân Serbia, Hi Lạp chống lại ách thống trị Thổ Nhĩ Kì đầu thế kỷ XIX, 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cuộc đấu tranh của nhân dân Pháp lật đổ triều đại Bourbons (1830), cuộc đấu tranh của nhân dân Bỉ chống lại Hà Lan và cuộc đấu tranh của nhân dân Ba Lan chống lại Nga Sa hoàng,. đã làm lung lay trật tự mới được hình thành sau Hội nghị Vienne. Cao trào cách mạng tư sản nổ ra mạnh mẽ ở các nước châu Âu đã lật đổ chế độ phong kiến ở nhiều nước, giai cấp tư sản giành được địa vị của mình mở rộng phạm vi hệ thống tư bản chủ nghĩa châu Âu và Mĩ song lại làm nảy sinh mâu thuẫn giữa các nước với nhau đặc biệt là giữa Anh và Nga trong việc giải quyết vấn đề ở châu Âu và Cận Đông Bên cạnh đó, vào đầu thế kỷ XIX, trên cơ sở những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp đã thúc đẩy nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ở châu Âu phát triển.

Với vai trò là “công xưởng thế giới”, nước Anh vươn lên vị trí đứng đầu nền kinh tế thế giới cùng với quyền bá chủ trên biển khiến Anh cần có người đứng về phía mình trong việc giải quyết các tranh chấp quốc tế. Với tính toán đó, Anh đã chọn Pháp bởi lúc này Pháp đang bị các nước Nga, Áo, Phổ cô lập nên Pháp muốn dựa vào Anh để phát triển. Điều này đã đẩy hai nước kình địch xích lại gần nhau bằng “thoả ước thân thiện” và trở thành nhân tố chính chi phối tình hình châu Âu trong những năm 30-40 của thế kỷ XIX. Song, những mâu thuẫn về kinh tế, chính trị và thuộc địa giữa hai nước tư bản này trở nên gay gắt làm cho mối liên minh tan vỡ.

Tình hình phức tạp trong quan hệ quốc tế đầu thế kỷ XIX cũng đã tác động lớn đến Mĩ. Mặc dù vào thời điểm này, vị thế của Mĩ trên trường quốc tế còn thấp kém thậm chí là mục tiêu tranh chấp của Anh, Pháp và Nga nhưng Mĩ không để các nước này lôi kéo vào các vụ tranh chấp quốc tế mà tận dụng cơ hội để phát triển đất nước. Cuối thế kỷ XIX, đặc biệt là sau Nội chiến (1861-1865), kinh tế tư bản chủ nghĩa Mĩ phát triển mạnh, việc lãnh thổ được mở rộng đã không đáp ứng được sự phát triển đó. “Vận mệnh hiển nhiên” của Mĩ không chỉ dừng lại ở Bắc Mĩ mà còn được mở rộng trên toàn thế giới.

Cùng với Anh và Pháp, Mĩ đã bắt đầu tham gia vào việc giành giật thị trường không chỉ ở Mĩ-Latinh mà còn sang cả châu Á-Thái Bình Dương trước tiên là việc Mĩ chiếm Philippines (1898) từ Tây Ban Nha và 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chính sách “mở cửa” Trung Quốc (1900). Nước Mĩ đã thực sự lớn mạnh và đóng một vai trò quan trọng trong quan hệ quốc tế. Bối cảnh khu vực Cuộc chiến tranh giành độc lập của 13 bang thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ giành thắng lợi, tác động mạnh mẽ tới phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân khu vực Mĩ-Latinh. Cùng với sự suy yếu của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha trong những thập niên đầu của thế kỷ XIX, phong trào đấu tranh giành độc lập của nhân dân Mĩ- Latinh phát triển mạnh.

Tất cả các nước thuộc khu vực Mĩ-Latinh nói tiếng Tây Ban Nha như Argentina, Mexico, Brazin, Columbia, Chile đều thành lập các quốc gia độc lập. Sự ra đời của các nước Mĩ-Latinh tạo cơ hội mới cho các nước như Anh, Pháp và Mĩ trên con đường phát triển của mình. Trong khi đó, Tây Ban Nha cũng không muốn từ bỏ lợi ích, âm mưu khôi phục lại sự thống trị tại đây. Tây Ban Nha dựa vào Đồng minh thần thánh nhưng vấp phải sự cản trở của Anh.

Ngay sau khi các nước Mĩ-Latinh giành độc lập, Anh đã công nhận nền độc lập và đầu tư một số vốn khá lớn vào Mĩ-Latinh khẳng định chỗ đứng của mình. Tuy nhiên, Anh mới chỉ khống chế được miền Nam Nam Mĩ nên vẫn chưa cảm thấy yên tâm. Mặc dù, hầu hết thuộc địa Tây Ban Nha ở Mĩ-Latinh đều giành độc lập nhưng nếu Tây Ban Nha nhận được sự trợ giúp các nước Đồng minh thì Pháp sẽ gây áp lực buộc Tây Ban Nha chuyển nhượng thuộc địa Mĩ- Latinh cho Pháp tạo điều kiện cho Pháp xâm nhập vào khu vực này. Điều này, không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của Anh mà còn ảnh hưởng tới Mĩ bởi khu vực Mĩ-Latinh có vị trí chiến lược hết sức quan trọng với Mĩ.

Mĩ-Latinh không chỉ là hành lang bảo vệ Mĩ, là nguồn cung cấp nguyên nhiên liệu cho sự phát triển kinh tế Mĩ mà còn là khu vực địa-chiến lược để Mĩ khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế. Để bảo vệ quyền lợi cũng như ngăn chặn sự xâm nhập, mở rộng ảnh hưởng của các nước châu Âu vào khu vực này, Mĩ đề ra “học thuyết Monroe” (1823) với khẩu hiệu “châu Mĩ của người châu Mĩ” và việc “giúp đỡ” nhân dân Mĩ- Latinh phục hồi sau chiến tranh đã nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân Mĩ- 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Latinh đồng thời mở rộng ảnh hưởng của Mĩ, loại dần các nước châu Âu ra khỏi khu vực này. Tuy nhiên, âm mưu bành trướng của Mĩ dần bộc lộ rõ khi Mĩ muốn biến “châu Mĩ của người châu Mĩ” thành “châu Mĩ của người Mĩ”, không muốn bất cứ nước châu Âu nào xác lập hoặc duy trì ảnh hưởng tại khu vực này. Năm 1825, Mĩ cho quân chiếm đảo Puerto Rico đồng thời gây sức ép với Colombia buộc phải cho Mĩ quyền tự do thông thương qua eo đất Panama.

Năm 1845-1846, Mĩ can thiệp bằng vũ lực vào Mexico, sáp nhập một nửa lãnh thổ Mexico vào nước Mĩ. Không dừng lại ở đó, cuối thế kỷ XIX, tổ chức Liên minh toàn châu Mĩ (1889) được thành lập nhằm biến các nước Mĩ-Latinh thành một khối phụ thuộc vào Mĩ, buộc những nước đó phải theo đường lối chính trị của Mĩ. Đồng thời dùng tổ chức này đấu tranh chống lại thế lực của Anh ở khu vực này và nâng cao vị thế của Mĩ trên trường quốc tế. Như vậy, bằng những thủ đoạn tinh vi núp dưới chiêu bài “độc lập dân tộc”, “hợp tác và đoàn kết” nhân dân các nước Mĩ- Latinh, Mĩ đã dần tạo được chỗ đứng ở khu vực và loại bỏ thế lực của các nước châu Âu, biến Mĩ- Latinh thành “sân sau” vào đầu thế kỷ XX.

Tình hình nước Mĩ và yêu cầu mở rộng lãnh thổ Mĩ 1. Nước Mĩ nửa đầu thế kỷ XIX 1. Sự phát triển nền kinh tế tự chủ và yêu cầu mở rộng thị trường dân tộc Sau Chiến tranh giành độc lập, Mĩ có điều kiện phát triển nền kinh tế tự chủ. Với những lợi thế về lực lượng lao động, tài nguyên thiên nhiên, đất đai, bờ biển dài với những hải cảng tốt,.

cùng với những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra ở châu Âu nói chung và Mĩ nói riêng đã góp phần làm cho kinh tế Mĩ phát triển nhanh chóng. Tuy nhiên, sau Chiến tranh giành độc lập, kinh tế Mĩ phát triển theo hai con đường chủ yếu: công thương nghiệp, nông nghiệp trại chủ nhỏ ở miền Bắc và kinh tế nông nghiệp đồn điền ở miền Nam. Trước hết là công nghiệp, Mĩ là nước chịu ảnh hưởng mạnh mẽ cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra ở châu Âu mà đầu tiên là ở Anh suốt thế kỷ XVIII và XIX. Đầu những năm 1800, cách mạng công nghiệp diễn ra ở Mĩ, ngành công 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiệp nhẹ phát triển nhanh chóng, đặc biệt là công nghiệp dệt.

Đặt nền móng cho sự phát triển của lĩnh vực này là sự kiện năm 1789 Samuel Slater cho xây dựng nhà máy kéo sợi ở Pawtucket gần sông sử dụng sức mạnh của 72 cọc suốt chạy bằng sức nước trên cơ sở tái tạo lại hoạt động nhà máy kéo sợi của Arkwright. Năm 1800, bảy nhà máy tương tự được xây dựng gần các con sông. Cuộc cách mạng công nghiệp đã thực sự diễn ra ở Mĩ. Hệ quả là, vùng Đông Bắc sớm trở thành trung tâm công nghiệp của nước Mĩ bởi nơi đây có nhiều dòng sông chảy qua.

Những cải tiến máy móc trong công nghiệp dệt đã tạo điều kiện cho ngành này phát triển nhanh chóng. Năm 1805, Mĩ có 4500 suốt đến trước Nội chiến đạt đến 5.000 suốt và vươn lên hàng thứ hai sau Anh trong công nghiệp dệt thế giới.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Quá trình mở rộng lãnh thổ Mỹ thế kỷ XIX: Lịch sử và tác động" cung cấp cái nhìn sâu sắc về những sự kiện lịch sử quan trọng trong quá trình mở rộng lãnh thổ của Hoa Kỳ trong thế kỷ XIX, cùng với những tác động xã hội, kinh tế và chính trị mà nó mang lại. Qua việc phân tích các yếu tố như chiến tranh, thỏa thuận và di cư, tài liệu giúp người đọc hiểu rõ hơn về cách mà sự mở rộng này đã định hình nước Mỹ hiện đại.

Đặc biệt, tài liệu không chỉ dừng lại ở việc trình bày các sự kiện lịch sử mà còn mở ra những cơ hội để người đọc khám phá thêm về các vấn đề liên quan. Ví dụ, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ vấn đề mở rộng lãnh thổ của Trung Quốc từ năm 1991 đến nay dưới góc nhìn lý thuyết quan hệ quốc tế, một tài liệu liên quan đến các vấn đề mở rộng lãnh thổ trong bối cảnh quốc tế hiện đại. Những liên kết này không chỉ giúp bạn mở rộng kiến thức mà còn cung cấp những góc nhìn đa dạng về các vấn đề lãnh thổ trong lịch sử và hiện tại.