MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Năng lƣợng là một nhân tố cực kỳ quan trọng đối với mỗi quốc gia. Việt Nam đang trên con đƣờng phát triển để trở thành một nƣớc công nghiệp hiện đại, để đạt đƣợc kết quả đó chúng ta cần có một cơ sở hạ tầng kỹ thuật phát triển nhƣ giao thông, điện, thủy lợi, hạ tầng đô thị. Hiện nay tỷ lệ thủy điện và nhiệt điện chiếm tỷ trọng lớn, song dần dần nguồn năng lƣợng sạch khác nhƣ năng lƣợng mặt trời, năng lƣợng gió sẽ phát triển, kể cả điện hạt nhân.
Tuy nhiên, Việt Nam là một nƣớc vừa thoát nghèo, bƣớc vào nhóm những nƣớc có thu nhập trung bình thấp, do vậy nguồn vốn của nhà nƣớc không đủ đáp ứng cho yêu cầu phát triển trên. Chính vì vậy, việc phát triển thủy điện vẫn đƣợc ƣu tiên phát triển hàng đầu vì nguồn thủy năng rất dồi dào và hình thức huy động vốn theo phƣơng thức xã hội hóa đầu tƣ có sự hỗ trợ của nhà nƣớc đã đƣợc sự hƣởng ứng mạnh mẽ của nhiều tổ chức cá nhân trong cả nƣớc. Chỉ trong thời gian khoảng hai thập kỷ chiến lƣợc phát triển thủy điện cơ bản đã thực hiện thành công ở Việt Nam. Đây là thành tựu mà ít nƣớc trên thế giới có thể làm đƣợc.
Cụ thể nhƣ nhũng hình thức đầu tƣ nhƣ BOT, BOO, liên doanh đƣợc áp dụng rộng rãi trong xây dựng thủy điện. Theo số liệu của Bộ Công Thƣơng tính đến nay cả nƣớc đã có 216 dự án thủy điện vừa và nhỏ đăng ký đầu tƣ với tổng công suất 4.067MW, chƣa kể các dự án đăng ký ở các địa phƣơng dƣới hình thức BOO. Năm 2011, theo thống kê sản lƣợng điện sản xuất toàn hệ thống ở Việt Nam của Tập đoàn điện lực Việt Nam công bố năm 2012, sản lƣợng điện phát ra từ các nhà máy thủy điện vừa và nhỏ đạt mức 7,845 tỉ Kwh, chiếm 19% tổng lƣợng điện phát ra từ nguồn thủy điện, chiếm trên 7% sản lƣợng điện toàn hệ thống và đạt 45% trữ năng kinh tế của thủy điện vừa và nhỏ. Tuy vậy, sau một thời gian triển khai thực hiện, những dự án thủy điện vừa và nhỏ đã bộc lộ nhiều khó khăn, hạn chế từ phía các chủ đầu tƣ mà nguyên nhân chủ yếu là do tình trạng thiếu vốn cho các dự án.
Sự trắc trở trên cho thấy là các nhà đầu tƣ chƣa lƣờng hết những rủi ro khi thực hiện dự án. Biểu hiện rõ nhất là hiện có khá nhiều dự án thủy điện vừa và nhỏ chậm tiến n n n p -CS2 n 2 n n độ so với dự kiến ban đầu, đặc biệt một số lƣợng các dự án thủy điện vừa và nhỏ bị loại khỏi quy hoạch trong thời gian qua. Vì vậy tác giả luận văn chọn đề tài“ Nghiên cứu phương pháp xác định tổng mức đầu tư có tính yếu tố rủi ro về mặt tài chính khi thực hiện dự án thủy điện Sông Lũy” nhằm giúp các chủ đầu tƣ nhận diện các yếu tố rủi ro và phƣơng pháp giải quyết vấn đề trên. Đề tài hệ thống hóa cơ sở lý thuyết tài chính, lý thuyết rủi ro, các công cụ toán học, các phần mềm để xây dựng phƣơng pháp xác định tổng mức đầu tƣ xây dựng công trình khi có xét rủi ro.
Đề tài đƣa ra phƣơng pháp xác định tổng mức đầu tƣ xây dựng công trình thủy điện khi có xét rủi ro, giúp các nhà đầu tƣ đƣa ra các quyết định, cách thức, quy mô đầu tƣ, và những kiến nghị đối với nhà nƣớc khi tham gia vào các dự án thủy điện. Mục đích của đề tài Xác định đƣợc các yếu tố rủi ro về tài chính chủ yếu khi thực hiện dự án thủy điện vừa và nhỏ Xây dựng đƣợc phƣơng pháp lập tổng mức đầu tƣ khi xét đến các yếu tố rủi ro về mặt tài chính Áp dụng phƣơng pháp lập tổng mức đầu tƣ khi xét đến các yếu tố rủi ro về mặt tài chính vào dự án thủy điện Sông Lũy 3. Cách tiếp cận và phƣơng pháp nghiên cứu Các phƣơng pháp đƣợc sử dụng trong luận văn này là dựa trên việc nghiên cứu các văn bản pháp luật của nhà nƣớc về quản lý chi phí đầu tƣ xây dựng công trình, các lý thuyết về rủi ro, lý thuyết về tài chính. Sau đó lấy mẫu quan sát và sử dụng công cụ toán học để phân tích.
Dựa trên số liệu đƣợc thu thập và xử lý theo tiêu chuẩn chuyên ngành, áp dụng mô hình lý thuyết, tiếp thu ý kiến của chuyên gia, sử dụng các phần mềm phù hợp để phân tích, đánh giá kết quả và đối chiếu với mục tiêu đề ra, từ đó đề xuất biện pháp cải thiện và nâng cao độ chính xác của phƣơng pháp xác định tổng mức đầu tƣ của dự án. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 4.Đối tƣợng nghiên cứu Phƣơng pháp xác định tổng mức đầu tƣ xây dựng công trình có tính đến yếu tố rủi ro 4.Phạm vi nghiên cứu Đề tài tập trung vào các vấn đề rủi ro về mặt tài chính của các dự án thủy điện vừa và nhỏ khi thực hiện đầu tƣ. Kết quả dự kiến đạt đƣợc Nhận dạng, đánh giá, phân tích đƣợc các yếu tố rủi ro về tài chính thƣờng xảy ra đối với các dự án thủy điện vừa và nhỏ. Từ đó đƣa ra các giải pháp tăng cƣờng khả năng quản lý rủi ro.
Phƣơng pháp lập tổng mức đầu tƣ có tính đến yếu tố rủi ro về mặt tài chính khi thực hiện các dự án thủy điện vừa và nhỏ. Xác định đƣợc tổng mức đầu tƣ của dự án thủy điện Sông Lũy khi xét đến các yếu tố rủi ro về tài chính, kết quả của đề tài là cơ sở để chủ đầu tƣ lập kế hoạch và quản lý vốn khi thực hiện đầu tƣ xây dựng công trình. n n n p -CS2 n 4 n n CHƢƠNG 1:TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU TƢXÂY DỰNG CÁC DỰ ÁN THỦY ĐIỆN Ở VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 1. Ý nghĩa phát triển nguồn năng lƣợng thủy điện ở Việt Nam Nƣớc ta nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, có lƣợng mƣa trung bình năm khoảng 1.000mm và hệ thống sông, suối khá phong phú, đƣợc phân bố tƣơng đối đều trên địa bàn cả nƣớc.
Do đặc điểm địa hình, các sông, suối thuộc khu vực miền núi phía Bắc, Trung Trung Bộ và Tây Nguyên là nguồn thủy năng dồi dào và đây là điều kiện thuận lợi để phát triển thủy điện. Một số hồ chứa thủy điện ngoài mục đích cung cấp nguồn thủy năng cho nhà máy thủy điện (NMTĐ) còn tham gia chống lũ (các hồ chứa thủy điện Sơn La, Hòa Bình, Tuyên Quang, Thác Bà.) hoặc cắt đỉnh lũ, làm giảm lƣu lƣợng lũ về hạ du (các hồ chứa thủy điện A Vƣơng, Bản Vẽ, Đồng Nai 3.) trong mùa mƣa và cung cấp nƣớc cho vùng hạ du vào mùa khô. Theo tính toán trữ năng kinh tế ƣớc đạt 80 - 100 tỉ kWh/năm. Trong những năm qua, các nguồn thủy điện nói chung giữ một vai trò quan trọng trong hệ thống điện.
Điện năng sản xuất từ các nguồn thủy điện năm 2009 chiếm 34,4% tổng điện năng sản xuất của toàn hệ thống, năm 2010 là 27,5%, năm 2011 là 38%, năm 2012 là 38,8% và năm 2013 là 44,5%. Với lợi thế rất lớn về giá thành khá thấp (so với các nguồn cung cấp điện khác nhƣ nhiệt điện, phong điện, điện sinh khối.), các nguồn thủy điện vẫn tiếp tục đóng góp rất lớn cho ngành điện của Việt nam. Thống kê sản lƣợng điện sản xuất và mua của Tập đoàn điện lực Việt Nam từ năm 2009 đến năm 2013 Đơn vị Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Tổng điện lƣợng sản xuất Tỉ kWh 87,019 100,071 108,725 117,8 127,84 toàn hệ thống Thủy điện Tỉ kWh 29,977 27,550 40,924 45,7 56,943 Chiếm tỉ lệ % 34,4 27,5 38,0 38,8 44,5 (N ồn n â m đ ề độ ệ ố n đ ện ố , p đoàn đ ện lự V ệ N m ) Ngày 21/72101 Thủ tƣớng Chính phủ đã ký Quyết định số 1208/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011-2020 có xét đến năm n n n p -CS2 n 5 n n 2030 (Quy hoạch điện VII), dự báo nhu cầu điện năm 2015 khoảng 194- 210 tỷ kWh, năm 2020 khoảng 330-362 tỷ kWh, năm 2030 khoảng 695-834 tỷ kWh. Theo Quy hoạch điện VII cơ cấu nguồn điện năm 2020: Tổng công suất các nhà máy điện khoản 75.000MW trong đó: Thủy điện chiếm 23,1%, thủy điện tích năng 2,4%, nhiệt điện than chiếm 48,0%, nhiệt điện khí đốt 16,5%, nguồn điện sử dụng năng lƣợng tái tạo 5,6%, điện hạt nhân 1,3% và nhập khẩu điện 3,1%.
Định hƣớng đến năm 2030: Tổng công suất các nhà máy điện khoản 146.800MW trong đó: Thủy điện chiếm 11,8%, thủy điện tích năng 3,9%, nhiệt điện than chiếm 41,6%, nhiệt điện khí đốt 11,8%, nguồn điện sử dụng năng lƣợng tái tạo 9,4%, điện hạt nhân 6,6% và nhập khẩu điện 4,9%. Đặc điểm về đầu tƣ xây dựng các dự án thủy điện(DATĐ) Việt Nam có diện tích 330.991 km2, trong đó đồi núi và cao nguyên chiếm 4/5 diện tích. Nƣớc Việt Nam hình chữ S chạy dài 1630 km từ cực bắc đến cực nam, chiều rộng lớn nhất ở miền Bắc là 600 km, ở miền Nam là 370 km, chỗ hẹp nhất ở miền Trung tại tỉnh Quảng Bình (thị xã Đồng Hới) là 50 km. Ngoài ra Việt Nam nằm ở vùng nhiệt đới gió mùa, mƣa nhiều, nóng và ẩm.
Lƣợng mƣa trung bình hàng năm khoảng 2000 mm. Lƣợng mƣa rơi nhiều nhất đạt tới 4000 - 5000 mm, nơi mƣa thấp nhất cũng đạt trên 1000 mm. Mùa mƣa trong năm thƣờng từ 3 - 5 tháng. Ở miền Bắc, miền Nam và Tây Nguyên, mùa mƣa thƣờng bắt đầu từ tháng 5, 6 và kết thúc vào tháng 10, 11.
Ở khu vực Đông Trƣờng Sơn và vùng duyên hải miền Trung mùa mƣa bắt đầu chậm hơn 2, 3 tháng và vùng khu 4 cũ (từ Quy Nhơn - Nghệ Tĩnh), mùa mƣa bắt đầu chậm hơn 1, 2 tháng. Lƣợng mƣa tập trung vào 3 tháng có mƣa nhiều nhất, chiếm khoảng 70 - 80% tổng lƣợng mƣa trong năm. Hệ thống sông ngòi Việt Nam có mật độ cao, tổng số các con sông có chiều dài lớn hơn 10 km là 2400. Hầu hết sông ngòi Việt Nam đều đổ ra biển Đông.
Hàng năm, mạng lƣới sông suối Việt Nam vận chuyển ra biển lƣợng nƣớc 870 km3/năm, tƣơng ứng với lƣu lƣợng bình quân khoảng 37.500 m3/s, rất thuận lợi cho việc phát triển các nhà máy thủy điện.