Luận án tiến sĩ các phương tiện biểu thị tình thái trong các giáo trình dạy tiếng việt cho người nước ngoài

Luận án tiến sĩ nghiên cứu các phương tiện biểu thị tình thái trong các giáo trình dạy tiếng việt cho người nước ngoài, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2018

170
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Lí do chọn đề tài

0.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.3. Đối tƣợng, phạm vi và nguồn ngữ liệu nghiên cứu

0.4. Phƣơng pháp nghiên cứu

0.5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

0.6. Kết cấu của luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu

1.2. Những nghiên cứu về tình thái trên thế giới

1.3. Những nghiên cứu về tình thái ở trong nước

1.4. Những nghiên cứu về giảng dạy tình thái tiếng Việt cho người nước ngoài

1.5. Khái niệm tình thái

1.6. Lý thuyết hành động ngôn từ

1.7. Lý thuyết giao tiếp

2. CHƯƠNG 2: CÁC PHƢƠNG TIỆN BIỂU THỊ TÌNH THÁI TRONG TIẾNG VIỆT

2.1. Một số vấn đề về phƣơng tiện biểu thị tình thái

2.2. Một số nét khái quát về các phƣơng tiện biểu thị tình thái trong tiếng Việt

2.3. Phương tiện ngữ âm biểu thị ý nghĩa tình thái

2.4. Các phương tiện từ vựng biểu thị ý nghĩa tình thái

2.5. Các phương tiện ngữ pháp biểu thị ý nghĩa tình thái

2.6. Những khó khăn trong việc phân định các phƣơng tiện biểu thị ý nghĩa tình thái trong tiếng Việt

3. CHƯƠNG 3: KHẢO SÁT SỰ PHÂN BỐ VÀ XỬ LÍ CÁC PHƢƠNG TIỆN BIỂU THỊ TÌNH THÁI TRONG CÁC GIÁO TRÌNH DẠY TIẾNG VIỆT CHO NGƢỜI NƢỚC NGOÀI

3.1. Khảo sát các động từ tình thái trong các giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài

3.1.1. Cách gọi tên các động từ tình thái

3.1.2. Về số lượng các động từ tình thái trong các giáo trình

3.1.3. Về tần suất sử dụng các động từ tình thái trong từng giáo trình

3.1.4. Cách giải thích ý nghĩa, chức năng và hướng dẫn sử dụng các động từ tình thái trong phần ngữ pháp của giáo trình

3.2. Khảo sát các phó từ tình thái trong các giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài

3.2.1. Về số lượng các phó từ tình thái trong các giáo trình

3.2.2. Về tần suất sử dụng các phó từ tình thái trong từng giáo trình

3.2.3. Cách giải thích ý nghĩa, chức năng và hướng dẫn sử dụng các phó từ tình thái trong phần ngữ pháp của giáo trình

3.3. Khảo sát các trợ từ tình thái trong các giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài

3.3.1. Về số lượng các trợ từ tình thái trong các giáo trình

3.3.2. Về tần suất sử dụng các trợ từ tình thái trong từng giáo trình

3.3.3. Cách giải thích ý nghĩa, chức năng và hướng dẫn sử dụng các trợ từ tình thái trong phần ngữ pháp của giáo trình

3.4. Khảo sát các tiểu từ tình thái trong các giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài

3.4.1. Về số lượng các tiểu từ tình thái trong các giáo trình

3.4.2. Về tần suất sử dụng các tiểu từ tình thái trong từng giáo trình

3.4.3. Cách giải thích ý nghĩa, chức năng và hướng dẫn sử dụng các tiểu từ tình thái trong phần ngữ pháp của giáo trình

4. CHƯƠNG 4: ĐỀ XUẤT HƯỚNG PHÂN BỐ VÀ XỬ LÝ PHÙ HỢP CÁC PHƢƠNG TIỆN BIỂU THỊ TÌNH THÁI TRONG CÁC GIÁO TRÌNH DẠY TIẾNG VIỆT CHO NGƢỜI NƢỚC NGOÀI

4.1. Định hướng phân định các phƣơng tiện biểu thị ý nghĩa tình thái cho các trình độ

4.2. Vấn đề thuật ngữ cho các trình độ

4.3. Phân định các phương tiện biểu thị ý nghĩa tình thái trong các trình độ, các bậc

4.4. Đề xuất cách chú giải hiệu quả trong giảng dạy các yếu tố tình thái

4.5. Đề xuất diễn giải các phương tiện biểu thị tình thái trong các giáo trình

4.6. Giải thích minh họa

4.7. Đề xuất phương pháp và thiết kế tài liệu giảng dạy các yếu tố tình thái

4.7.1. Chọn phương pháp dạy ngữ pháp giao tiếp

4.7.2. Áp dụng ngữ pháp giao tiếp trong giảng dạy phương tiện biểu thị ý nghĩa tình thái

4.7.3. Ứng dụng thiết kế một số kiểu bài luyện, bài tập thực hành các phương tiện biểu thị ý nghĩa tình thái

4.7.3.1. Dạng bài tập tạo lập thói quen
4.7.3.2. Dạng bài tập nhận diện
4.7.3.3. Dạng bài tập tạo lập
4.7.3.4. Dạng bài tập tình huống

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Cách hiểu tổng quan về phương tiện biểu thị tình thái trong giáo trình tiếng Việt

Phương tiện biểu thị tình thái trong giáo trình tiếng Việt đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện thái độ, cảm xúc và quan điểm của người nói đối với nội dung phát ngôn. Tình thái ngữ pháp không chỉ phản ánh mối quan hệ giữa người nói và nội dung câu mà còn thể hiện sự tương tác giữa người nói và người nghe trong giao tiếp. Trong tiếng Việt, các phương tiện biểu thị tình thái rất đa dạng, bao gồm các yếu tố ngữ âm như ngữ điệu, trọng âm; các phương tiện từ vựng như động từ tình thái, phó từ tình thái, trợ từ tình thái, tiểu từ tình thái; và các cấu trúc ngữ pháp đặc thù. Việc nghiên cứu và giảng dạy các phương tiện này trong giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài là một thách thức lớn do tính phức tạp và đa dạng của chúng. Tuy nhiên, đây cũng là yếu tố then chốt giúp người học nâng cao khả năng giao tiếp và hiểu sâu sắc hơn về ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam.

1.1. Khái niệm tình thái ngữ pháp và vai trò trong giáo trình tiếng Việt

Tình thái ngữ pháp là phạm trù ngôn ngữ biểu thị thái độ, quan điểm của người nói đối với nội dung phát ngôn, đồng thời phản ánh mối quan hệ giữa phát ngôn và thực tế khách quan. Trong giáo trình tiếng Việt, tình thái được xem là linh hồn của phát ngôn, giúp biến nội dung câu từ dạng tiềm năng thành phát ngôn hiện thực. Việc hiểu và sử dụng đúng các phương tiện biểu thị tình thái giúp người học thể hiện được sự cam kết, nghi ngờ, yêu cầu, đề nghị hay cảm xúc trong giao tiếp.

1.2. Tổng quan các loại phương tiện biểu thị tình thái trong tiếng Việt

Các phương tiện biểu thị tình thái trong tiếng Việt bao gồm: (1) Phương tiện ngữ âm như ngữ điệu và trọng âm, tuy vai trò mờ nhạt do đặc điểm thanh điệu của tiếng Việt; (2) Phương tiện từ vựng gồm động từ tình thái, phó từ tình thái, trợ từ tình thái và tiểu từ tình thái, đây là nhóm phương tiện chủ đạo; (3) Phương tiện ngữ pháp như cấu trúc câu, trật tự từ và các quán ngữ tình thái. Sự phối hợp linh hoạt giữa các phương tiện này tạo nên sự phong phú trong biểu đạt tình thái của tiếng Việt.

II. Thách thức và vấn đề trong việc sử dụng phương tiện biểu thị tình thái trong giáo trình tiếng Việt

Việc sử dụng các phương tiện biểu thị tình thái trong giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài gặp nhiều khó khăn do tính đa dạng và phức tạp của chúng. Người học thường gặp trở ngại trong việc phân biệt và sử dụng chính xác các động từ tình thái, phó từ tình thái, trợ từ tình thái và tiểu từ tình thái. Ngoài ra, sự khác biệt về ngữ cảnh văn hóa và ngôn ngữ mẹ đẻ cũng ảnh hưởng đến khả năng tiếp thu và vận dụng các yếu tố tình thái. Các giáo trình hiện nay chưa có sự hệ thống và phân bố hợp lý các phương tiện tình thái theo trình độ học viên, dẫn đến việc giảng dạy và học tập chưa đạt hiệu quả tối ưu.

2.1. Những khó khăn trong phân loại và giải thích các phương tiện biểu thị tình thái

Phân loại các phương tiện biểu thị tình thái trong tiếng Việt không đơn giản do sự chồng chéo về chức năng và hình thức biểu hiện. Ví dụ, một từ có thể vừa là động từ tình thái vừa có thể đóng vai trò trợ từ tình thái trong các ngữ cảnh khác nhau. Việc giải thích ý nghĩa và chức năng của từng phương tiện cũng đòi hỏi sự hiểu biết sâu sắc về ngữ cảnh giao tiếp và văn hóa, điều này gây khó khăn cho người học nước ngoài.

2.2. Thách thức trong việc áp dụng các phương tiện tình thái vào giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài

Các giáo trình tiếng Việt hiện nay thường chưa phân bố hợp lý các phương tiện biểu thị tình thái theo từng trình độ học viên. Việc thiếu các bài tập thực hành và tình huống giao tiếp cụ thể khiến người học khó vận dụng các yếu tố tình thái vào thực tế. Bên cạnh đó, sự thiếu nhất quán trong cách giải thích và hướng dẫn sử dụng các phương tiện tình thái cũng làm giảm hiệu quả giảng dạy.

III. Phương pháp khảo sát và phân tích phương tiện biểu thị tình thái trong giáo trình tiếng Việt

Khảo sát và phân tích các phương tiện biểu thị tình thái trong giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài được thực hiện dựa trên các giáo trình tiêu biểu từ năm 1980 đến nay, bao gồm các trình độ sơ cấp, trung cấp và cao cấp. Phương pháp nghiên cứu kết hợp phân tích diễn ngôn, phân tích ngữ nghĩa, mô tả, thống kê và so sánh nhằm đánh giá sự phân bố, tần suất sử dụng và cách giải thích các phương tiện tình thái trong từng giáo trình. Kết quả khảo sát giúp nhận diện những điểm mạnh, điểm yếu trong việc xử lý các yếu tố tình thái và đề xuất hướng phân bố hợp lý hơn cho từng trình độ học viên.

3.1. Phương pháp phân tích diễn ngôn và ngữ nghĩa trong khảo sát tình thái

Phân tích diễn ngôn giúp xem xét các phương tiện biểu thị tình thái trong bối cảnh giao tiếp cụ thể, từ đó xác định chức năng và ý nghĩa thực tiễn của chúng. Phân tích ngữ nghĩa tập trung vào mối quan hệ nghĩa giữa các đơn vị từ vựng tình thái, giúp phân loại và quy loại các phương tiện theo nhóm và tiểu nhóm. Sự kết hợp hai phương pháp này tạo nên cái nhìn toàn diện về cách thức biểu thị tình thái trong giáo trình.

3.2. Thống kê và so sánh tần suất sử dụng các phương tiện tình thái trong giáo trình

Việc thống kê số lượng và tần suất xuất hiện của các động từ tình thái, phó từ tình thái, trợ từ tình thái và tiểu từ tình thái trong các phần hội thoại, bài đọc và phần ngữ pháp của giáo trình giúp đánh giá mức độ phổ biến và vai trò của từng loại phương tiện. So sánh giữa các giáo trình ở các trình độ khác nhau cho thấy sự phân bố không đồng đều, từ đó đề xuất điều chỉnh phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy.

IV. Hướng dẫn phương pháp giảng dạy và xử lý phương tiện biểu thị tình thái trong giáo trình tiếng Việt

Để nâng cao hiệu quả giảng dạy các phương tiện biểu thị tình thái trong tiếng Việt cho người nước ngoài, cần áp dụng phương pháp dạy ngữ pháp giao tiếp, kết hợp lý thuyết hành động ngôn từ và lý thuyết giao tiếp. Việc phân bố các phương tiện tình thái cần phù hợp với trình độ học viên, đồng thời chú trọng giải thích ý nghĩa, chức năng và cách sử dụng trong ngữ cảnh cụ thể. Thiết kế các bài tập thực hành đa dạng như bài tập nhận diện, tạo lập và tình huống giúp người học hình thành thói quen sử dụng các yếu tố tình thái một cách tự nhiên và chính xác.

4.1. Áp dụng phương pháp dạy ngữ pháp giao tiếp trong giảng dạy tình thái tiếng Việt

Phương pháp dạy ngữ pháp giao tiếp nhấn mạnh việc kết hợp giữa hình thức ngữ pháp và chức năng sử dụng trong giao tiếp thực tế. Qua đó, người học không chỉ nắm vững cấu trúc mà còn hiểu được cách vận dụng các phương tiện biểu thị tình thái phù hợp với ngữ cảnh và mục đích giao tiếp. Việc này giúp tăng cường năng lực giao tiếp và phản xạ ngôn ngữ của người học.

4.2. Thiết kế bài tập thực hành hiệu quả cho các phương tiện biểu thị tình thái

Các dạng bài tập như nhận diện phương tiện tình thái trong câu, tạo lập câu có sử dụng các yếu tố tình thái, và các tình huống giao tiếp thực tế giúp người học luyện tập và vận dụng kiến thức một cách linh hoạt. Bài tập cần được thiết kế theo từng trình độ, đảm bảo phù hợp với khả năng tiếp thu và phát triển kỹ năng của học viên.

V. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về phương tiện biểu thị tình thái trong giáo trình tiếng Việt

Kết quả nghiên cứu về các phương tiện biểu thị tình thái trong giáo trình tiếng Việt đã góp phần làm rõ sự phân bố, tần suất sử dụng và cách giải thích các yếu tố tình thái trong từng trình độ học viên. Những đề xuất về phân bố hợp lý và phương pháp giảng dạy hiệu quả đã được áp dụng thử nghiệm trong một số cơ sở đào tạo, mang lại kết quả tích cực trong việc nâng cao khả năng giao tiếp và hiểu biết ngôn ngữ của người học. Ngoài ra, nghiên cứu còn hỗ trợ công tác biên soạn tài liệu, từ điển và các công trình so sánh ngôn ngữ.

5.1. Kết quả khảo sát phân bố các phương tiện tình thái trong giáo trình tiếng Việt

Khảo sát cho thấy các động từ tình thái, phó từ tình thái, trợ từ tình thái và tiểu từ tình thái được phân bố không đồng đều trong các giáo trình. Trình độ sơ cấp tập trung vào các phương tiện phổ biến và dễ hiểu, trong khi trình độ cao cấp mở rộng sang các phương tiện phức tạp hơn. Việc phân bố này cần được điều chỉnh để phù hợp hơn với mục tiêu giảng dạy và khả năng tiếp thu của học viên.

5.2. Ứng dụng kết quả nghiên cứu trong biên soạn và giảng dạy giáo trình tiếng Việt

Dựa trên kết quả nghiên cứu, các giáo trình tiếng Việt đã được điều chỉnh để bổ sung phần giải thích rõ ràng hơn về ý nghĩa và cách sử dụng các phương tiện tình thái. Đồng thời, các bài tập thực hành được thiết kế đa dạng và sát với thực tế giao tiếp, giúp người học nâng cao kỹ năng sử dụng tình thái trong ngôn ngữ. Những cải tiến này góp phần nâng cao chất lượng đào tạo tiếng Việt cho người nước ngoài.

VI. Kết luận và triển vọng phát triển phương tiện biểu thị tình thái trong giáo trình tiếng Việt

Phương tiện biểu thị tình thái là yếu tố không thể thiếu trong việc giảng dạy và học tập tiếng Việt, đặc biệt đối với người nước ngoài. Việc nghiên cứu, phân tích và áp dụng các phương tiện này một cách hệ thống và khoa học trong giáo trình giúp nâng cao hiệu quả giao tiếp và hiểu biết văn hóa. Trong tương lai, cần tiếp tục phát triển các phương pháp giảng dạy sáng tạo, tích hợp công nghệ và mở rộng nghiên cứu về các phương tiện tình thái mới, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của người học tiếng Việt trên toàn thế giới.

6.1. Tầm quan trọng của việc phát triển phương tiện biểu thị tình thái trong giáo trình tiếng Việt

Phát triển các phương tiện biểu thị tình thái trong giáo trình không chỉ giúp người học nâng cao khả năng giao tiếp mà còn góp phần bảo tồn và truyền tải giá trị văn hóa đặc trưng của tiếng Việt. Việc này cũng tạo điều kiện cho người học tiếp cận ngôn ngữ một cách toàn diện và sâu sắc hơn.

6.2. Triển vọng nghiên cứu và ứng dụng phương tiện biểu thị tình thái trong tương lai

Triển vọng nghiên cứu bao gồm việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy, phát triển các phần mềm hỗ trợ học tập tình thái, cũng như mở rộng nghiên cứu về các phương tiện tình thái trong các ngữ cảnh giao tiếp đa dạng. Đồng thời, cần tăng cường đào tạo đội ngũ giảng viên có chuyên môn sâu về tình thái để nâng cao chất lượng giảng dạy.

02/09/2025
Luận án tiến sĩ các phương tiện biểu thị tình thái trong các giáo trình dạy tiếng việt cho người nước ngoài

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận án gồm có bốn chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận. Chƣơng 2: Các phƣơng tiện biểu thị tình thái trong tiếng Việt. Chƣơng 3: Khảo sát sự phân bố và xử lí các phƣơng tiện biểu thị tình thái trong các giáo trình dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài. Chƣơng 4: Đề xuất hƣớng phân bố và xử lí phù hợp các phƣơng tiện biểu thị tình thái trong các giáo trình dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài.

11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1. Những nghiên cứu về tình thái trên thế giới Tình thái là một vấn đề rất rộng và phức tạp mà các nhà logic học, ngôn ngữ học đều quan tâm. Các nhà logic học là những ngƣời đi đầu trong nghiên cứu vấn đề tình thái.

Ngay từ thời cổ đại, Aristotle đã bàn về mệnh đề tình thái và gắn tình thái với sự phân loại các phán đoán, các mệnh đề logic dựa trên những đặc trƣng cơ bản của mối liên hệ giữa hai thành phần chủ từ và vị từ, xét ở góc độ phù hợp của phán đoán với thực tế. Đến năm 1932, việc đƣa khái niệm tình thái vào ngôn ngữ học mới đƣợc thể hiện rõ. Bally đã chủ trƣơng phân biệt trong câu hai yếu tố: nội dung biểu thị có tính chất cốt lõi về ngữ nghĩa của câu; thái độ của ngƣời nói đối với nội dung ấy. Trong tác phẩm Linguistique générale et linguistique francaise, Ch.

Bally dùng thuật ngữ dictum để chỉ nội dung cốt lõi của câu và modus hay modalité để chỉ thái độ của ngƣời nói, tức tình thái [Hoàng Tuệ, 2001, tr. Khi bàn về tình thái, nhà ngôn ngữ học Vinogradov cho rằng “tình thái thuộc vào số những phạm trù ngôn ngữ học trung tâm, cơ bản” và xem tình thái nhƣ một phạm trù ngữ pháp độc lập, tồn tại song song với phạm trù vị tính, biểu thị những mối quan hệ khác nhau của thông báo với thực tế. Tác giả còn cho rằng: “Mỗi câu đều mang một ý nghĩa tình thái nhƣ dấu hiệu cấu trúc cơ bản, tức chỉ ra quan hệ đối với hiện thực”. Nội dung thông báo, có thể đƣợc ngƣời nói hiểu nhƣ là hiện thực hay phi hiện thực, là đã tồn tại trong quá khứ, trong hiện tại, hay là điều sẽ đƣợc thực hiện trong tƣơng lai, là điều mà ngƣời nói mong muốn hay đòi hỏi đối với ai đó… Theo cách định nghĩa của Xirotinina, tình thái lại nằm trong vị tính của câu.

Đối với các ngôn ngữ biến hình thì “Thời tính, tình thái tính và ngôi tính nằm trong cấu trúc vị tính và cùng nhau tạo nên cái gọi là vị tính mà nếu thiếu nó thì không thể có thông báo”. Theo quan điểm của Gak, tình thái phản ánh mối quan hệ của ngƣời nói đối với nội dung phát ngôn và nội dung phát ngôn đối với thực tế. Tình thái biểu thị nhân tố chủ quan của phát ngôn; đó là sự khúc xạ của một phân đoạn thực tế qua nhận thức của ngƣời nói. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Liapol thì xem “Tình thái là phạm trù ngữ nghĩa chức năng thể hiện các dạng quan hệ khác nhau của phát ngôn với thực tế cũng nhƣ các dạng đánh giá chủ quan khác nhau đối với điều đƣợc thông báo” [dẫn theo Nguyễn Văn Hiệp, 2012, tr.

Halliday trong tác phẩm An Introduction to Functional Grammar cũng có nhiều ý kiến bàn về tình thái. Một mặt, ông chú trọng vào phạm trù thức (mood), mặt khác, ông đặt ra yêu cầu về việc cần phải xem xét tính tình thái qua việc sử dụng động từ. Với phạm trù động từ, tác giả hi vọng sẽ giải thích đƣợc những gì còn sót lại của tính tình thái mà nếu chỉ dùng riêng khái niệm vị tính thì chƣa giải quyết trọn vẹn. Thành phần thức gồm hai tiểu thành phần: (i) chủ ngữ (subject) là một cụm danh từ, (ii) tác tử hữu định (finite) là một phần của cụm động từ.

Thành phần hữu định là một trong số ít những tác tử động từ biểu đạt thì (tense) (ví dụ: is, has) hay tình thái (ví dụ: can, must). Đặc biệt, Searle đã dùng lí thuyết hành động ngôn từ để thảo luận những vấn đề thức và tình thái. Searle nêu ra năm phạm trù cơ bản của hành động tại lời là: xác quyết, khuyến lệnh, kết ƣớc, tuyên bố và biểu lộ. Cách tiếp cận vấn đề của Searle đã cung cấp một khung ngữ nghĩa rộng lớn cho việc thảo luận các vấn đề về tình thái.

Bởi vì, với cách tiếp cận này thì vai trò của ngƣời nói, với tƣ cách là chủ thể nhận thức, chủ thể tác động trong quan hệ liên nhân đƣợc đặc biệt nhấn mạnh. Lý thuyết hành động ngôn từ là lý thuyết đặc biệt quan tâm đến quan hệ giữa ngƣời nói với những gì đƣợc nói, vì thế lý thuyết này đã trở thành khung để thảo luận những vấn đề của tình thái. Lyons thì cho rằng, tình thái logic đƣợc biểu thị qua khái niệm tính khả năng và tính tất yếu, còn trong ngôn ngữ, tình thái đƣợc nhận thức qua hai phạm trù cơ bản là tình thái nhận thức (epistemic modality) và tình thái đạo nghĩa (deontic modality). Tình thái nhận thức phải đƣợc thể hiện thông qua tính tất yếu và khả năng về tính xác thực của mệnh đề, có liên quan đến tri thức và niềm tin.

Tình thái đạo nghĩa thì có liên quan đến chức năng xã hội của phép tắc hay là nghĩa vụ. Và ông xem tình thái là “thái độ của ngƣời nói đối với nội dung mệnh đề mà câu biểu thị hay các sự tình mà mệnh đề đó miêu tả” [Lyons, 1995, tr. Sự khác nhau trong quan niệm về tình thái nhƣ trên cho thấy tính phức tạp của vấn đề về tình thái. Đồng thời cũng cho thấy cách giải quyết vấn đề nội dung ý nghĩa của tính tình thái có sự khác nhau giữa các tác giả.

Những nghiên cứu về tình thái ở trong nước Trƣớc đây, trong suốt một thời gian dài, tình thái không đƣợc các nhà nghiên cứu trong nƣớc quan tâm và nghiên cứu một cách thấu đáo. Sở dĩ có tình trạng này là vì, 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong suốt một thời gian dài, tình thái đƣợc xem thuộc lĩnh vực lời nói (parole) chứ không thuộc ngôn ngữ (langue) theo quan điểm của Saussure. Vì sự phân biệt rạch ròi giữa parole và langue nên các nhà nghiên cứu ngữ pháp không động tới nó [Hoàng Tuệ, 2001, tr. Hiện nay, các nhà nghiên cứu trong nƣớc đã quan tâm nhiều đến vấn đề tình thái.

Có rất nhiều các bài viết, các chuyên luận nghiên cứu về vấn đề tình thái. Tuy nhiên, hiện nay, trong giới Việt ngữ học chƣa có nhiều công trình tập trung nghiên cứu toàn diện vềvấn đề này. Đồng thời, cách hiểu về tình thái trong giới Việt ngữ học chƣa hoàn toàn thống nhất, thậm chí có sự hiểu lầm. Nhận xét về vấn đề này, Cao Xuân Hạo đã viết: “Hai chữ tình thái nếu có đƣợc sự quan tâm lại thƣờng đi đôi với những định kiến sai lạc.

Sự hiểu lầm phổ biến nhất là nghĩ rằng tình thái là những sắc thái tình cảm, cảm xúc của ngƣời nói trong khi phát ngôn” [Đỗ Hữu Châu – Cao Xuân Hạo, 1995, tr. Điểm qua các bài viết, các công trình nghiên cứu, chúng tôi thấy vấn đề tình thái đƣợc các tác giả đề cập với những mức độ khác nhau, có những khảo sát, phân tích về vấn đề tình thái ở nhiều phƣơng diện khác nhau. Tiêu biểu là các tác giả nhƣ Phan Mạnh Hùng (1982), Hoàng Tuệ(1984, 1988), Nguyễn Minh Thuyết (1986, 1995), Nguyễn Đức Dân (1987, 1998), Lê Đông (1991), Hồ Lê (1992), Cao Xuân Hạo (1991, 1999, 2001, 2002), Phạm Hùng Việt (1996), Nguyễn Văn Hiệp (1994, 1998, 2001, 2002, 2012), v.v… Quan điểm chung của các tác giả này là có sự phân biệt rõ ràng giữa hai phạm trù ngôn liệu và tình thái. Tuy nhiên, khi đi vào từng vấn đề cụ thể, mỗi tác giả lại có những kiến giải khác nhau.

Nguyễn Đức Dân đã bàn về vấn đề logic – tình thái trong tiếng Việt. Sau này, ông đã nêu lên những khái niệm căn bản về tình thái trong logic học. Tác giả cho thấy mối quan hệ giữa logic tình thái và ngôn ngữ, trong đó tính tất yếu và tính có thể đƣợc coi là nền tảng của vấn đề tình thái trong ngôn ngữ [Nguyễn Đức Dân, 1987]. Đến năm 1979, Cao Xuân Hạo đã có bài nghiên cứu đi sâu miêu tả, phân tích những phƣơng diện diễn đạt ý nghĩa tình thái qua việc phân tích tiền giả định và hàm ý của một số vị từ tình thái.

Ông còn nêu lên sự phân biệt rõ ràng giữa tình thái của hành động phát ngôn và tình thái của lời phát ngôn. Tác giả này cũng cho rằng: “Nội dung của bất kỳ một lời phát ngôn nào cũng chứa đựng một tình thái (nếu không phải là kết hợp nhiều lớp tình thái)” [Cao Xuân Hạo, 1991, tr. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hoàng Tuệ(1988) đã nêu ra những nét khái quát về tình thái khi bàn về vấn đề thời, thể và tình thái trong tiếng Việt và khái niệm tình thái. Trong đó, ông phân biệt rạch ròi trong tiếng Việt hai yếu tố khác nhau là ngôn liệu (dictum) và tình thái (modus).

Đỗ Hữu Châu cho rằng, phạm trù tình thái truyền đạt quan hệ giữa nhận thức của ngƣời nói với nội dung của câu và quan hệ của nội dung này với thực tại ngoài ngôn ngữ. Nội dung câu nói có thể đƣợc khẳng định, đƣợc phủ định, đƣợc yêu cầu hay bị cấm đoán, đƣợc cầu mong hay đề nghị, v. Nguyễn Văn Hiệp đã trình bày sự đối lập giữa tình thái và ngôn liệu. Ông viết: “Đối lập cơ bản nhất để hiểu tình thái là đối lập giữa tình thái và ngôn liệu hay nội dung mệnh đề.

Đây là một sự đối lập đƣợc thừa nhận rộng rãi, đƣợc coi là then chốt trong những nghiên cứu về tình thái. Ngôn liệu thực chất là thông tin miêu tả ở dạng tiềm năng, còn tình thái là phần định tính dành cho thông tin miêu tả ấy” [Nguyễn Văn Hiệp, 2012, tr. Phạm Hùng Việt đã có cả một chuyên luận nghiên cứu về trợ từ trong tiếng Việt là Một số đặc điểm chức năng của trợ từ tiếng Việt hiện đại. Trong công trình này, dựa vào những tiêu chí về đặc điểm cú pháp, về ngữ nghĩa – chức năng, tác giả đã đƣa ra một danh sách bao gồm 77 trợ từ tiếng Việt.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ