Chương 1: Tổng quan về RRTD trong cho vay đối với ngành cao su. Chương 2: Thực trạng RRTD trong cho vay đối với ngành cao su của các NHTM trên địa bàn Tỉnh Bình Phước giai đoạn năm 2011 - 2014. Chương 3: Một số giải pháp nhằm hạn chế RRTD trong cho vay đối với ngành cao su trên địa bàn Tỉnh Bình Phước. z 1 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY ĐỐI VỚI NGÀNH CAO SU 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG VÀ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Những vấn đề chung về hoạt động tín dụng 1. Khái niệm tín dụng ngân hàng Tín dụng là một trong những hoạt động chủ yếu, là chức năng kinh tế hàng đầu của các NHTM nhằm tài trợ vốn cho các cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế để đáp ứng nhu cầu đầu tư, kinh doanh, tiêu dùng…. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu vốn đối với các thành phần kinh tế trong xã hội ngày càng tăng, hoạt động tín dụng của các NHTM lại ngày một cần thiết hơn.
Theo Điều 20 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì “Hoạt động tín dụng là việc Tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, vốn huy động để cấp tín dụng”. Căn cứ theo Điều 49 của Luật này về “Cấp tín dụng” thì Tổ chức tín dụng được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của NHNN. Như vậy, tín dụng là một quan hệ kinh tế trong đó có sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (hình thái tiền tệ hay hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian thu về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu với những điều kiện mà hai bên thỏa thuận. Tín dụng NH là quan hệ tín dụng bằng tiền tệ giữa một bên là NH với một bên là các tổ chức, cá nhân trong xã hội; trong đó NH giao quyền sử dụng tiền cho họ với những điều kiện nhất định mà hai bên thỏa thuận.
Bản chất tín dụng z 2 Từ khái niệm trên, chúng ta có thể nói rằng bản chất của tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở hoàn trả và có các đặc trưng sau: - Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng NH bao gồm hai hình thức là cho vay (bằng tiền) và cho thuê (bất động sản và động sản). - Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, vì vậy người cho vay khi chuyển giao tài sản cho người đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ trả đúng hạn. - Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói cách khác là người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc. - Trong quan hệ tín dụng NH, tiền vay được cấp trên cơ sở bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
Vai trò của tín dụng ngân hàng Trong nền kinh tế, nhất là trong giai đoạn hiện nay, tín dụng NH có một vai trò hết sức quan trọng: - Tín dụng NH góp phần nâng cao hiệu quả SXKD cho các tổ chức cá nhân vay vốn Các tổ chức, cá nhân để tổ chức hoạt động SXKD thường dựa vào vốn chủ sở hữu và vốn vay. Một trong những nguồn để vay là từ NH, đó là nguồn tài trợ hiệu quả vì nó thoả mãn nhu cầu vốn về số lượng và thời hạn. Để NH có thể đáp ứng nguồn vốn theo yêu cầu, DN cần phải nâng cao uy tín của mình đối với NH, đảm bảo được các nguyên tắc tín dụng. Muốn vậy, các DN phải xây dựng cho mình một phương án kinh doanh có tính khả thi, hiệu quả nhất.
Theo đó, các DN phải tìm hiểu, nghiên cứu và khai thác hiệu quả mọi nguồn lực đáp ứng kịp thời, đầy đủ cho dự án. Điều đó làm tăng hiệu quả kinh tế của dự án. Mặt khác, một trong những quy định tín dụng của NH là khâu giám sát sử dụng vốn vay. Với việc này, bắt buộc DN phải sử dụng vốn vay đúng mục đích và mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất.
Bên cạnh đó, vai trò tư vấn của cán bộ tín dụng sẽ giúp cho DN lường trước và cố gắng vượt qua những khó khăn để đứng vững, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả SXKD cho mình. z 3 - Tín dụng NH góp phần làm tăng tốc độ chu chuyển tiền tệ trong nền kinh tế tạo cơ chế phân phối, sử dụng vốn một cách hiệu quả Do đặc điểm tuần hoàn vốn nên trong quá trình SXKD của các DN luôn có sự không ăn khớp về thời gian và lượng tiền cần thiết để dự trữ vật tư hàng hoá cho quá trình SXKD trước đó. Vì vậy, luân chuyển tiền tệ của DN có lúc thừa, có lúc thiếu. Nguồn vốn DN tạm thời nhàn rỗi cùng với các nguồn tiết kiệm từ dân cư, nguồn kết dư từ ngân sách… được các NHTM huy động và sử dụng để đầu tư cho các DN đang tạm thời thiếu vốn, cho nhu cầu tiêu dùng tạm thời vượt quá thu nhập của dân chúng cũng như cho nhu cầu chi của ngân sách Nhà nước khi chưa có nguồn thu.
Mặt khác, thông qua cơ chế sàng lọc, giám sát NHTM sẽ chỉ cho vay các dự án có tính khả thi cao, khả năng thu hồi vốn lớn. Điều này tạo nên một cơ chế phân phối vốn hiệu quả. - Tín dụng NH góp phần hỗ trợ các chiến lược kinh tế và các chính sách tiền tệ Một trong những chức năng quan trọng của NHTM là khả năng tạo tiền thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán. Khi Nhà nước muốn tăng khối lượng tiền cung ứng thì NHNN có thể tăng hạn mức tín dụng của các NHTM và ngược lại.
Do vậy thông qua hình thức tín dụng, NHNN có thể kiểm soát được khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông của nền kinh tế. - Tín dụng NH góp phần thúc đẩy quá trình mở rộng mối quan hệ giao lưu kinh tế quốc tế Trước xu thế quốc tế hoá, sự giao lưu kinh tế giữa các nước luôn được đặt ra. Trong nền kinh tế mở thì các DN không chỉ có quan hệ mua bán với các thành phần kinh tế khác trong nước mà còn có những quan hệ xuất, nhập khẩu với các doanh nghiệp nước ngoài. NHTM có thể thúc đẩy mối quan hệ này thông qua hình thức bảo lãnh, cho vay… đối với các DN để từ đó nâng cao uy tín của họ trên thị trường thế giới.
z 4 Như vậy, tín dụng NH có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia. Những vấn đề chung về rủi ro tín dụng 1. Khái niệm về rủi ro tín dụng Theo Quyết định số 493 /2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc NHNN và Thông tư 02-TT/NHNN ban hành ngày 21/01/2013 thì “RRTD trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết.” Như vậy, có thể nói rằng RRTD là một phạm trù kinh tế, nó phản ảnh sự thiệt hại, tổn thất của NH xảy ra trong hoạt động cho vay; làm giảm thu nhập, lợi nhuận và nếu trầm trọng, có thể làm giảm hoặc mất vốn chủ sở hữu của các tổ chức tín dụng. Nguyên nhân rủi ro tín dụng Nguyên nhân từ phía ngân hàng: - Hoạt động mở rộng tín dụng của các NHTM: Vì lý do nào đó mà các NHTM thực hiện mở rộng tín dụng, chẳng hạn để đạt được mục tiêu tăng trưởng tín dụng hay vì mục tiêu lợi nhuận…có thể sẽ dẫn đến việc lựa chọn khách hàng dễ dãi, việc tuân thủ quy trình tín dụng có thể bị lỏng lẻo hơn.
- Trình độ cán bộ hạn chế: Nhất là cán bộ tín dụng, người trực tiếp nhận hồ sơ, phân tích và thẩm định dự án vay vốn của khách hàng; nếu trình độ bị hạn chế, thẩm định không chính xác, có thể dẫn đến việc chấp nhận những khoản vay mà dự án đó có tính khả thi không cao hoặc có thể bị khách hàng lừa gạt. - Phẩm chất đạo đức của cán bộ tín dụng cũng ảnh hưởng lớn đến RRTD. Chỉ vì tư lợi cá nhân, bất chấp sự thiệt hại của NH, cán bộ tín dụng có thể bỏ qua những sai sót trong thẩm định dự án của khách hàng hoặc tham mưu cho lãnh đạo cấp những khoản tín dụng không an toàn. z 5 - Quy chế cho vay chưa chặt chẽ hoặc quá linh hoạt đều khiến cho các NH gặp phải rủi ro.Việc đánh giá tài sản thế chấp, cầm cố cũng là vấn đề lớn hiện nay trong việc xét cho vay đối với khách hàng.
- Ngoài ra, còn rất nhiều nhân tố khác thuộc về NH gây ra RRTD như: chất lượng thông tin và xử lý thông tin, cơ cấu tổ chức và quản lý đội ngũ cán bộ, năng lực công nghệ… Nguyên nhân từ phía khách hàng: - Năng lực, kinh nghiệm điều hành hoạt động SXKD của DN nếu còn hạn chế, khả năng mang lại hiệu quả kinh tế không cao, điều đó ít nhiều ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay cho NH. Và nhất là khi tình hình nền kinh tế gặp khó khăn thì RRTD xảy ra cho NH là điều khó tránh. - Nhiều khách hàng lợi dụng tín nhiệm, mối quan hệ xã hội hoặc những sơ hở của pháp luật … tìm cách lừa đảo các NH để được vay vốn. Vấn đề này đã từng xảy ra trong thực tế: họ lập phương án SXKD giả, giấy tờ thế chấp cầm cố giả hoặc đi vay ở nhiều NH với cùng bộ hồ sơ.
- Khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích so với hợp đồng tín dụng khiến cho khả năng trả nợ trở nên khó khăn, RRTD xảy ra là tất yếu. - Việc trốn tránh trách nhiệm và nghĩa vụ đã uỷ quyền hoặc bảo lãnh cũng là một nguyên nhân dẫn đến rủi ro cho NH. Một số DN lớn đứng ra bảo lãnh hoặc uỷ quyền cho các chi nhánh trực thuộc thực hiện vay vốn của NH để tránh sự kiểm tra giám sát của NH. Khi đơn vị vay vốn mất khả năng thanh toán, bên bảo lãnh hoặc uỷ quyền lại trốn tránh trách nhiệm của mình.