Đặt vấn đề Con trâu có tầm quan trọng đặc biệt trong nền sản xuất nông nghiệp, là nguồn cung cấp sức kéo chính (cày bừa và vận chuyển ở nông thôn), cung cấp lượng lớn phân hữu cơ cho trồng trọt và đóng góp một phần không nhỏ thịt cho nhu cầu của con người. Ngoài ra, sản phẩm phụ như da, sừng, lông trâu còn được sử dụng để chế biến một số đồ dùng gia dụng và hàng mỹ nghệ. Thịt trâu ngày càng được đánh giá cao trên thị trường và được nhiều người ưa chuộng, kể cả ở một số nước châu Âu và châu Mỹ vì nhiều nạc, ít mỡ, ít cholesterol. Do vậy, phát triển chăn nuôi trâu ở nước ta trong những năm tới là rất cần thiết.
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng thịt trâu chất lượng cao, bên cạnh việc đầu tư phát triển giống thì việc nghiên cứu nhằm khai thác tốt nhất nguồn thức ăn, xây dựng các khẩu phần thích hợp và có hiệu quả kinh tế nhất là vấn đề cần được quan tâm. Những nghiên cứu gần đây cho thấy khẩu phần của trâu, bò không cân đối: hoặc thiếu hoặc thừa năng lượng và protein. Lý do chủ yếu của việc khẩu phần mất cân đối là do chúng ta chưa có đầy đủ số liệu về tỷ lệ tiêu hoá in vivo của từng loại thức ăn cũng như khẩu phần. Để tạo ra một cơ sở dữ liệu về thành phần hoá học, giá trị dinh dưỡng của một số loại thức ăn phổ biến nuôi trâu thì những thí nghiệm xác định tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng và giá trị năng lượng trao đổi bằng phương pháp in vivo là hết sức cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao.
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Xác định tỷ lệ tiêu hóa và giá trị năng lượng trao đổi của một số loại thức ăn phổ biến nuôi trâu bằng phương pháp in vivo”. Mục tiêu của đề tài Xác định được thành phần hóa học, tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng và giá trị năng lượng trao đổi của một số loại thức ăn phổ biến nuôi trâu. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Đề tài góp phần bổ sung dữ liệu về thành phần hóa học, tỷ lệ tiêu hóa và giá trị năng lượng của một số loại thức ăn dùng cho trâu nuôi thịt ở Việt Nam.
Ý nghĩa thực tiễn Các kết quả của đề tài có giá trị như tài liệu khoa học để các cơ quan quản lý, Viện nghiên cứu, các Trường Đại học, giáo viên, sinh viên ngành Nông nghiệp tham khảo. Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm cơ sở cho các cơ sở nghiên cứu, doanh nghiệp, chủ trang trại và những người chăn nuôi khi xây dựng khẩu phần ăn cho trâu nuôi thịt, vỗ béo. h 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cở sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 2.
Khái niệm thức ăn Thức ăn là những sản phẩm có nguồn gốc thực vật, động vật và khoáng vật, những sản phẩm này cung cấp chất dinh dưỡng cho gia súc, các chất dinh dưỡng đó phải phù hợp với đặc tính sinh lý, với cấu tạo bộ máy tiêu hóa giúp con vật có thể ăn uống, tiêu hóa và hấp thu được nhằm sinh sống bình thường trong một thời gian. Khái niệm thức ăn thay đổi tùy thuộc vào từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội. Thời kỳ chăn nuôi du mục, cỏ xanh trên bãi chăn là nguồn thức ăn duy nhất. Khi ngành trồng trọt phát triển, thức ăn bao gồm cả các sản phẩm phụ của cây trồng.
Địa vị của ngành chăn nuôi được nâng cao, người ta gieo trồng cây thức ăn cho gia súc, sử dụng các nguồn nguyên liệu trong các ngành công nghiệp, đẩy mạnh các biện pháp bảo quản, chế biến, phối hợp thức ăn, áp dụng các thành tựu mới nhất trong dinh dưỡng học gia súc, sử dụng thức ăn có hiệu quả nhất, nâng cao năng suất ngành chăn nuôi. Theo Pond và cs (1995) [49] đã đưa ra khái niệm về chất dinh dưỡng như sau: Chất dinh dưỡng là một nguyên tố hay một hợp chất hóa học mà có thể giữ được sự sinh trưởng, sinh sản, cho sữa một cách bình thường hoặc duy trì sự sống nói chung. Theo đó, thức ăn được định nghĩa là: một vật liệu có thể ăn được nhằm cung cấp chất dinh dưỡng. Tác giả cũng cho rằng tất cả những gì mà con gia súc ăn vào hoặc có thể ăn vào được mà có tác động tích cực đối với quá trình trao đổi chất thì gọi là thức ăn gia súc.
Phân loại thức ăn cho gia súc nhai lại Phân loại thức ăn là đưa các thức ăn vào từng nhóm, trong nhóm đó các thức ăn có các đặc tính, giá trị dinh dưỡng tương tự nhau và có thể sử h 4 dụng cho cùng một mục đích. Các thức ăn có cùng nguồn gốc thường có giá trị dinh dưỡng không khác nhau quá nhiều và vì thế cách mà chúng ảnh hưởng đến năng suất gia súc cũng khá tương đồng. Ví dụ, bột đậu tương, bột hạt bông, bột hạt hướng dương đều là phụ phẩm của công nghiệp tách dầu từ các hạt có dầu và được sử dụng để tăng hàm lượng protein của khẩu phần. Trong khi đó hạt ngô, hạt mì và kê đều là các ngũ cốc có hàm lượng năng lượng tiêu hóa cao.
Thức ăn cùng nguồn gốc không những có giá trị dinh dưỡng tương tự nhau mà chúng còn có ảnh hưởng tương tự đến sức khỏe gia súc và chất lượng sản phẩm chăn nuôi (Dryden, 2010) [29]. Để sử dụng hiệu quả thức ăn và có biện pháp chế biến bảo quản thích hợp, cần thiết phải phân loại thức ăn. Có nhiều cách phân loại thức ăn khác nhau, căn cứ vào nguồn gốc, đặc tính dinh dưỡng, tính chất thức ăn. Phân loại thức ăn theo nguồn gốc Căn cứ vào nguồn gốc, thức ăn được chia thành các nhóm sau: - Thức ăn có nguồn gốc từ thực vật: Trong nhóm này gồm các thức ăn xanh, thức ăn rễ, củ, quả, thức ăn hạt, các sản phẩm phụ của ngành chế biến nông sản: Thức ăn xơ, rơm, rạ, dây lang, thân lá lạc, thân cây ngô, các loại cám, khô dầu, bã bia, rượu.
Nhìn chung, loại thức ăn này là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu cho gia súc, ngoài ra nó còn cung cấp vitamin, protein thô, các loại vi khoáng, kháng sinh, hợp chất sinh học. - Thức ăn có nguồn gốc từ động vật: Gồm tất cả các loại sản phẩm chế biến từ nguyên liệu động vật như: Bột cá, bột tôm, bột thịt, bột nhộng tằm, bột sữa, bột máu. Hầu hết thức ăn có nguồn gốc từ động vật đều có hàm lượng prôtein chất lượng cao, có đủ các axit amin thiết yếu, các nguyên tố khoáng và một số vitamin A, D, E, B12. Tỷ lệ tiêu hóa và hấp thu các chất dinh dưỡng trong thức ăn có nguồn gốc động vật cao hay thấp phụ thuộc vào cách chế biến, làm thức ăn bổ sung protein quan trọng trong khẩu phần của gia súc.
- Thức ăn có nguồn khoáng chất: Gồm các loại bột sò, đá vôi và các muối khoáng nhằm bổ sung chất khoáng đa và vi lượng. Phân loại theo thành phần các chất dinh dưỡng Phương pháp này chủ yếu dựa vào hàm lượng các chất dinh dưỡng trong thức ăn và chia ra các nhóm: Nhóm thức ăn giàu protein, thức ăn giàu lipit, thức ăn giàu gluxit, thức ăn nhiều nước, nhiều xơ, thức ăn giàu khoáng, giàu vitamin và thức ăn bổ sung khác. Phân loại theo đương lượng tinh bột Theo phương pháp này, người ta chia thức ăn thành 2 loại: Thức ăn tinh và thức ăn thô. - Thức ăn thô: bao gồm các loại thức ăn có đương lượng tinh bột dưới 45%.
- Thức ăn tinh: bao gồm các loại thức ăn có đương lượng tinh bột trên 45%. Hiện nay, trên thế giới người ta phân thức ăn thành 8 nhóm: Nhóm thức ăn thô khô: Tất cả các loại cỏ xanh tự nhiên thu cắt và các phế phụ phẩm của cây trồng đem phơi khô có hàm lượng xơ trên 18% đều là thức ăn thô khô. Bao gồm: cỏ khô họ đậu hoặc hòa thảo, rơm rạ, dây lang, dây lạc và thân cây ngô. Ngoài ra, còn gồm các loại hạt thóc, lạc, đậu, lõi và bao ngô.
Nhóm thức ăn xanh: Tất cả các loại cỏ trồng, cỏ tự nhiên, các loại rau xanh cho gia súc sử dụng ở trạng thái tươi, xanh bao gồm: rau muống, bèo hoa dâu, lá bắp cải, cỏ tự nhiên, cỏ trồng. Nhóm thức ăn ủ chua: Tất cả các loại thức ăn chua, các loại cỏ hòa thảo hoặc thân, bã phụ phẩm của ngành trồng trọt như thân lá lạc, bã dứa, thân cây ngô, vỏ chuối. Nhóm thức ăn giàu năng lượng: Tất cả các loại thức ăn có mức protein dưới 20% và xơ thô dưới 18%. Bao gồm các loại hạt ngũ cốc như ngô, gạo, sắn, củ khoai lang, cao lương, mạch, mỳ.
và phế phụ phẩm của ngành xay xát như cám gạo, cám mỳ, tấm. nhóm nguyên liệu này chiếm tỷ lệ cao nhất trong các công thức thức ăn hỗn hợp, thường chiếm 40 - 70% tỷ trọng. Một số h 6 loại dầu thô, mỡ thô cũng được dùng bổ sung vào công thức thức ăn hỗn hợp nhưng không vượt quá 4 - 5%. Ngoài ra còn có các loại củ như sắn, khoai lang, khoai tây, bí đỏ.
Nhóm thức ăn giàu protein: Tất cả các loại thức ăn có hàm lượng protein trên 20%, xơ thô dưới 18%. Thức ăn giàu protein có nguồn gốc động vật: bột cá, bột thịt, sữa bột, bột thịt xương, bột máu.; thức ăn giàu protein có nguồn gốc từ thực vật: hạt đỗ tương, lạc, đậu xanh, đậu triều, đậu nho nhe, khô đỗ tương, khô lạc, khô dầu dừa, khô dầu bông. Nhóm thức ăn bổ sung khoáng: gồm bột vỏ sò, bột đá, vỏ hến, dicanxiphotphat, bột xương. Nhóm thức ăn bổ sung vitamin: Các loại vitamin B1, B2, B3, D, A hoặc premix vitamin.
Nhóm các loại thức ăn bổ sung khác (các chất phụ gia): Đây là nhóm thức ăn rất đa dạng, như: Các chất kháng sinh, chất chống ôxy hóa, các chất vi lượng, các loại men, sản phẩm vi sinh vật, chất tạo hương vị, chất kết dính. Trong tám nhóm thức ăn trên, các nhóm nguyên liệu thường sử dụng trong chế biến thức ăn chăn nuôi công nghiệp là các nhóm: nhóm thức ăn giàu năng lượng, nhóm thức ăn giàu protein, nhóm thức ăn bổ sung khoáng, nhóm thức ăn bổ sung vitamin và các loại thức ăn bổ sung khác. Còn các nhóm: Nhóm thức ăn thô khô, nhóm thức ăn xanh, nhóm thức ăn ủ chua thường dùng cho gia súc nhai lại, nhóm 2 cũng dùng cho các nhóm gia súc khác như thức ăn bổ sung.