CHƯƠNG 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Năng lực giải quyết vấn đề toán học 1. Khái niệm * Năng lực Tác giả Đỗ Đức Thái (2019) sử dụng quan niệm: “NL là một thuộc tính cá nhân được xây dựng và phát huy bởi tư chất vốn có và quá trình tu dưỡng, rèn luyện. Nó cho phép con người phối hợp những kiến thức, kĩ năng cùng những thuộc tính cá nhân khác như ý chí, lòng quyết tâm và nghị lực nhằm thành công trong quá trình tiến hành một loại HĐ cụ thể và thu được kết quả mong đợi trong hoàn cảnh cụ thể”.
[18] Theo quan điểm này, năng lực là một khía cạnh quan trọng của con người. Nó không chỉ bao gồm kiến thức và kỹ năng mà còn liên quan đến các thuộc tính cá nhân khác như sự hứng thú, niềm tin và ý chí. Con người có khả năng tổng hợp tất cả các yếu tố này để hoàn thành thành công một loại hoạt động cụ thể. Nguyễn Công Khanh (2011) đã xem xét vấn đề này từ góc độ khác khi cho rằng “năng lực không chỉ liên quan đến tri thức và kỹ năng mà còn liên quan đến sự làm chủ của con người với nguồn tri thức và kĩ năng đó.
Nó bao gồm cả thái độ và cách vận hành (kết nối) các yếu tố này để thành công trong việc thực hiện nhiệm vụ hoặc giải quyết các vấn đề trong cuộc sống. Năng lực được coi là một cấu trúc động, không chỉ chứa kiến thức và kỹ năng mà còn tích hợp niềm tin, giá trị và trách nhiệm xã hội. Nó mang tính linh hoạt, có nhiều thành tố và tầng bậc khác nhau” [9] CTGDPT tổng thể đã xác định rằng NL là thuộc tính cá nhân được cấu thành từ tư chất vốn có thông qua quá trình giáo dục, rèn luyện. Nó cho phép con người phối hợp giữa tri thức, kĩ năng cùng những thuộc tính cá nhân khác với sự hào hứng, lòng quyết tâm và nghị lực để thành công trong quá trình tiến hành một loại HĐ cụ thể và thu được kết quả mong đợi trong hoàn cảnh cụ thể.
[2] Trong nghiên cứu của chúng tôi, chúng tôi áp dụng định nghĩa về NL theo CTGDPT tổng thể của Bộ GD & ĐT. Theo đó, NL là một thuộc tính cá nhân được hình thành và phát triển bởi tư chất vốn có và quá trình giáo dục, rèn luyện. Nó cho phép con người sử dụng những tri thức, kĩ năng cùng những thuộc tính cá nhân khác bao gồm sự quyết tâm, lòng tự tin và ý chí nhằm thành công trong quá trình 7 tiến hành một loại HĐ cụ thể và thu được kết quả mong đợi trong hoàn cảnh nhất định [2]. * Năng lực giải quyết vấn đề NL GQVĐ (GQVĐ) có nhiều quan điểm và định nghĩa khác nhau.
Theo Jean - Paul Reeff, Anouk Zabal và Christine Blech (2006), GQVĐ là NL tư duy và hành động trong những trường hợp không có trình tự, thủ tục hoặc biện pháp thông thường. Người có GQVĐ có thể xác định mục tiêu hành động nhưng không phải biết ngay cách thực hiện nhằm đạt đến mục tiêu ấy. Sự hiểu biết về tình huống và việc lập kế hoạch và suy luận được coi là quá trình GQVĐ. Mô hình NL GQVĐ trong toán học theo Wu M.
Krutetxki (1973), quá trình GQVĐ được phân làm 4 thành phần của NL toán học: Tiếp nhận thông tin toán học; Xử lý thông tin toán học; Giải quyết thông tin toán học và Thành phần tổng hợp chính là NL toán học của trí óc. [11] Theo Hoàng Văn Huệ (2020), NL GQVĐ là khả năng vận dụng linh hoạt những quá trình nhận thức, hành vi và thái độ, động cơ, cảm xúc nhằm giải quyết những tình huống vấn đề mà không có những trình tự, thủ tục hoặc biện pháp nhất định. [7] Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, chúng tôi hiểu khái niệm NL GQVĐ là NL cá nhân vận dụng linh hoạt những kĩ năng và kiến thức nhằm giải quyết được những trường hợp có vấn đề. 8 Theo chương trình môn Toán 2018 [3], dựa trên quan niệm của V.
Krutetxki (1973) [11] và Wu, M. L (2003) [23], chúng tôi hiểu NL GQVĐ toán học là “khả năng phát hiện và giải quyết được những vấn đề toán học thông qua việc thu nhận và xử lý thông tin; tính toán và suy luận toán học để trả lời các câu hỏi đặt ra ở tình huống có thể sử dụng toán học”. * Năng lực GQVĐ toán học của HS Tiểu học Từ đó có thể hiểu “NL GQVĐ toán học của HS Tiểu học là tổ hợp khả năng mà HS tiểu học sử dụng hiệu quả các kỹ năng, NL phù hợp với đặc điểm nhận thức để giải quyết những tình huống có vấn đề trong HĐ học tập môn Toán nhằm giải quyết có hiệu quả những vấn đề đặt ra của bài toán tiểu học”. Thành phần, biểu hiện của NL GQVĐ Toán học ở học sinh lớp 4, lớp 5 trong giải bài tập toán a) Cấu trúc NL GQVĐ toán học đối với học sinh tiểu học Theo chương trình môn Toán 2018 NL GQVĐ toán học là một trong năm thành phần của NL toán học với 4 thành phần biểu hiện ở HS tiểu học như sau: “Xác định đúng vấn đề phải giải quyết và nêu rõ thành câu hỏi; Nêu được cách thức GQVĐ; Thực hiện và nêu rõ cách thức GQVĐ với mức độ căn bản; Nhận xét những giải pháp đã thực hiện” [3].
Theo CTGDPT môn Toán 2018 [3], thành phần và yêu cầu cần đạt đối với NL GQVĐ toán học của HS tiểu học biểu hiện cụ thể ở bảng 1. Biểu hiện và yêu cầu cần đạt về NL GQVĐ TH của HS tiểu học Yêu cầu cần đạt đối với HS NL GQVĐ toán học Tiểu học NL1. Nhận biết, phát hiện vấn đề cần giải Nhận biết được vấn đề cần giải quyết bằng toán học (nhận biết, phát hiện VĐ quyết và phát biểu thành câu toán học). Lựa chọn, đề xuất cách thức, giải pháp Nêu được PP GQVĐ.
Sử dụng kiến thức, kĩ năng, công cụ toán Thực hiện và trình bày được học tương thích để GQVĐ đặt ra (thực hiện cách thức GQVĐ ở mức độ giải pháp GQVĐ toán học). Kiểm tra giải pháp đề ra và khái quát hoá Kiểm tra và điều chỉnh nhỏ giải cho vấn đề toán học tương tự (kiểm tra, đánh pháp đã thực hiện. giá, điều chỉnh giải pháp GQVĐ toán học). Nguồn: Chương trình GDPT môn Toán 2018 [3].
b) Biểu hiện của NL GQVĐ toán học trong giải toán ở tiểu học Căn cứ vào thành phần, biểu hiện của NL GQVĐ toán học trong CTGDPT 2018 [2], đối chiếu với nội dung và đặc điểm HĐ giải bài tập toán của HS tiểu học, chúng tôi xác định, lựa chọn 3 thành phần với những biểu hiện sau đây của NL GQVĐ toán học trong học giải bài tập như sau: Thành phần 1 - Nhận biết được vấn đề cần giải quyết ở bài tập và nêu được thành câu hỏi. Từ yêu cầu của bài toán đã cho, HS đọc hiểu, nhận biết được dạng bài toán: Nhận biết cái đã cho, cái phải tìm, phân tích để nhận ra các mối liên hệ giữa các dữ kiện của bài toán; từ đó phát biểu thành câu hỏi cần trả lời: Bài toán cho biết gì, bài toán yêu cầu tìm gì? Thành phần 2 - Tìm ra hướng giải bài toán HS xác định và huy động được những kiến thức có liên quan đến dữ kiện và câu hỏi (vấn đề) trong bài toán. HS diễn đạt được các thông tin của bài toán bằng ngôn ngữ ký hiệu toán học. Nhận dạng bài toán và đưa về PP giải quen thuộc: HS phát hiện ra cách giải quyết, đưa ra được các phép tính, hình thành các bước giải bài toán theo các phép tính đã xác định.
Thành phần 3 - Thực hiện các bước giải bài toán và nhận xét đánh giá kết quả. HS sử dụng được những kiến thức, kĩ năng toán học đã biết để giải bài toán; trình bày các bước giải dưới dạng chuỗi phép tính để trả lời câu hỏi của bài toán. Sau khi giải xong, HS biết đánh giá quá trình giải bằng cách thử lại kết quả; ghi nhớ PP giải loại bài toán này (xác nhận những kiến thức và kinh nghiệm thu được) để áp dụng giải những bài tập tương tự (tình huống mới). Tầm quan trọng của việc PTNL GQVĐ đối với HS lớp 4, lớp 5 Với định hướng DH Toán theo hướng phát triển NL HS; PTNL GQVĐ toán học rèn luyện ở HS kỹ năng vận dụng kiến thức đã học để xử lý các vấn đề khác nhau trong học tập và thực tiễn, ảnh hưởng lên cảm xúc, mang lại niềm vui và hứng khởi học môn Toán cho HS.
- Sự hình thành NL GQVĐ toán học giúp HS hiểu biết và nắm vững kiến thức căn bản của môn Toán. HS biết mở rộng và nâng cao kiến thức xã hội của mình. Giúp HS biết ứng dụng các kiến thức xã hội vào trong thực tiễn đời sống. Hình thành kĩ năng sắp xếp, tổ chức, khả năng giao tiếp và ý thức tập thể, gắn kết xã hội.
- Vận dụng DH GQVĐ với môn Toán sẽ giúp rèn luyện sự năng động, linh hoạt, nhạy bén của HS và PTNL tư duy, NL GQVĐ toán học ở HS. Người học sẽ dễ dàng hơn giải thích về những sự sai khác trong lý luận và thực tiễn hoặc các mâu thuẫn nhận thức có thể nhìn thấy. - Thực hiện DH Toán phát triển NL GQVĐ toán học cho HS giúp GV có điều kiện đánh giá chính xác hơn khả năng học Toán và trình độ tư duy toán học của người học và làm căn cứ cho việc xếp loại HS một cách chính xác. GV có điều kiện kịp thời uốn nắn những kiến thức sai lệch, không chính xác và định hướng kiến thức mới cho HS.
Bài tập toán và dạy học giải toán ở tiểu học 1. Bài tập toán ở Tiểu học Theo từ điển Wikipedia, bài tập toán học là một vấn đề có thể được giải quyết bằng toán học và được áp dụng trong quá trình giảng dạy để giúp HS hiểu mối liên hệ của những vấn đề hàng ngày và các khái niệm toán học [24]. Trong sách giáo trình PPDH Toán của Nguyễn Bá Kim, bài tập toán được hiểu là câu hỏi cần giải đáp hoặc xác định phương pháp để thu được kết quả. [10] Ở cấp Tiểu học, bài tập toán giúp HS nắm chắc định nghĩa, khái niệm, nguyên lý và quy tắc toán căn bản phục vụ cho chương trình học tiếp theo hoặc vận dụng trong cuộc sống hàng ngày.
Môn Toán ở lớp đầu tiên chủ yếu là tính toán cơ bản trên số tự nhiên và nhận thức căn ban đầu về yếu tố hình học.