Chương 1: Cơ sở lý luận và lịch sử thành, phát triển hệ thống Thiền viện trúc lâm. Chương 2: Thực hành pháp tu thiền trong hệ thống Thiền viện Trúc Lâm hiện nay. Chương 3: Một số nhận định và vấn đề đặt ra. 11 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ THÀNH, PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG THIỀN VIỆN TRÖC LÂM 1.
Lý luận chung về thiền tông và Thiền phái Trúc Lâm 1. Thiền tông Thiền tông là thuật ngữ chỉ một tông phái tu Thiền thuộc Phật giáo Bắc truyền ra đời tại Trung Hoa khoảng thế kỷ VI SCN do Bồ Đề Đạt Ma sáng lập (còn được gọi là Đạt Ma tông hay Phật tâm tông). Đây là một trong nhiều tông phái Phật giáo phát triển mạnh trên đất Trung Hoa, có sự ảnh hưởng sâu rộng nhất bắt đầu từ sau thời Trung Đường. Theo Thiền sử Trung Hoa, từ Sơ tổ Bồ Đề Đạt Ma truyền đến Ngũ tổ Hoàng Nhẫn đời thứ 5, có hai vị đệ tử là Thần Tú và Huệ Năng phát triển thành hai dòng, truyền bá về phương Nam và phương Bắc Trung Hoa: - Thiền phái Tiệm ngộ, do Thần Tú (605-706) chủ trương, lưu truyền về phía Bắc Trung Hoa, nên còn được gọi là Thiền Bắc tông.
Sư hoằng dương Thiền học ở kinh thành Trường An - Tây Kinh và Lạc Dương - Đông Kinh, được ba đời vua nhà Đường (Vũ Tắc Thiên, Đường Trung Tông, Đường Duệ Tông) vô cùng kính trọng, thỉnh sư vào ở trong Đạo trường tự viện của Hoàng gia. Người đời tôn xưng sư là “Lưỡng kinh pháp chủ, tam đế môn sư”. Trong thời truyền pháp của sư rất được giai cấp thống trị kính ngưỡng ủng hộ. Nhưng sau khi sư viên tịch, Thiền phái này chỉ truyền thêm vài thế hệ rồi nhanh chóng suy vi.
- Thiền phái Đốn ngộ, do Lục tổ Huệ Năng (638-713) truyền bá về phía Nam (vùng Lĩnh Nam) Trung Quốc, nên được gọi là Thiền Nam tông. Theo lịch sử Thiền tông, sư Huệ Năng mới chính thức được Ngũ tổ Hoằng Nhẫn truyền y bát, làm Tổ thứ 6 của Thiền tông Trung Hoa,“Canh ba thọ pháp, người trọn không biết, Tổ liền truyền pháp đốn giáo và y bát, nói rằng: “Ngươi là vị Tổ đời thứ sáu, khéo tự hộ niệm, rộng độ chúng hữu tình, truyền khắp đời sau, không khiến cho đoạn tuyệt.19] Về sau Lục tổ hoằng pháp tại Chùa Bảo Lâm ở 12 Tào Khê, Thiều Dương, học chúng đông đảo, hưng thịnh một thời. Trong Pháp hội của Tổ xuất hiện nhiều vị thiền sư xuất cách: Thần Hội, Thanh Nguyên Hành Tư, Nam Nhạc Hoài Nhượng,. đã kế tục xiển dương Thiền tông, và về sau phát triển thành “Ngũ gia Thất tông” (Quy Ngưỡng, Lâm Tế, Tào Động, Vân Môn, Pháp Nhãn và hai phái Hoàng Long và Dương Kì xuất phát từ tông Lâm Tế).
Đến giai đoạn này, Thiền tông bước vào thời kỳ cực thịnh, truyền bá rộng khắp Trung Hoa; và còn phát triển sang các nước khu vực Đông Á trong đó có Việt Nam. Theo lịch sử Phật giáo, Thiền tông Trung Hoa bắt nguồn từ Ấn Độ, qua câu chuyện thiền “Niêm hoa vi tiếu”:“Tại hội Linh Sơn, Đức Phật cầm một hoa sen đưa ra trước đại chúng xem, toàn thể đại chúng không một ai hiểu ý gì, tất cả đều lặng thinh, trừ Ngài Ca Diếp (Kasyapa) mỉm cười. Phật bảo: nầy Ca Diếp, Ta có chánh pháp mầu nhiệm, không dùng văn tự là giáo lý truyền riêng, vậy ngươi cẩn thận gìn giữ chánh pháp này, và sau sẽ truyền lại cho A Nan chớ cho đoạt tuyệt.” [111] Cho đến nay, tính theo phả hệ truyền thừa, Bồ Đề Đạt Ma được xem là Tổ thứ 28 của dòng Thiền Phật giáo Ấn Độ và là Sơ tổ của dòng Thiền tông Phật giáo Trung Hoa. Nhưng học giả D.
Suzuki lại cho rằng: “Huệ Năng mới chính thức là tổ sư khai sáng Thiền Trung Hoa, chính vì sư và môn đồ trực tiếp của sư tước bỏ được lớp áo mượn ở Ấn, và bắt đầu khoác lên cho thiền một lớp áo mới may cắt theo kích thước Trung Hoa.167] Thực tế là, từ sau Lục tổ Huệ Năng Thiền tông mới thật sự phát triển mạnh, phân phái và truyền bá rộng khắp, trở thành phong trào Thiền học rầm rộ liên tục suốt mấy thế kỷ tại Trung Quốc. Về pháp tu của Thiền tông Trung Hoa, theo Thiền sử, Tổ Bồ Đề Đạt Ma sang Trung Hoa truyền giáo trên khế cơ: “Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm kiến tánh thành Phật” (Không lập văn tự, truyền riêng ngoài giáo, nhìn thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật). Bài kệ này về sau được xem như là yếu chỉ của Thiền tông. Thực tế tại các pháp hội Thiền tông Trung Hoa, các thiền sư thường chỉ dạy người học bằng những cách thức kỳ lạ đến mức thô thiển, khó hiểu (la hét, 13 chửi mắng, đánh, đạp…) chứ không giảng giải kinh điển; thậm chí nhìn nhiều vị thiền sư có vẻ ngoài không giống như những bậc tu hành đạo đức, mà trông có vẻ hung bạo, thô tháo… Nhưng cũng chính từ trong những kỳ lạ đó mà trong lịch sử Thiền tông lại không ngừng xuất hiện những bậc thiền sư lỗi lạc tiếp truyền, phát triển mạng mạch Thiền tông qua nhiều thế kỷ.
Cũng vì vậy mà “Một ít học giả cho Thiền tông là quái thai của Phật giáo. Về điểm này Hòa thượng Thích Thanh Từ đã giải thích: Đó là kẻ đứng ở cổng ngoài Thiền tông, nếu là người vào trong nhà thiền sẽ nói khác, Thiền tông là cốt tủy của Phật giáo. Bởi vì muốn chỉ chân lý hiện hữu nơi con người, song ngại người ta khinh thường và dễ quên, nên kinh Đại thừa nói bằng cách diễn giảng trên trời dưới đất đâu đâu, còn thiền sư dùng thuật xuất quỷ nhập thần khiến người ta mờ mịt không hiểu. Nếu ai tháo gỡ được cây chốt bí mật đó rồi, tự nhiên thấy nó chân thật bình dị vô cùng.
Chừng đó mới thấy kinh và thiền không có hai lối. Tuy nhiên Thiền tông luôn tuyên bố giáo ngoại biệt truyền, cốt dẫn hành giả thấy đến nơi sống chân thật, không mắc kẹt trên văn tự ngôn ngữ, không chết chìm trong suy tư lý luận [6, tr. Qua những trình bày trên, chúng tôi xin được đưa ra khái niệm về Thiền tông như sau: “Thiền tông là một tông phái Phật giáo tu theo pháp môn “Thiền định”, nhưng là pháp thiền trực nhận bản tâm, lấy việc kiến tánh, khởi tu làm yếu chỉ tu hành. Và trong quá trình tiến tu, Thiền tông không chủ trương học hiểu kinh điển vì cho rằngchỉ làm tăng thêm kiến giải (vọng tưởng), gây trở ngại cho công phu tu tập.” Pháp tu Thiền của Thiền tông khác với Pháp tu Thiền Nguyên thủy (Minh sát tuệ, Tứ niệm xứ…) hay của Đại thừa (Lục diệu pháp môn, Pháp hoa tam muội, Niệm Phật tam muội…), sự khác biệt rõ nhất chính là lối tu của Thiền tông trực tiếp ngay nơi tâm (trực chỉ nhân tâm) không dựa trên kinh điển như hai lối Thiền Nguyên thủy và Thiền Đại thừa.
Thiền học Phật giáo Việt Nam và Thiền phái Trúc Lâm đời Trần Xét về ngọn nguồn truyền bá Phật giáo vào đất Việt, chỉ có thể biết được qua các thư tịch và dấu vết của các công trình kiến trúc cổ. Ta thấy Phật giáo 14 được truyền vào Việt Nam từ rất sớm, tuy nhiên về niên đại cụ thể cùng với những nhà sư thuộc hệ phái nào của Phật giáo vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Đến nay tạm thời ghi nhận khoảng thế kỷ II SCN, với tên tuổi của vài nhà sư: Ma Ha Kỳ Vực, Khương Tăng Hội, Mâu bát và Chi Cương Lương. Tuy từ đầu công nguyên Phật giáo đã vào đất Việt, nhưng hệ thống truyền thừa không rõ ràng.
Lược qua sự du nhập Phật Giáo vào Việt Nam cho đến Triều Lý, ta thấy có các dòng Phật giáo như sau: Các dòng Phật giáo từ đầu công nguyên (?); dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi; dòng Vô Ngôn Thông; dòng Thảo Đường. Trường phái Thiền Vinilaruchi (580-1213) Người sáng lập Trường phái này là Thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi (Vinilaruchi), người Nam Thiên Trúc, dòng dõi Bà la môn, đắc pháp với Tam tổ Tăng Xán của Thiền tông Trung Hoa vào năm 547. Theo sự chỉ dạy của Tổ Tăng Xán “Ngươi mau đi về phương Nam mà giao tiếp, không nên nấn ná ở vùng này” [62,Tr.150], Sư vào nước ta truyền pháp năm 580, ở chùa Pháp Vân (còn gọi chùa Dâu, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) đến năm 594 thì mất tại đây. Đệ tử nối pháp của Sư là Thiền sư Pháp Hiền.
Về sau Thiền phái này tiếp tục được truyền thừa đến đời thứ 18. Sư đã phiên dịch gồm các bộ kinh: kinh Tượng Đầu, kinh Nghiệp báo sai biệt, kinh Tổng Trì. Nhìn chung đây là một trường phái Thiền nhưng chịu ảnh hưởng nhiều yếu tố của Mật giáo. Điều này cũng dễ hiểu, vì Sư là một nhà sư gốc Ấn, hơn nữa vào thời của Sư là giai đoạn Mật tông đang phát triển mạnh (Sau thời kỳ Bát Nhã và Duy Thức, thời kỳ Mật tông bắt đầu phát triển từ thế kỷ thứ IV đến thế kỷ VIII được hệ thống hóa thành Kim Cương Thừa, bao gồm nhiều hệ thống Mật giáo), nên quá trình tu học của Sư không khỏi tiếp thu nhiều tư tưởng và cách hành trì theo Mật tông.
Thế nhưng con đường đạt đạo của Sư lại từ Thiền tông Trung Hoa. Vì vậy, dù khi sang Việt Nam truyền bá Thiền tông, nhưng dòng Thiền của Sư vừa mang đậm màu sắc Phật giáo Ấn Độ, lại vừa chứa đựng những huyền linh của Mật giáo (Bùa chú, chữa bệnh, sấm vĩ, phong thủy…), cả hai yếu tố này được xem như là phương tiện bổ trợ cho quá trình truyền bá. Nhưng vô hình 15 trung lại rất phù hợp với sinh hoạt tín ngưỡng và phong tục dân gian của người Việt, vì vậy mà Thiền phái này đã nhanh chóng lan tỏa và gần như bao trùm mọi tín ngưỡng dân gian trong lòng nó. Về sau này các đệ tử kế tiếp của Thiền phái hầu hết đều giỏi về pháp thuật như trong Thiền uyển tập anh đều có ghi lại hành trạng các ngài (La Quý, Pháp Thuận, Mahamaya, Sùng Phạm, Vạn Hạnh, Đạo Hạnh…).
Đặc biệt là câu truyện Thiền sư La Quý giải trừ việc cắt yểm long mạch của Cao Biền, như là biện pháp nhằm ngăn chặn các bậc anh tài, đế vương được sản sinh trên đất Việt trong chủ trương Hán hóa của Trung Hoa; và truyện Thiền sư Vạn Hạnh dùng thuật sấm vĩ giúp thay đổi triều đại từ Lê sang Lý. Qua đó cho thấy sức ảnh hưởng mạnh mẽ của Phật giáo đối với Đại Việt không chỉ ở nhân gian giáo hóa đạo đức mà cả ở chính trường.