Luận Án Tiến Sĩ Về Quá Trình Đổi Mới Doanh Nghiệp Nhà Nước Ở Việt Nam Giai Đoạn 1986-2000

Luận án tiến sĩ phân tích quá trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam giai đoạn 1986, nêu bật những thách thức và thành tựu.

Chuyên ngành

Lịch Sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2002

123
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG TIỀN ĐỀ ĐỔI MỚI DNNN Ở VIỆT NAM

1.1. Lý luận và nhận thức về nhà nước và DNNN trong nền kinh tế thị trường

1.1.1. Về quan hệ của nhà nước và thị trường

1.1.2. Mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường theo cách tiếp cận lịch sử kinh tế

2. CHƯƠNG 2: ĐỔI MỚI DNNN 1986-2000

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT - KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về quá trình Đổi mới Doanh nghiệp Nhà nước Việt Nam 1986 2000

Quá trình Đổi mới Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) ở Việt Nam từ năm 1986 đến 2000 là một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử phát triển kinh tế của đất nước. Được khởi xướng trong bối cảnh nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, chính sách Đổi mới đã tạo ra những thay đổi căn bản trong cơ chế quản lý và hoạt động của DNNN. Mục tiêu chính của quá trình này là nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN, đồng thời tạo điều kiện cho sự phát triển của các thành phần kinh tế khác trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Những cải cách này không chỉ giúp DNNN hoạt động hiệu quả hơn mà còn góp phần vào sự phát triển chung của nền kinh tế Việt Nam.

1.1. Lịch sử và bối cảnh Đổi mới DNNN ở Việt Nam

Trước năm 1986, DNNN ở Việt Nam hoạt động chủ yếu theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, dẫn đến nhiều bất cập và kém hiệu quả. Sự ra đời của chính sách Đổi mới đã mở ra một hướng đi mới cho DNNN, giúp chúng chuyển mình từ mô hình cũ sang mô hình hoạt động theo cơ chế thị trường. Các chính sách cải cách đã được ban hành nhằm tăng cường quyền tự chủ cho DNNN, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh và hiệu quả sản xuất kinh doanh.

1.2. Mục tiêu và tầm quan trọng của Đổi mới DNNN

Mục tiêu của Đổi mới DNNN là tạo ra một môi trường kinh doanh thuận lợi, khuyến khích sự sáng tạo và đổi mới trong quản lý. Điều này không chỉ giúp DNNN phát triển mà còn góp phần vào sự ổn định và phát triển bền vững của nền kinh tế quốc dân. Đổi mới DNNN còn là một phần quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.

II. Những thách thức trong quá trình Đổi mới DNNN 1986 2000

Mặc dù quá trình Đổi mới DNNN đã đạt được nhiều thành công, nhưng cũng gặp không ít thách thức. Các DNNN phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt từ khu vực kinh tế tư nhân và các doanh nghiệp nước ngoài. Bên cạnh đó, việc chuyển đổi từ cơ chế quản lý cũ sang cơ chế mới cũng gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là trong việc thay đổi tư duy và cách thức hoạt động của các cán bộ quản lý.

2.1. Sự cạnh tranh từ khu vực tư nhân và doanh nghiệp nước ngoài

Sự phát triển mạnh mẽ của khu vực kinh tế tư nhân và sự gia nhập của các doanh nghiệp nước ngoài đã tạo ra áp lực lớn đối với DNNN. Các DNNN phải cải thiện chất lượng sản phẩm và dịch vụ để giữ vững thị phần, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

2.2. Khó khăn trong việc thay đổi tư duy quản lý

Việc chuyển đổi từ mô hình quản lý cũ sang mô hình mới đòi hỏi sự thay đổi trong tư duy và cách thức làm việc của các cán bộ quản lý. Nhiều DNNN vẫn còn giữ tư duy cũ, dẫn đến việc không thể thích ứng kịp thời với những thay đổi của thị trường. Điều này đã ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động và khả năng cạnh tranh của DNNN.

III. Các phương pháp cải cách DNNN hiệu quả 1986 2000

Để đối phó với những thách thức, nhiều phương pháp cải cách đã được áp dụng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN. Các chính sách này bao gồm việc tăng cường quyền tự chủ cho DNNN, cải cách cơ chế quản lý và tổ chức lại các DNNN. Những cải cách này đã giúp DNNN hoạt động hiệu quả hơn và đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế.

3.1. Tăng cường quyền tự chủ cho DNNN

Một trong những phương pháp cải cách quan trọng là tăng cường quyền tự chủ cho DNNN trong sản xuất kinh doanh. Điều này giúp DNNN có thể tự quyết định các chiến lược kinh doanh, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh và hiệu quả hoạt động.

3.2. Cải cách cơ chế quản lý DNNN

Cải cách cơ chế quản lý là một yếu tố then chốt trong quá trình Đổi mới DNNN. Việc áp dụng các phương pháp quản lý hiện đại, kết hợp với việc đào tạo nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý đã giúp DNNN hoạt động hiệu quả hơn.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về DNNN

Quá trình Đổi mới DNNN đã mang lại nhiều kết quả tích cực cho nền kinh tế Việt Nam. Các DNNN đã có những bước tiến đáng kể trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất, cải thiện chất lượng sản phẩm và dịch vụ. Những kết quả này không chỉ giúp DNNN phát triển mà còn góp phần vào sự phát triển chung của nền kinh tế.

4.1. Những thành tựu đạt được từ Đổi mới DNNN

Quá trình Đổi mới đã giúp DNNN nâng cao năng lực sản xuất, cải thiện chất lượng sản phẩm và dịch vụ. Nhiều DNNN đã trở thành những doanh nghiệp hàng đầu trong ngành, đóng góp tích cực vào ngân sách nhà nước và tạo ra nhiều việc làm cho người lao động.

4.2. Những bài học kinh nghiệm từ quá trình Đổi mới

Quá trình Đổi mới DNNN đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quý báu. Việc áp dụng các phương pháp quản lý hiện đại, tăng cường quyền tự chủ cho DNNN và cải cách cơ chế quản lý là những yếu tố quan trọng giúp DNNN phát triển bền vững trong tương lai.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của DNNN Việt Nam

Quá trình Đổi mới DNNN ở Việt Nam từ năm 1986 đến 2000 đã tạo ra những thay đổi tích cực trong hoạt động của DNNN. Tuy nhiên, để tiếp tục phát triển bền vững, DNNN cần phải tiếp tục cải cách và đổi mới. Triển vọng tương lai của DNNN Việt Nam phụ thuộc vào khả năng thích ứng với những thay đổi của thị trường và sự hỗ trợ từ chính sách của Nhà nước.

5.1. Định hướng phát triển DNNN trong tương lai

Định hướng phát triển DNNN trong tương lai cần tập trung vào việc nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện chất lượng sản phẩm và dịch vụ. Đồng thời, cần có các chính sách hỗ trợ từ Nhà nước để tạo điều kiện cho DNNN phát triển bền vững.

5.2. Vai trò của DNNN trong nền kinh tế Việt Nam

DNNN vẫn giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội. Việc tiếp tục cải cách và đổi mới sẽ giúp DNNN phát huy vai trò này, đồng thời góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

23/07/2025
Luận án tiến sĩ quá trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước ở việt nam giai đoạn 1986

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I. Những tiền đề đổi mới DNNN ở Việt Nam Ở chƣơng này, luận án sẽ tập trung làm rõ cơ sở thực tiễn và lý luận tạo tiền đề để Việt Nam tiến hành đổi mới các DNNN, đặc biệt đi sâu phân tích thực trạng các DNNN trƣớc đổi mới và những yêu cầu bức xúc đặt ra ở thời điểm cuối thập niên 70, đầu thập niên 80 thế kỷ XX. 29 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chương II. Đổi mới DNNN 1986-2000 Trong chƣơng trọng tâm này, luận án trình bầy những tƣ tƣởng Đổi Mới của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng Cộng sản Việt Nam và quan niệm, chủ trƣơng mới của Đảng và Nhà nƣớc về DNNN.

Làm rõ quá trình thực hiện nội dung cụ thể của đổi mới DNNN và đánh giá kết quả trên các khía cạnh chủ yếu. Chƣơng III. Một số nhận xét - kiến nghị Ở chƣơng này, luận án đánh giá tổng quát quá trình cải cách DNNN bằng cách phân tích những mặt tích cực, những mặt tiêu cực, làm rõ những nguyên nhân và đề ra một số nhận xét, kiến nghị để tiếp tục đổi mới DNNN. Kết luận Trình bày khái quát những luận điểm chủ yếu của luận án gắn với việc phát triển những tƣ tƣởng nổi bật của Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt Nam về đổi mới DNNN Việt Nam trong thời kỳ mới, trong đó có Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng khoá IX.

30 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 NHỮNG TIỀN ĐỀ ĐỔI MỚI DNNN Ở VIỆT NAM 1. Lý luận và nhận thức về nhà nước và DNNN trong nền kinh tế thị trường 1. Về quan hệ của nhà nước và thị trường 1. Mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường theo cách tiếp cận lịch sử kinh tế Mối quan hệ giữa nhà nƣớc và thị trƣờng đã trở thành một chủ đề quan trọng xuyên suốt lịch sử kinh tế, và xuất hiện rất nhiều lý thuyết và trƣờng phái kinh tế với những quan điểm khác nhau và mâu thuẫn nhau gay gắt.

Các trƣờng phái đƣợc tập hợp lại thành hai dòng chủ yếu. Một là, thị trƣờng tự bản thân nó có thể hoạt động một cách tối ƣu. Dòng nhận thức này còn đƣợc gọi là dòng cổ điển. Hai là, thị trƣờng có những khiếm khuyết cần phải đƣợc bổ sung bằng sự can thiệp của nhà nƣớc và sự can thiệp đó có thể cải thiện một cách đáng kể hoạt động kinh tế.

Trƣờng phái kinh tế cổ điển xuất hiện vào thế kỷ 18, mà đại diện đầu tiên là Adam Smith đã đƣa ra lý thuyết về “bàn tay vô hình” và nguyên lý “nhà nƣớc không can thiệp” vào hoạt động của nền kinh tế. Adam Smith lý giải rằng, những hành động xuất phát từ lợi ích cá nhân của con ngƣời nhƣ đƣợc điều khiển bởi một bàn tay vô hình dẫn dắt sản xuất, buôn bán và tiêu dùng, chúng sẽ cùng nhau phụng sự cho phúc lợi chung, cho hạnh phúc của một xã hội hay một dân tộc nhất định. Từ việc lý giải nhƣ vậy, trƣờng phái kinh tế cổ điển cho rằng mọi sự can thiệp của nhà nƣớc vào nền kinh tế, vào hoạt động của các chủ thể kinh tế (doanh nghiệp) sẽ làm méo mó sự phân bổ các nguồn lực của xã hội. Vì vậy, theo họ, nhà nƣớc chỉ nên thực hiện một chức năng duy nhất là điều chỉnh để duy trì các luật chơi của thị trƣờng.

Tƣ tƣởng nhƣ vậy đã thống trị ở các nƣớc 31 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com TBCN trong suốt 200 năm, từ cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên trong thế kỷ 19 đến những năm 30 của thế kỷ 20. Song, lý thuyết về bàn tay vô hình của trƣờng phái kinh tế cổ điển đã tỏ ra bất lực khi nền kinh tế của các nƣớc phƣơng Tây rơi vào tình trạng khủng hoảng, thất nghiệp diễn ra thƣờng xuyên và nghiêm trọng vào những năm 30 của thế kỷ này. Lý thuyết Keynes ra đời trong bối cảnh này, mà tƣ tƣởng cơ bản của nó là phủ nhận vai trò điều tiết kinh tế vĩ mô ngắn hạn của cơ chế thị trƣờng tự do và đề cao vai trò điều tiết kinh tế vĩ mô của nhà nƣớc nhằm kích thích nhu cầu xã hội bằng cách tăng chi tiêu của chính phủ trong việc mua sắm và xây dựng các công trình công cộng, qua đó tạo động lực cho phát triển sản xuất, tạo công ăn việc làm, giải quyết vấn đề thất nghiệp và bảo đảm duy trì tốc độ tăng trƣởng ổn định của nền kinh tế. Tuy nhiên, việc áp dụng lý thuyết Keynes vào thực tiễn cũng không làm giảm tình trạng thất nghiệp và lạm phát trong nền kinh tế TBCN.

Mặt khác, trong thập niên 70, thế kỷ XX, những thất bại của các chƣơng trình can thiệp của chính phủ đã thu hút các nhà khoa học kinh tế và chính trị nghiên cứu sự thất bại của chính phủ. Chính những thất bại của chính phủ đã khích lệ sự phục hồi của dòng kinh tế cổ điển.[47, 12-14] Hiện nay, lý thuyết nền kinh tế hỗn hợp ra đời bởi sự kết hợp giữa hai trƣờng phái Keynes và Tân cổ điển. Trƣờng phái nền kinh tế hỗn hợp cho rằng nền kinh tế hiện đại muốn phát triển phải dựa vào cả hai cơ chế: thị trƣờng và sự quản lý của nhà nƣớc. Lý thuyết nền kinh tế hỗn hợp đang là nền tảng lý luận trong thực tiễn quản lý nhà nƣớc ở nhiều nƣớc với mức độ “hỗn hợp” khác nhau.

Đây là một lý thuyết đang đựoc áp dụng phổ biến ở các nƣớc có nền kinh tế thị trƣờng phát triển.[34, 83] Quan điểm của Mác-Lê-nin về nhà nƣớc và thị trƣờng, tháng 3-1922, tại Đại hội XI Đảng Cộng sản Nga, V. Lê-nin đã nêu bài học về CNTB nhà nƣớc 32 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dƣới CNXH của giai đoạn chuyển đổi từ chủ nghĩa cộng sản thời chiến sang chính sách kinh tế mới.[32, 25] Cho đến những năm 20 của thế kỷ XX, CNTB nhà nƣớc đƣợc hiểu nhƣ là sự liên minh kinh tế giữa nhà nƣớc với giai cấp tƣ sản dƣới CNTB. Các cán bộ lãnh đạo đảng, các nhà kinh tế nhƣ N. Bu-kha-lin, E.

Prê-ô-bra-gien-xki. quan niệm rằng CNTB nhà nƣớc là CNTB. Hiểu nhƣ thế có nghĩa CNTB nhà nƣớc là kẻ thù của CNXH, của giải cấp vô sản và sẽ là đối tƣợng của chuyên chính vô sản. Lê-nin cho rằng, đó là cách hiểu “sai lầm nhất” một cách hiểu kinh viện.

Lê-nin nói, “Giai cấp vô sản nắm chính quyền, lúc đầu sẽ tìm cách tổ chức sản xuất lớn và việc phân phối cho nông dân, nhƣng sau đó, do những điều kiện văn hoá nên không thể hoàn thành đƣợc nhiệm vụ đó, giai cấp vô sản buộc phải để CNTB tham gia vào sự nghiệp của mình”[36, 141] Những hình thức mà CNTB tham gia trong nền kinh tế XHCN là: - Tô nhƣợng đối với tƣ bản nƣớc ngoài - Kinh tế tƣ bản nhà nƣớc đối với tƣ bản trong nƣớc - Kinh tế HTX Tô nhƣợng, theo Lê-nin là hình thức hoạt động kinh tế khi chính quyền nhà nƣớc XHCN giao cho nhà tƣ bản tƣ liệu sản xuất của mình; nhà tƣ bản tiến hành kinh doanh với tƣ cách là một bên ký kết, là ngƣời thuê tƣ liệu sản xuất XHCN, và thu lợi nhuận do tƣ bản mà mình bỏ ra, rồi nộp cho nhà nƣớc XHCN một phần sản phẩm. Lê-nin cho rằng không có sự liên minh kiểu tô nhƣợng với các tơ-rớt quốc gia của những nƣớc tiên tiến thì Nga lạc hậu và bị tàn phá không thể khôi phục và phát triển nền kinh tế đƣợc. Khi gặp phải sự phản đối của nhiều đảng viên và quần chúng, Lê-nin nói “Tô nhƣợng không đáng sợ, nếu chúng ta chỉ giao cho một vài nhà máy, còn đa số nhà máy thì vẫn giữ lại”.[36, 191] Đối với kinh tế tƣ bản tƣ nhân, Lê-nin cho rằng từ trình độ xuất phát về kinh tế, kỹ thuật thấp nhƣ nƣớc Nga, đi lên CNXH là môt quá trình lâu dài, vì 33 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thế cách tốt nhất để phát triển kinh tế là làm cho kinh tế tiểu tƣ sản và tƣ bản tƣ nhân phát triển, nhƣng phải tìm cách hƣớng nó vào con đƣờng CNTB nhà nƣớc và sau đó là bảo đảm chuyển biến từ CNTB nhà nƣớc sang CNXH trong tƣơng lai. Trong sự nghiệp này, ngƣời nào thu đƣợc nhiều kết quả nhất, dù là bằng con đƣờng tƣ bản tƣ nhân, thì ngƣời đó giúp ích nhiều hơn cho công cuộc xây dựng CNXH ở nƣớc Nga so với những ngƣời chỉ ngồi lo cho sự thuần tuý của chủ nghĩa cộng sản mà không thúc đẩy cho sự trao đổi tiến lên.

Nhƣ vậy, CNTB tƣ nhân lại đóng vai trò trợ thủ cho CNXH.[32, 27] Vấn đề HTX đƣợc Lê-nin chú ý đặc biệt. Lê-nin cho rằng, phƣơng tiện tốt nhất giúp cho việc lƣu thông kinh tế là HTX: “bộ máy phân phối tốt nhất là HTX mà CNTB đã để lại cho chúng ta, và chúng ta cần phải giữ lấy bộ máy đó”.[36, 77] Lê-nin coi HTX nhƣ là một phƣơng thức cơ bản để tiến lên CNXH ở một nƣớc mà đa số dân cƣ là nông dân: “khi nhân dân đã vào HTX tới một mức đông nhất, thì CNXH. từ nó sẽ đƣợc thực hiện”[36, 45] Có thể nói, quan niệm kinh tế chủ yếu của Lê-nin là phát triển lực lƣợng sản xuất trên cơ sở những quan hệ thị trƣờng trong chế độ tƣ bản độc quyền nhà nƣớc. Về sự quản lý của nhà nước đối với kinh tế thị trường Sự quản lý của nhà nƣớc thể hiện qua hai chức năng : điều chỉnh thị trƣờng và phát triển kinh tế Về sự điều chỉnh thị trường, theo lý thuyết về nền kinh tế hỗn hợp, một cơ chế thị trƣờng dù tự do đến đâu cũng có những khiếm khuyết : - Sự phân hoá giàu nghèo - Sự thiếu quan tâm đến các công trình công cộng, hay không đáp ứng nổi một số nhu cầu cơ bản của xã hội - Các vấn đề xã hội nhƣ : thất nghiệp, ngƣời về hƣu, ngƣời tàn tật.

không đƣợc chú ý 34 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Thị trƣờng tự do dẫn đến độc quyền, buôn gian bán lận, đầu cơ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ