phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận án gồm có bốn chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận. Chƣơng 2: Các phƣơng tiện biểu thị tình thái trong tiếng Việt. Chƣơng 3: Khảo sát sự phân bố và xử lí các phƣơng tiện biểu thị tình thái trong các giáo trình dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài. Chƣơng 4: Đề xuất hƣớng phân bố và xử lí phù hợp các phƣơng tiện biểu thị tình thái trong các giáo trình dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài.
11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1. Những nghiên cứu về tình thái trên thế giới Tình thái là một vấn đề rất rộng và phức tạp mà các nhà logic học, ngôn ngữ học đều quan tâm. Các nhà logic học là những ngƣời đi đầu trong nghiên cứu vấn đề tình thái.
Ngay từ thời cổ đại, Aristotle đã bàn về mệnh đề tình thái và gắn tình thái với sự phân loại các phán đoán, các mệnh đề logic dựa trên những đặc trƣng cơ bản của mối liên hệ giữa hai thành phần chủ từ và vị từ, xét ở góc độ phù hợp của phán đoán với thực tế. Đến năm 1932, việc đƣa khái niệm tình thái vào ngôn ngữ học mới đƣợc thể hiện rõ. Bally đã chủ trƣơng phân biệt trong câu hai yếu tố: nội dung biểu thị có tính chất cốt lõi về ngữ nghĩa của câu; thái độ của ngƣời nói đối với nội dung ấy. Trong tác phẩm Linguistique générale et linguistique francaise, Ch.
Bally dùng thuật ngữ dictum để chỉ nội dung cốt lõi của câu và modus hay modalité để chỉ thái độ của ngƣời nói, tức tình thái [Hoàng Tuệ, 2001, tr. Khi bàn về tình thái, nhà ngôn ngữ học Vinogradov cho rằng “tình thái thuộc vào số những phạm trù ngôn ngữ học trung tâm, cơ bản” và xem tình thái nhƣ một phạm trù ngữ pháp độc lập, tồn tại song song với phạm trù vị tính, biểu thị những mối quan hệ khác nhau của thông báo với thực tế. Tác giả còn cho rằng: “Mỗi câu đều mang một ý nghĩa tình thái nhƣ dấu hiệu cấu trúc cơ bản, tức chỉ ra quan hệ đối với hiện thực”. Nội dung thông báo, có thể đƣợc ngƣời nói hiểu nhƣ là hiện thực hay phi hiện thực, là đã tồn tại trong quá khứ, trong hiện tại, hay là điều sẽ đƣợc thực hiện trong tƣơng lai, là điều mà ngƣời nói mong muốn hay đòi hỏi đối với ai đó… Theo cách định nghĩa của Xirotinina, tình thái lại nằm trong vị tính của câu.
Đối với các ngôn ngữ biến hình thì “Thời tính, tình thái tính và ngôi tính nằm trong cấu trúc vị tính và cùng nhau tạo nên cái gọi là vị tính mà nếu thiếu nó thì không thể có thông báo”. Theo quan điểm của Gak, tình thái phản ánh mối quan hệ của ngƣời nói đối với nội dung phát ngôn và nội dung phát ngôn đối với thực tế. Tình thái biểu thị nhân tố chủ quan của phát ngôn; đó là sự khúc xạ của một phân đoạn thực tế qua nhận thức của ngƣời nói. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Liapol thì xem “Tình thái là phạm trù ngữ nghĩa chức năng thể hiện các dạng quan hệ khác nhau của phát ngôn với thực tế cũng nhƣ các dạng đánh giá chủ quan khác nhau đối với điều đƣợc thông báo” [dẫn theo Nguyễn Văn Hiệp, 2012, tr.
Halliday trong tác phẩm An Introduction to Functional Grammar cũng có nhiều ý kiến bàn về tình thái. Một mặt, ông chú trọng vào phạm trù thức (mood), mặt khác, ông đặt ra yêu cầu về việc cần phải xem xét tính tình thái qua việc sử dụng động từ. Với phạm trù động từ, tác giả hi vọng sẽ giải thích đƣợc những gì còn sót lại của tính tình thái mà nếu chỉ dùng riêng khái niệm vị tính thì chƣa giải quyết trọn vẹn. Thành phần thức gồm hai tiểu thành phần: (i) chủ ngữ (subject) là một cụm danh từ, (ii) tác tử hữu định (finite) là một phần của cụm động từ.
Thành phần hữu định là một trong số ít những tác tử động từ biểu đạt thì (tense) (ví dụ: is, has) hay tình thái (ví dụ: can, must). Đặc biệt, Searle đã dùng lí thuyết hành động ngôn từ để thảo luận những vấn đề thức và tình thái. Searle nêu ra năm phạm trù cơ bản của hành động tại lời là: xác quyết, khuyến lệnh, kết ƣớc, tuyên bố và biểu lộ. Cách tiếp cận vấn đề của Searle đã cung cấp một khung ngữ nghĩa rộng lớn cho việc thảo luận các vấn đề về tình thái.
Bởi vì, với cách tiếp cận này thì vai trò của ngƣời nói, với tƣ cách là chủ thể nhận thức, chủ thể tác động trong quan hệ liên nhân đƣợc đặc biệt nhấn mạnh. Lý thuyết hành động ngôn từ là lý thuyết đặc biệt quan tâm đến quan hệ giữa ngƣời nói với những gì đƣợc nói, vì thế lý thuyết này đã trở thành khung để thảo luận những vấn đề của tình thái. Lyons thì cho rằng, tình thái logic đƣợc biểu thị qua khái niệm tính khả năng và tính tất yếu, còn trong ngôn ngữ, tình thái đƣợc nhận thức qua hai phạm trù cơ bản là tình thái nhận thức (epistemic modality) và tình thái đạo nghĩa (deontic modality). Tình thái nhận thức phải đƣợc thể hiện thông qua tính tất yếu và khả năng về tính xác thực của mệnh đề, có liên quan đến tri thức và niềm tin.
Tình thái đạo nghĩa thì có liên quan đến chức năng xã hội của phép tắc hay là nghĩa vụ. Và ông xem tình thái là “thái độ của ngƣời nói đối với nội dung mệnh đề mà câu biểu thị hay các sự tình mà mệnh đề đó miêu tả” [Lyons, 1995, tr. Sự khác nhau trong quan niệm về tình thái nhƣ trên cho thấy tính phức tạp của vấn đề về tình thái. Đồng thời cũng cho thấy cách giải quyết vấn đề nội dung ý nghĩa của tính tình thái có sự khác nhau giữa các tác giả.
Những nghiên cứu về tình thái ở trong nước Trƣớc đây, trong suốt một thời gian dài, tình thái không đƣợc các nhà nghiên cứu trong nƣớc quan tâm và nghiên cứu một cách thấu đáo. Sở dĩ có tình trạng này là vì, 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong suốt một thời gian dài, tình thái đƣợc xem thuộc lĩnh vực lời nói (parole) chứ không thuộc ngôn ngữ (langue) theo quan điểm của Saussure. Vì sự phân biệt rạch ròi giữa parole và langue nên các nhà nghiên cứu ngữ pháp không động tới nó [Hoàng Tuệ, 2001, tr. Hiện nay, các nhà nghiên cứu trong nƣớc đã quan tâm nhiều đến vấn đề tình thái.
Có rất nhiều các bài viết, các chuyên luận nghiên cứu về vấn đề tình thái. Tuy nhiên, hiện nay, trong giới Việt ngữ học chƣa có nhiều công trình tập trung nghiên cứu toàn diện vềvấn đề này. Đồng thời, cách hiểu về tình thái trong giới Việt ngữ học chƣa hoàn toàn thống nhất, thậm chí có sự hiểu lầm. Nhận xét về vấn đề này, Cao Xuân Hạo đã viết: “Hai chữ tình thái nếu có đƣợc sự quan tâm lại thƣờng đi đôi với những định kiến sai lạc.
Sự hiểu lầm phổ biến nhất là nghĩ rằng tình thái là những sắc thái tình cảm, cảm xúc của ngƣời nói trong khi phát ngôn” [Đỗ Hữu Châu – Cao Xuân Hạo, 1995, tr. Điểm qua các bài viết, các công trình nghiên cứu, chúng tôi thấy vấn đề tình thái đƣợc các tác giả đề cập với những mức độ khác nhau, có những khảo sát, phân tích về vấn đề tình thái ở nhiều phƣơng diện khác nhau. Tiêu biểu là các tác giả nhƣ Phan Mạnh Hùng (1982), Hoàng Tuệ(1984, 1988), Nguyễn Minh Thuyết (1986, 1995), Nguyễn Đức Dân (1987, 1998), Lê Đông (1991), Hồ Lê (1992), Cao Xuân Hạo (1991, 1999, 2001, 2002), Phạm Hùng Việt (1996), Nguyễn Văn Hiệp (1994, 1998, 2001, 2002, 2012), v.v… Quan điểm chung của các tác giả này là có sự phân biệt rõ ràng giữa hai phạm trù ngôn liệu và tình thái. Tuy nhiên, khi đi vào từng vấn đề cụ thể, mỗi tác giả lại có những kiến giải khác nhau.
Nguyễn Đức Dân đã bàn về vấn đề logic – tình thái trong tiếng Việt. Sau này, ông đã nêu lên những khái niệm căn bản về tình thái trong logic học. Tác giả cho thấy mối quan hệ giữa logic tình thái và ngôn ngữ, trong đó tính tất yếu và tính có thể đƣợc coi là nền tảng của vấn đề tình thái trong ngôn ngữ [Nguyễn Đức Dân, 1987]. Đến năm 1979, Cao Xuân Hạo đã có bài nghiên cứu đi sâu miêu tả, phân tích những phƣơng diện diễn đạt ý nghĩa tình thái qua việc phân tích tiền giả định và hàm ý của một số vị từ tình thái.
Ông còn nêu lên sự phân biệt rõ ràng giữa tình thái của hành động phát ngôn và tình thái của lời phát ngôn. Tác giả này cũng cho rằng: “Nội dung của bất kỳ một lời phát ngôn nào cũng chứa đựng một tình thái (nếu không phải là kết hợp nhiều lớp tình thái)” [Cao Xuân Hạo, 1991, tr. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hoàng Tuệ(1988) đã nêu ra những nét khái quát về tình thái khi bàn về vấn đề thời, thể và tình thái trong tiếng Việt và khái niệm tình thái. Trong đó, ông phân biệt rạch ròi trong tiếng Việt hai yếu tố khác nhau là ngôn liệu (dictum) và tình thái (modus).
Đỗ Hữu Châu cho rằng, phạm trù tình thái truyền đạt quan hệ giữa nhận thức của ngƣời nói với nội dung của câu và quan hệ của nội dung này với thực tại ngoài ngôn ngữ. Nội dung câu nói có thể đƣợc khẳng định, đƣợc phủ định, đƣợc yêu cầu hay bị cấm đoán, đƣợc cầu mong hay đề nghị, v. Nguyễn Văn Hiệp đã trình bày sự đối lập giữa tình thái và ngôn liệu. Ông viết: “Đối lập cơ bản nhất để hiểu tình thái là đối lập giữa tình thái và ngôn liệu hay nội dung mệnh đề.
Đây là một sự đối lập đƣợc thừa nhận rộng rãi, đƣợc coi là then chốt trong những nghiên cứu về tình thái. Ngôn liệu thực chất là thông tin miêu tả ở dạng tiềm năng, còn tình thái là phần định tính dành cho thông tin miêu tả ấy” [Nguyễn Văn Hiệp, 2012, tr. Phạm Hùng Việt đã có cả một chuyên luận nghiên cứu về trợ từ trong tiếng Việt là Một số đặc điểm chức năng của trợ từ tiếng Việt hiện đại. Trong công trình này, dựa vào những tiêu chí về đặc điểm cú pháp, về ngữ nghĩa – chức năng, tác giả đã đƣa ra một danh sách bao gồm 77 trợ từ tiếng Việt.