Tổng quan luận án

Công trình khoa học mang tiêu đề "Quá trình Đổi mới Doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam 1986-2000" của nghiên cứu sinh Lee Kang Woo được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. TS. Phùng Hữu Phú, bảo vệ năm 2002 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, thuộc chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (Mã số: 5.15). Luận án tiếp cận tiến trình đổi mới kinh tế của Việt Nam từ góc độ lịch sử kinh tế, làm sáng tỏ quá trình chuyển hóa của khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) từ mô hình kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tính cấp thiết của đề tài và khoảng trống nghiên cứu

Bối cảnh thế giới cuối thế kỷ XX – đầu thế kỷ XXI ghi nhận sự chuyển dịch mạnh mẽ sang xã hội tri thức và kinh tế tri thức. Trong phương thức sản xuất mới, các yếu tố như chất lượng lao động, năng lực điều hành và quản trị tri thức trở nên vượt trội so với các tư liệu sản xuất vật chất truyền thống. Công cuộc Đổi mới kinh tế ở Việt Nam khởi xướng từ năm 1986 đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, kiên trì giữ vững vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước và vai trò nền tảng của sở hữu công cộng, đồng thời xóa bỏ mô hình tập trung quan liêu bao cấp và cơ chế quốc hữu hóa toàn bộ.

Tuy nhiên, tính cấp thiết của đề tài xuất phát trực tiếp từ thực trạng cải cách DNNN thời kỳ 1986-2000:

  • Khu vực DNNN dù giữ vị trí đầu tàu nhưng bộc lộ nhiều điểm yếu kém kéo dài; tiến trình sắp xếp lại, cổ phần hóa (CPH), sáp nhập, giải thể, giao, bán, khoán, cho thuê diễn ra hết sức khó khăn và có xu hướng chậm lại do ách tắc trong xử lý công nợ tồn đọng, lao động dôi dư và các rào cản tâm lý xã hội.
  • Bối cảnh quốc tế gia tăng sức ép cạnh tranh khi Việt Nam ký kết Hiệp định Thương mại song phương với Hoa Kỳ vào tháng 7 năm 2000 (chính thức có hiệu lực từ tháng 12 năm 2001), đòi hỏi các doanh nghiệp trong nước phải đương đầu trực tiếp với các tập đoàn kinh tế nước ngoài.
  • Yêu cầu cấp bách về mặt lý luận và thực tiễn đòi hỏi phải tổng kết một cách có hệ thống, khách quan toàn bộ chặng đường cải cách DNNN từ năm 1986 đến năm 2000, phân tích nguyên nhân thành công cũng như hạn chế nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách kinh tế trong giai đoạn tiếp theo.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu bao trùm của luận án là làm sáng tỏ quá trình chuyển đổi căn bản của hệ thống DNNN ở Việt Nam từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong 15 năm đầu của công cuộc Đổi mới. Để đạt được mục tiêu này, tác giả xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể (được đánh số theo văn bản luận án):

  1. Trình bày một cách có hệ thống quá trình phát triển và đổi mới doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam.
  2. Đánh giá những thành quả, hạn chế của quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nước.
  3. Bước đầu rút ra một số nhận xét về quá trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam thông qua góc nhìn nhận thức của một nghiên cứu sinh người nước ngoài.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Bản thân quá trình cải cách và chuyển đổi thể chế của khu vực doanh nghiệp nhà nước.
  • Phạm vi không gian: Hệ thống các doanh nghiệp nhà nước hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, bao gồm cả các xí nghiệp công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ thuộc trung ương và địa phương quản lý.
  • Phạm vi thời gian: Trọng tâm nghiên cứu là giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2000. Để thiết lập tiền đề lịch sử và cơ sở so sánh, tác giả khảo sát ngược thời gian giai đoạn 1945-1985 (thời kỳ trước Đổi mới). Đồng thời, tác giả mở rộng tham khảo một số dữ liệu, văn kiện sau năm 2000 (đặc biệt là Đại hội IX của Đảng và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa IX) nhằm làm rõ xu hướng vận động tiếp theo của DNNN.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây được luận án điểm luận

Luận án tiến hành phân loại và điểm duyệt các công trình nghiên cứu tiêu biểu của các học giả trong nước và quốc tế xoay quanh chủ đề doanh nghiệp nhà nước Việt Nam và kinh nghiệm chuyển đổi quốc tế:

  • Viện sĩ Võ Đại Lược với tác phẩm "Đổi mới DNNN ở Việt Nam" (Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 1997): Công trình nghiên cứu bao quát từ nguồn gốc hình thành, phát triển đến các giải pháp cải cách cụ thể như hạch toán kinh doanh, đổi mới cơ chế tài chính, sắp xếp lại và cổ phần hóa. Tác giả Võ Đại Lược đưa ra kết luận quan trọng: mục tiêu cốt lõi của công cuộc đổi mới DNNN ở Việt Nam là bảo đảm khu vực này đóng vai trò công cụ ổn định, điều tiết và định hướng phát triển kinh tế - xã hội, trợ giúp các thành phần kinh tế khác với chi phí xã hội thấp nhất, chứ không thuần túy đặt mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận kinh doanh lên hàng đầu.
  • Học giả Kwon Yul (Hàn Quốc) trong công trình "Tình trạng và triển vọng của cải cách DNNN Việt Nam" (Trung tâm Nghiên cứu Chính sách Kinh tế Đối ngoại Hàn Quốc, 1997): Đề xuất Việt Nam cần phân định rõ ràng giữa các DNNN thuộc lĩnh vực dịch vụ công ích và các doanh nghiệp ngoài quốc doanh hoạt động thuần túy vì hiệu suất kinh tế. Tác giả kiến nghị Chính phủ Việt Nam cần đẩy nhanh việc tư nhân hóa DNNN nhằm nâng cao hiệu quả thu hồi lợi nhuận và kiến tạo môi trường đầu tư thuận lợi cho các đối tác nước ngoài.
  • Chuyên gia Tomoo Marukawa (Viện Phát triển Kinh tế Nhật Bản) trong báo cáo "Vấn đề cải tổ các TCT và DNNN ở Việt Nam" trình bày tại Hội thảo Hợp tác Việt Nam - Nhật Bản tại Hà Nội (ngày 8-9 tháng 12 năm 2000): Nhấn mạnh sự cần thiết phải giải tán các Tổng công ty nhà nước độc quyền hoặc thiết lập các chủ thể cạnh tranh bình đẳng trên thị trường. Sức mạnh thực chất của các Tổng công ty chỉ được bộc lộ khi đối mặt với áp lực cạnh tranh gay gắt từ bên ngoài và kiểm soát được cạnh tranh nội bộ.
  • Nhóm tác giả PTS. Hoàng Công Thi và Nguyễn Thị Thanh Thảo với công trình khảo cứu "Cải cách DNNN ở Trung Quốc" (Nhà xuất bản Tài chính, 1999): Chỉ ra bài học từ Trung Quốc, nơi cải cách DNNN chưa đạt kết quả tối ưu do tính chất quá thận trọng và thiếu đồng bộ với cải cách hệ thống thuế, tài chính, tiền tệ. Do đó, DNNN phải gánh chịu toàn bộ chi phí xã hội phát sinh từ các cải cách khác, tích tụ các khoản nợ xấu lớn. Nhóm tác giả rút ra khuyến nghị cho Việt Nam về việc phải kết hợp đồng bộ cải cách DNNN với các cải cách kinh tế vĩ mô tổng thể.

Khoảng trống nghiên cứu và vị trí của luận án

Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung dưới góc độ kinh tế học ứng dụng, lý luận quản trị kinh doanh hoặc tiếp cận kinh nghiệm quốc tế một cách cơ học. Khoảng trống mà luận án của tác giả Lee Kang Woo lựa chọn giải quyết là:

  • Tái hiện một cách hệ thống và trung thực toàn bộ diễn trình cải cách DNNN tại Việt Nam từ góc độ chuyên ngành Lịch sử kinh tế.
  • Khảo sát sự vận động của chính sách kinh tế trong mối quan hệ gắn bó hữu cơ với đường lối chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam và thực tiễn vận hành xã hội qua từng nấc thang lịch sử cụ thể.
  • Đưa ra góc nhìn phân tích độc lập của một nhà nghiên cứu nước ngoài về mối tương quan giữa sự chỉ đạo của nhà nước và quy luật vận động khách quan của thị trường trong hoàn cảnh đặc thù của Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án xây dựng hệ thống luận cứ dựa trên sự kết hợp giữa các trường phái kinh tế học lớn trên thế giới và lý luận kinh tế chính trị Mác - Lênin:

  • Lý thuyết về mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường: Phân tích hai dòng tư tưởng chủ đạo trong lịch sử kinh tế thế giới:
    1. Trường phái cổ điển: Đại diện tiêu biểu là Adam Smith với lý thuyết "bàn tay vô hình" và nguyên lý "nhà nước không can thiệp", coi trọng động lực lợi ích cá nhân và phân bổ nguồn lực tự nhiên của thị trường tự do.
    2. Trường phái Keynes: Hình thành sau cuộc đại khủng hoảng thập niên 1930, phủ nhận năng lực tự điều tiết vĩ mô ngắn hạn của thị trường tự do, đề cao sự can thiệp của chính phủ thông qua gia tăng chi tiêu công cộng nhằm kích cầu xã hội và giảm thất nghiệp.
    3. Lý thuyết nền kinh tế hỗn hợp: Sự dung hòa giữa trường phái Tân cổ điển và Keynes, thừa nhận thị trường có những khiếm khuyết nội tại (phân hóa giàu nghèo, độc quyền, lãng quên hàng hóa công cộng, ô nhiễm môi trường) cần đến sự điều tiết vĩ mô của nhà nước, đồng thời khai thác tính năng động của thị trường. Đây là mô hình được áp dụng phổ biến ở các nước công nghiệp phát triển và các nền kinh tế công nghiệp mới (NIEs) ở Đông Á và Đông Nam Á thông qua việc thực thi chính sách công nghiệp.
  • Quan điểm của V.I. Lênin về Chủ nghĩa tư bản nhà nước: Luận án dẫn chứng bài học kinh nghiệm được Lênin trình bày tại Đại hội XI Đảng Cộng sản Nga (tháng 3 năm 1922) khi chuyển từ chính sách "Cộng sản thời chiến" sang "Chính sách Kinh tế Mới" (NEP). Lênin phê phán quan điểm giáo điều của N. Bukharin và E. Preobrazhensky, khẳng định chủ nghĩa tư bản nhà nước dưới chế độ vô sản là phương tiện cần thiết để phát triển lực lượng sản xuất. Ba hình thức chủ nghĩa tư bản nhà nước theo Lênin gồm:
    • Tô nhượng: Nhà nước xã hội chủ nghĩa giao tư liệu sản xuất cho nhà tư bản nước ngoài thuê kinh doanh và thu một phần sản phẩm.
    • Kinh tế tư bản nhà nước: Thiết lập liên minh kinh tế giữa nhà nước vô sản và tư bản tư nhân trong nước.
    • Kinh tế hợp tác xã: Bộ máy phân phối và phương thức cơ bản để tổ chức quần chúng nông dân tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Khái niệm và tiêu chí phân loại DNNN

Tác giả tổng hợp các định nghĩa học thuật và thể chế:

  • Tiêu chuẩn của Vương quốc Anh (1956): DNNN có Hội đồng quản trị do chính phủ bổ nhiệm, cơ quan quốc hữu hóa kiểm tra tài chính, và hoạt động thu nhập phần lớn không dựa vào trợ cấp ngân sách hành chính.
  • Tiêu chuẩn của Cộng hòa Pháp: Đảm bảo ba tiêu chí: tính công hữu về quyền sở hữu vốn của nhà nước; có tư cách pháp nhân độc lập; thực hiện hoạt động công thương độc lập có hạch toán kinh doanh lỗ lãi.
  • Quan niệm của Liên Hợp Quốc, Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF): Chính phủ là cổ đông chính (nắm trên 50% vốn) hoặc nắm quyền kiểm soát chính sách chung, bổ nhiệm ban quản lý; sản xuất hàng hóa/dịch vụ bán ra thị trường; tự chịu trách nhiệm thu chi tài chính.
  • Phân loại DNNN theo mục tiêu: Doanh nghiệp công ích (hoạt động phi lợi nhuận nhằm thực hiện các mục tiêu an sinh, cơ sở hạ tầng) và Doanh nghiệp kinh doanh (mưu cầu lợi nhuận).
  • Ba quy trình cải cách DNNN quốc tế: (1) Phân loại và sắp xếp hợp lý toàn bộ khu vực DNNN; (2) Cải tiến tổ chức quản trị và tăng quyền tự chủ nội bộ; (3) Thay đổi thể chế kinh tế, thiết lập môi trường cạnh tranh bình đẳng với khu vực kinh tế tư nhân.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án áp dụng kết hợp các phương pháp khoa học chuyên ngành:

  • Phương pháp lịch sử: Tái hiện trung thực, liên tục tiến trình phát triển và biến đổi của DNNN theo trình tự thời gian từ năm 1945 đến năm 2000.
  • Phương pháp logic: Phân tích bản chất các hiện tượng kinh tế, vạch rõ mối quan hệ nhân quả giữa cơ chế thể chế tập trung bao cấp với tình trạng suy giảm hiệu quả của doanh nghiệp.
  • Phương pháp so sánh đối chiếu: So sánh giữa các thời kỳ lịch sử trước và sau Đổi mới, đối chiếu các chỉ tiêu sản xuất, đầu tư, số lượng doanh nghiệp và cơ chế quản lý; liên hệ so sánh có chọn lọc với kinh nghiệm cải cách của các nước phát triển, các nước NIEs và Trung Quốc.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Hệ thống tư liệu của luận án được khai thác từ các nguồn tài liệu chính thống:

  • Các Văn kiện chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII và IX; các Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước: Các sắc lệnh, luật, nghị định của Chính phủ, nghị quyết và quyết định của Hội đồng Bộ trưởng, chỉ thị và quyết định của Thủ tướng Chính phủ liên quan đến quản lý kinh tế và DNNN.
  • Tài liệu lưu trữ thực tế tại các trung tâm: Cục Lưu trữ Nhà nước, Trung tâm Lưu trữ Trung ương Đảng, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), cơ quan lưu trữ của các bộ, ngành và địa phương.
  • Nguồn tài liệu đối ngoại do Đại sứ quán Hàn Quốc tại Việt Nam cung cấp; các công trình nghiên cứu chuyên khảo, bài báo khoa học xuất bản trên các tạp chí chuyên ngành như "Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế", "Thời báo Kinh tế".

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những tiền đề đổi mới DNNN ở Việt Nam

Chương 1 tập trung phân tích nguồn gốc lịch sử, cơ sở lý luận và thực trạng của hệ thống DNNN trước năm 1986. Tác giả chỉ rõ ba nguồn gốc hình thành nên DNNN ở Việt Nam: (1) Quốc hữu hóa tư liệu sản xuất của thực dân và tư sản mại bản; (2) Cải tạo xí nghiệp tư bản tư nhân thành xí nghiệp công tư hợp doanh rồi chuyển thành xí nghiệp quốc doanh; (3) Nhà nước trực tiếp đầu tư xây dựng mới bằng vốn ngân sách và vốn viện trợ từ Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa (đây là con đường ra đời quan trọng nhất).

Tiến trình phát triển trước Đổi mới được phân kỳ qua ba giai đoạn:

  1. Giai đoạn 1945-1954: Thời kỳ kháng chiến chống Pháp với khẩu hiệu "vừa kháng chiến vừa kiến quốc". Công nghiệp quốc phòng được tổ chức bí mật, phân tán (xưởng Phan Đình Phùng ở Bắc Bộ, Cao Thắng ở Thanh Hóa, Đặng Thái Thân ở Nghệ An do nhân dân đóng góp vốn). Công nghiệp dân dụng bước đầu phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu tối thiểu (Cơ khí Trần Hưng Đạo, Giấy Hoàng Văn Thụ vận chuyển hơn 3.000 tấn máy móc từ Đáp Cầu lên Việt Bắc trên 150 km, Than Lam Sơn, Chì Bắc Sơn, Dệt Thống Nhất với 70 khung dệt, Dệt Tháng Tám với 50 khung dệt). Cơ sở pháp lý đầu tiên được xác lập qua Sắc lệnh số 104-SL (ngày 1-1-1948 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký), Sắc lệnh số 9-SL (25-2-1949) và Điều lệ tạm thời số 214-TTg (30-12-1952).
  2. Giai đoạn 1955-1975: Khôi phục kinh tế và cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Sau kế hoạch ba năm 1958-1960 (Nghị quyết Hội nghị Trung ương 14 khóa III), thành phần tư bản tư doanh căn bản bị xóa bỏ. Tỷ trọng công nghiệp quốc doanh tăng từ 66,6% (năm 1957) lên 90,8% (năm 1960); nông trường quốc doanh tăng từ 16 lên 44 đơn vị; vận tải quốc doanh tăng từ 50,2% lên 75,5%; thương nghiệp quốc doanh và hợp tác xã mua bán tăng từ 31,3% lên 74,3%. Hội nghị Trung ương 7 khóa III (tháng 6-1962) đề ra đường lối ưu tiên phát triển công nghiệp nặng (đầu tư 343 triệu đồng/năm, gấp 3 lần giai đoạn 1955-1960), xây dựng các khu công nghiệp Hà Nội, Việt Trì, Thái Nguyên, Hải Phòng, Quảng Ninh, Vinh. Quyết định số 130-TTg (ngày 4-4-1957) bước đầu đưa chế độ hạch toán kinh tế vào DNNN.
  3. Giai đoạn 1976-1985: Tiếp quản và cải tạo công thương nghiệp tại miền Nam sau ngày thống nhất (nơi có khoảng 200.000 nhà tư sản). Đến cuối năm 1976, cả nước có 1.913 DNNN công nghiệp (miền Bắc có 1.269 doanh nghiệp - 66,4%; miền Nam có 643 doanh nghiệp - 33,6%). Đến năm 1985, số lượng DNNN tăng 1,68 lần so với năm 1976.
Năm Tỷ trọng đóng góp của khu vực DNNN trong Tổng sản phẩm xã hội (%)
1960 38,4
1965 45,5
1970 44,4
1973 44,4
1974 47,5
1975 51,7
1980 35,5
1981 35,2
1982 33,1
1983 33,2
1984 35,2
1985 35,7
1986 37,3

Luận án chỉ rõ những yếu kém mang tính cơ cấu của thời kỳ bao cấp: Nhà nước can thiệp trực tiếp bằng hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh (Nghị quyết 244-CP/HĐBT ngày 20-12-1976 quy định 9 chỉ tiêu pháp lệnh: giá trị sản lượng hàng hóa, sản lượng sản phẩm chủ yếu, chỉ tiêu tiến bộ kỹ thuật, năng suất lao động, tổng quỹ lương, lợi nhuận và nộp ngân sách, vốn đầu tư cơ bản, vật tư thiết bị, giá thành sản phẩm). Quan hệ kinh tế bị hiện vật hóa; thực hiện cơ chế "cấp phát - giao nộp" và "thu đủ chi đủ", dẫn đến hiện tượng "lãi giả lỗ thật", công suất máy móc công nghiệp chỉ khai thác được khoảng 60%. Năm 1976, kinh tế nhà nước chiếm 33,1% tài sản cố định mới tăng và 37,1% vốn đầu tư xã hội nhưng tạo ra 68,8% sản lượng công nghiệp; đến năm 1980, các tỷ lệ đầu vào tăng lên 44,5% và 45,1% nhưng giá trị sản lượng công nghiệp lại giảm xuống còn 60,2%.

Các nỗ lực cải tiến cục bộ trước Đổi mới: Thí điểm quản lý xí nghiệp năm 1969 tại ba nhà máy (Cơ khí Trần Hưng Đạo, Dệt 8-3, Rượu Hà Nội); Nghị định 172/CP (1973), 24/CP (1976), 33/CP (1978); Nghị quyết Trung ương 6 khóa IV (tháng 9-1979); và đặc biệt là Quyết định số 25/CP (ngày 21-1-1981) ban hành quy chế "kế hoạch 3 phần" (Kế hoạch Nhà nước giao có bảo đảm vật tư; Kế hoạch xí nghiệp tự làm; Kế hoạch sản xuất phụ). Mặc dù cởi trói một phần năng lực sản xuất, các biện pháp này vẫn mang tính chắp vá, nửa vời, làm nảy sinh hiện tượng doanh nghiệp dồn nguồn lực vào kế hoạch tự làm và sản xuất phụ để trục lợi, bỏ bê kế hoạch pháp lệnh của Nhà nước.

Chương 2: Đổi mới DNNN 1986-2000

Chương 2 là chương trung tâm của luận án, trình bày sự biến đổi mang tính bước ngoặt về nhận thức và thể chế từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12-1986). Đường lối Đổi mới xác lập mô hình nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế nhà nước không còn giữ vị trí độc tôn tuyệt đối mà trở thành một bộ phận nền tảng cạnh tranh bình đẳng với các thành phần kinh tế khác; DNNN được xác định lại là các đơn vị sản xuất hàng hóa có quyền tự chủ kinh doanh và tự chịu trách nhiệm tài chính.

Các bước chuyển đổi thể chế kinh tế vĩ mô có tác động trực tiếp đến DNNN:

  • Chuyển đổi từ cơ chế hai giá sang cơ chế giá thị trường thống nhất; thực hiện tự do hóa lưu thông hàng hóa; hệ thống ngân hàng chấm dứt bù giá từ năm 1989.
  • Giảm bù lỗ ngân sách, cắt giảm chi đầu tư công cơ bản, điều chỉnh lãi suất tiền gửi thực dương nhằm đẩy lùi lạm phát phi mã.
  • Ban hành Quyết định số 217/HĐBT (năm 1987) mở rộng quyền tự chủ sản xuất kinh doanh cho các xí nghiệp quốc doanh, xóa bỏ việc giao chỉ tiêu pháp lệnh áp đặt từ trên xuống.

Các nhóm giải pháp cải cách căn bản giai đoạn 1986-2000:

  1. Đổi mới cơ chế quản lý nhà nước và tăng quyền tự chủ: Xóa bỏ chế độ chủ quản hành chính của các bộ và ủy ban nhân dân địa phương; chuyển từ phương pháp quản lý mệnh lệnh trực tiếp sang phương pháp điều tiết gián tiếp bằng pháp luật, chính sách thuế, tiền tệ và tín dụng.
  2. Sắp xếp, tổ chức lại hệ thống DNNN: Đánh giá, phân loại lại toàn bộ các cơ sở quốc doanh. Kiên quyết giải thể, sáp nhập các cơ sở thua lỗ kéo dài, quy mô quá nhỏ bé, không có khả năng bảo toàn vốn.
  3. Thành lập các Tổng công ty nhà nước (TCT NN): Nhằm tổ chức lại sản xuất quy mô lớn theo hướng tập đoàn kinh tế, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 90/TTg và Quyết định 91/TTg thành lập Tổng công ty 90 và Tổng công ty 91, tập trung các nguồn lực tài chính, kỹ thuật trong các lĩnh vực then chốt như điện lực, than, bưu chính viễn thông, hàng không, dầu khí, thép, xi măng.
  4. Cổ phần hóa DNNN: Khẳng định CPH không phải là tư nhân hóa vô nguyên tắc mà là phương thức đa dạng hóa hình thức sở hữu, huy động thêm vốn xã hội, nâng cao trách nhiệm của người lao động. Luận án phân tích chi tiết quy trình chuyển đổi, các giai đoạn thí điểm và diện mở rộng CPH.
  5. Đa dạng hóa hình thức chuyển đổi sở hữu: Áp dụng các giải pháp giao, bán, khoán kinh doanh và cho thuê đối với các DNNN quy mô nhỏ mà Nhà nước không cần nắm giữ cổ phần chi phối.

Chương 3: Một số nhận xét - kiến nghị

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn 15 năm Đổi mới, tác giả đưa ra ba nhận xét có tính quy luật:

  • Đổi mới DNNN là nhu cầu tất yếu khách quan: Phù hợp với quy luật phát triển kinh tế và bối cảnh lịch sử, khắc phục sự khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng của thời kỳ trước năm 1986.
  • Quá trình tiến hành từng bước, thận trọng: Đảng và Nhà nước Việt Nam lựa chọn bước đi có lộ trình, kết hợp chặt chẽ việc giải quyết các mục tiêu tăng trưởng kinh tế với việc ổn định chính trị - xã hội, chú trọng các chính sách an sinh, trợ cấp lao động dôi dư thay vì thực hiện các biện pháp "liệu pháp sốc" gây chấn động xã hội.
  • Thành công gắn liền với những hạn chế lớn: Bên cạnh việc nâng cao năng lực cạnh tranh bước đầu, khu vực DNNN còn bộc lộ nhiều khuyết tật:
    • Tốc độ sắp xếp lại và tiến trình cổ phần hóa diễn ra chậm chạp so với mục tiêu đề ra;
    • Các tồn đọng tài chính, đặc biệt là nợ nần dây dưa giữa các doanh nghiệp và nợ ngân hàng chưa được giải quyết dứt điểm;
    • Vấn đề bố trí việc làm và xử lý quyền lợi cho người lao động dôi dư sau sắp xếp còn gặp nhiều bế tắc;
    • Mô hình Tổng công ty nhà nước còn mang nặng tính hành chính bao cấp kiểu mới, nội bộ thiếu sự liên kết hữu cơ về tài chính và công nghệ, hiện tượng độc quyền nhóm gây cản trở môi trường cạnh tranh lành mạnh;
    • Năng lực quản trị doanh nghiệp còn thấp, chưa thích ứng đầy đủ với sức ép hội nhập kinh tế quốc tế khi Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ có hiệu lực.

Hệ thống kiến nghị đề xuất bao gồm ba nhóm nội dung:

  1. Sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách vĩ mô: Hoàn thiện Luật Doanh nghiệp nhà nước, minh bạch hóa cơ chế kiểm tra, kiểm soát tài sản công; phân định triệt để chức năng sở hữu nhà nước với chức năng quản lý hành chính công.
  2. Đổi mới hệ thống Tổng công ty nhà nước: Chuyển đổi mô hình quản lý sang công ty mẹ - công ty con; xóa bỏ bao cấp hành chính và cơ chế độc quyền phi kinh tế; tăng cường tính liên kết kinh tế thực chất và năng lực cạnh tranh quốc tế.
  3. Thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình Cổ phần hóa DNNN: Đơn giản hóa quy trình định giá tài sản doanh nghiệp, xử lý dứt điểm các khoản nợ đọng; phát triển đồng bộ thị trường vốn và thị trường chứng khoán để tạo kênh giao dịch cổ phần minh bạch; hoàn thiện các quỹ hỗ trợ lao động dôi dư để bảo đảm an sinh xã hội.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt khoa học lý luận

  • Hệ thống hóa toàn diện các lý thuyết kinh tế về mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường (từ trường phái cổ điển, Keynes đến kinh tế hỗn hợp) và tư tưởng của V.I. Lênin về chủ nghĩa tư bản nhà nước, vận dụng làm sáng tỏ cơ sở lý luận của công cuộc chuyển đổi thể chế kinh tế tại Việt Nam.
  • Dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử kinh tế, luận án đã làm rõ tính tất yếu khách quan và tính quy luật của quá trình chuyển đổi DNNN từ mô hình đơn nhất, trực thuộc hành chính sang mô hình doanh nghiệp kinh doanh tự chủ trong nền kinh tế nhiều thành phần.
  • Cung cấp góc nhìn khách quan của một nhà nghiên cứu nước ngoài về bản chất mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chỉ rõ tính chất dung hòa đặc thù giữa mục tiêu hiệu quả kinh tế với mục tiêu bảo đảm ổn định chính trị - xã hội tại Việt Nam.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Tập hợp và công bố hệ thống số liệu lịch sử có độ xác thực cao về số lượng, cơ cấu ngành nghề, cấp quản lý và tỷ trọng đóng góp của DNNN trong tổng sản phẩm xã hội suốt các giai đoạn 1945-1954, 1955-1975, 1976-1985 và 1986-2000.
  • Khảo sát và đánh giá thực chất kết quả triển khai các mô hình Tổng công ty 90, Tổng công ty 91, tiến trình cổ phần hóa và các hình thức chuyển đổi sở hữu (giao, bán, khoán, cho thuê).
  • Đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị cụ thể phục vụ công tác rà soát, sửa đổi khung chính sách và đẩy mạnh quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước trong thời kỳ hội nhập kinh tế sâu rộng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của công trình

  • Về phạm vi thời gian, công trình khảo sát chuyên sâu đến năm 2000. Do đó, các tác động thực tế của Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ (chính thức có hiệu lực từ tháng 12 năm 2001) và các bước chuyển biến thể chế sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng mới chỉ dừng lại ở mức độ dự báo và gợi mở định hướng.
  • Do các giải pháp giao, bán, khoán, cho thuê và cổ phần hóa ở thời điểm năm 2000 mới đang ở giai đoạn mở rộng ban đầu, nguồn dữ liệu thống kê tích lũy về kết quả hoạt động sau chuyển đổi của các đơn vị này còn hạn chế, chưa đủ độ lùi thời gian để đánh giá toàn diện chu kỳ kinh doanh dài hạn.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Tiếp tục theo dõi, đánh giá quá trình đổi mới DNNN trong giai đoạn tiếp theo gắn liền với việc triển khai Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX.
  • Đi sâu nghiên cứu tác động thực tế của các cam kết hội nhập quốc tế song phương và đa phương đối với năng lực cạnh tranh và sự tồn tại của các Tổng công ty nhà nước lớn tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị học thuật và thực tiễn đối với nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Phục vụ trực tiếp cho công tác nghiên cứu và giảng dạy các bộ môn Lịch sử kinh tế Việt Nam, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Kinh tế phát triển và Quản lý kinh tế. Phần tổng quan tư liệu lịch sử từ năm 1945 đến 1985 tại Chương 1 là nguồn dẫn liệu lịch sử đáng tin cậy.
  • Các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước: Cung cấp các phân tích về sự xung đột giữa cơ chế hành chính cũ với quy luật vận hành của thị trường, các nguyên nhân cản trở quá trình cổ phần hóa và xử lý nợ đọng, hỗ trợ thiết thực cho việc xây dựng thể chế kinh tế.
  • Các nhà nghiên cứu quốc tế và nhà đầu tư nước ngoài: Luận án (được viết bởi một tác giả người Hàn Quốc) đem lại cái nhìn khách quan, chuẩn xác về bối cảnh chuyển dịch thể chế và cơ chế vận hành của khu vực kinh tế nhà nước tại Việt Nam, hỗ trợ việc đánh giá môi trường đầu tư và tìm kiếm cơ hội hợp tác kinh doanh.

Câu hỏi thường gặp

1. Ba nguồn gốc chủ yếu hình thành nên các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam trước thời kỳ Đổi mới là gì?

Theo trình bày của tác giả Lee Kang Woo, hệ thống DNNN trước năm 1986 được hình thành từ ba nguồn gốc:

  1. Nhà nước thực hiện quốc hữu hóa các tư liệu sản xuất và cơ sở kinh tế của thực dân Pháp và tư sản mại bản sau khi giành chính quyền.
  2. Nhà nước tiến hành cải tạo hòa bình các xí nghiệp tư bản tư nhân của các nhà tư sản dân tộc, chuyển thành xí nghiệp công tư hợp doanh và sau đó sáp nhập hoàn toàn vào hệ thống xí nghiệp quốc doanh.
  3. Nhà nước trực tiếp bỏ vốn ngân sách và sử dụng các nguồn vốn viện trợ từ Liên Xô, Trung Quốc cùng các nước xã hội chủ nghĩa khác để xây dựng mới các xí nghiệp lớn. Đây là con đường ra đời quan trọng nhất của các DNNN Việt Nam.

2. Quyết định số 25/CP ban hành ngày 21-1-1981 đã đề ra cơ chế "kế hoạch 3 phần" cho DNNN như thế nào?

Quyết định số 25/CP của Chính phủ là bước đột phá đầu tiên nhằm trao quyền chủ động cho DNNN bằng cách chia kế hoạch sản xuất thành 3 phần:

  • Phần 1 - Kế hoạch Nhà nước giao có vật tư đảm bảo: Doanh nghiệp hoàn thành vượt mức lợi nhuận đăng ký thì được trích giữ lại từ 60% đến 80% phần vượt, nộp ngân sách 20-40%; khống chế quỹ khen thưởng được nâng từ 1,5 tháng lương lên 3 tháng lương.
  • Phần 2 - Kế hoạch xí nghiệp tự làm: Sau khi thực hiện nghĩa vụ thuế và nộp ngân sách 20%, xí nghiệp được quyền giữ lại 80% lợi nhuận (trong đó dành 60% cho quỹ khen thưởng).
  • Phần 3 - Kế hoạch sản xuất phụ: Doanh nghiệp tự khai thác nguyên vật liệu tận dụng, sau khi nộp thuế và trích nộp ngân sách 15%, xí nghiệp được toàn quyền sử dụng 85% lợi nhuận còn lại.

3. Cơ chế quản lý bằng chỉ tiêu pháp lệnh trước Đổi mới được quy định cụ thể tại văn bản nào và gồm những chỉ tiêu nào?

Cơ chế quản lý trực tiếp bằng chỉ tiêu pháp lệnh đối với DNNN được quy định chi tiết tại Nghị quyết số 244-CP/HĐBT ngày 20-12-1976. Hàng năm, Nhà nước giao cho mỗi xí nghiệp hệ thống 9 chỉ tiêu pháp lệnh bắt buộc:

  1. Giá trị sản lượng hàng hóa thực hiện (trong đó ghi rõ giá trị sản lượng hàng hóa xuất khẩu);
  2. Sản lượng sản phẩm chủ yếu theo chỉ tiêu chất lượng quy định (nêu rõ sản lượng xuất khẩu);
  3. Một số chỉ tiêu tiến bộ khoa học - kỹ thuật mà Nhà nước cần nắm;
  4. Nhịp độ tăng năng suất lao động và mức tăng năng suất tính bằng hiện vật;
  5. Tổng quỹ tiền lương;
  6. Lợi nhuận và các khoản nộp ngân sách nhà nước;
  7. Vốn đầu tư cơ bản được cấp, danh mục công trình chủ yếu, thời gian và công suất đưa vào sử dụng;
  8. Vật tư, thiết bị chủ yếu do Nhà nước cấp, tỷ lệ định mức giảm tiêu hao vật tư cho sản phẩm chính;
  9. Giá thành sản phẩm (chỉ tiêu bổ sung).

4. Tác giả chỉ ra những nguyên nhân cốt lõi nào khiến tiến trình cải cách và cổ phần hóa DNNN giai đoạn 1986-2000 bị chậm lại?

Luận án chỉ ra ba nhóm nguyên nhân gây đình trệ tiến trình sắp xếp lại và CPH:

  • Vấn đề tài chính và công nợ tồn đọng: Nợ nần dây dưa giữa các DNNN với nhau và nợ ngân hàng kéo dài qua nhiều thời kỳ chưa được kiểm toán và xử lý dứt điểm, gây vướng mắc nghiêm trọng cho công tác xác định giá trị doanh nghiệp.
  • Bài toán lao động dôi dư: Quá trình sắp xếp lại đòi hỏi phải tinh giản bộ máy cồng kềnh, nhưng các quỹ trợ cấp mất việc làm và chính sách an sinh xã hội chưa đủ nguồn lực tài chính để bảo đảm quyền lợi thỏa đáng cho người lao động, tạo ra áp lực tâm lý xã hội nặng nề.
  • Rào cản tư tưởng và cơ chế hành chính: Sự tồn tại của tâm lý ỷ lại vào bao cấp nhà nước; tư duy lo ngại mất vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước khi chuyển đổi sở hữu; và sự níu kéo quyền lợi cục bộ của các bộ, ngành, địa phương đối với quyền quản lý doanh nghiệp.

5. Quan điểm của V.I. Lênin về Chủ nghĩa tư bản nhà nước được tác giả vận dụng làm sáng tỏ nội dung nào trong cải cách DNNN tại Việt Nam?

Tác giả vận dụng luận điểm của Lênin tại Đại hội XI Đảng Cộng sản Nga (tháng 3 năm 1922) về Chính sách Kinh tế Mới (NEP) để chứng minh rằng: việc chấp nhận nhiều thành phần kinh tế, áp dụng các hình thức kinh tế hỗn hợp, mở rộng quan hệ hàng hóa - tiền tệ và thực hiện cổ phần hóa, tô nhượng, liên doanh với tư bản trong và ngoài nước không phải là từ bỏ chủ nghĩa xã hội. Đó là sự vận dụng đúng đắn quy luật kinh tế khách quan nhằm khắc phục trình độ phát triển thấp kém của lực lượng sản xuất, dùng các hình thức của chủ nghĩa tư bản nhà nước làm mắt xích trung gian, trợ thủ vững chắc để từng bước xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chế độ xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Lee Kang Woo là một công trình nghiên cứu lịch sử kinh tế nghiêm túc, tái hiện một cách hệ thống, trung thực diễn trình 15 năm đổi mới doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2000. Dựa trên nguồn tư liệu lưu trữ phong phú và phương pháp phân tích khách quan, luận án khẳng định đổi mới DNNN là nhu cầu tất yếu, phù hợp với quy luật kinh tế khách quan trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Công trình đã làm rõ tính chất thận trọng, kết hợp giữa mục tiêu kinh tế với bảo đảm an sinh xã hội của Việt Nam, đồng thời chỉ ra những khiếm khuyết cơ bản về công nợ, lao động dôi dư và cơ chế tập đoàn hóa làm cơ sở khoa học cho công cuộc cải cách thể chế kinh tế trong các giai đoạn tiếp theo.