Tổng quan luận án

Việt Nam sở hữu khu hệ Linh trưởng đa dạng với 25 loài và phân loài thuộc ba họ: Cu li (Loridae), Khỉ (Cercopithecidae) và Vượn (Hylobatidae), chiếm trên 39% tổng số loài Linh trưởng ở vùng địa lý động vật Ấn Độ - Mã Lai (64 loài). Trong số này, có 6 loài và phân loài đặc hữu của Việt Nam và 6 loài đặc hữu vùng Đông Dương, bao gồm Vượn đen má hung trung bộ (Nomascus annamensis Van Ngoc Thinh, Mootnick, Vu Ngoc Thanh, Nadler & Roos, 2010). Loài này phân bố từ phía Bắc sông Thạch Hãn (khoảng 16°40' - 16°50' N) đến phía Nam sông Ba (khoảng 13°00' - 13°10' N), đi qua địa bàn các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Phú Yên, Bình Định, Gia Lai và Kon Tum. Quần thể Vượn đen má hung trung bộ đối mặt với nguy cơ suy giảm số lượng do tình trạng săn bắn trái phép và môi trường sống bị thu hẹp hoặc chia cắt. Những dữ liệu khoa học về mức độ nguy cấp, tập tính, phân bố, cấu trúc quần thể và đặc điểm sinh thái của loài này chưa được nghiên cứu đầy đủ.

Nhằm bổ sung các cơ sở dữ liệu khoa học phục vụ công tác bảo tồn, luận án xác định hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu sự phân bố, số lượng đàn, cấu trúc quần thể, đặc điểm tiếng hót và một số tập tính và tình trạng bảo tồn loài Vượn đen má hung trung bộ ở khu vực nghiên cứu.
  2. Nghiên cứu tình trạng bảo tồn, đề xuất một số giải pháp bảo tồn loài Vượn đen má hung trung bộ (N. annamensis) ở Trung bộ Việt Nam.

Luận án triển khai 4 nội dung nghiên cứu chính:

  1. Xác định địa điểm phân bố, số lượng và cấu trúc đàn vượn trong các năm khác nhau tại khu vực nghiên cứu bằng phương pháp ghi âm và phân tích âm học tiếng hót của Vượn đen má hung trung bộ (N. annamensis).
  2. Xác định đặc điểm tiếng hót theo giới tính và tuổi của Vượn đen má hung trung bộ.
  3. Thu thập dữ liệu về một số tập tính (tập tính xã hội qua tiếng hót, tập tính ăn uống và vận động) của Vượn đen má hung trung bộ.
  4. Xác định các mối đe dọa, tình trạng bảo tồn loài Vượn đen má hung trung bộ, đề xuất giải pháp bảo tồn loài.

Đối tượng nghiên cứu là loài Vượn đen má hung trung bộ (Nomascus annamensis Van Ngoc Thinh, Mootnick, Vu Ngoc Thanh, Nadler & Roos, 2010). Phạm vi không gian nghiên cứu thực địa tập trung tại ba khu vực rừng tự nhiên thuộc miền Trung Việt Nam: Khu bảo tồn Sao la Thừa Thiên Huế (diện tích 15.519,93 ha), Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Sao la Quảng Nam (diện tích 15.508,45 ha) và Vườn quốc gia Bạch Mã (diện tích 37.487 ha). Dữ liệu tập tính ăn uống và vận động trong điều kiện nuôi nhốt được bổ cứu tại Trung tâm cứu hộ Linh trưởng nguy cấp Cúc Phương. Phạm vi thời gian nghiên cứu thực địa kéo dài từ tháng 5/2012 đến tháng 8/2018, thu thập dữ liệu theo các đợt định kỳ vào các năm 2012, 2014, 2016 và 2018.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Họ Vượn (Hylobatidae) thuộc bộ Linh trưởng (Primates) chỉ phân bố tự nhiên tại các cánh rừng nhiệt đới khu vực Đông Nam Á và vùng lân cận. Lịch sử phân loại học ghi nhận nhiều quan điểm khác nhau: ban đầu họ này gồm hai giống Symphalangus và Hylobates (Groves, 1972). Dựa trên phân tích nhiễm sắc thể, Groves (1972) chia thành 3 giống với 9 loài. Về sau, các nghiên cứu di truyền tế bào bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội (Prouty và nnk, 1983; Roos & Geissmann, 2001) đã thống nhất họ Hylobatidae gồm 4 giống: Hoolock (2n = 38), Hylobates (2n = 44), Symphalangus (2n = 50) và Nomascus (2n = 52). Văn Ngọc Thịnh và nnk (2010a) xác định toàn vùng Đông Nam Á có 4 giống với 24 loài và phân loài vượn.

Tại Việt Nam, các tư liệu về vượn được ghi chép từ thế kỷ 18 trong "Văn đài loại ngữ" và "Phủ biên tạp lục" của Lê Quý Đôn (1773, 1776). Từ cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, các công trình của De Pousargues (1896, 1904), Boutan (1906), Thomas (1925 - 1929), Osgood (1932) đã mô tả các mẫu vật vượn thu thập tại Đông Dương. Giai đoạn sau năm 1960, các nghiên cứu về khu hệ thú và linh trưởng được công bố bởi Lê Hiền Hào (1973), Đặng Huy Huỳnh và nnk (1975, 1981, 1994, 1997), Đào Văn Tiến (1983, 1985), Lê Vũ Khôi (2000), Lê Xuân Cảnh (2008), Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh (2009). Ban đầu, các loài vượn ở Việt Nam được xếp vào giống Hylobates. Về sau, các nghiên cứu phân loại học phân tử dựa trên gen cytochrome b ty thể và âm học (Geissmann và nnk, 2000; Roos và nnk, 2014; Rawson và nnk, 2011) đã chuyển các loài này sang giống Vượn mào Nomascus. Đến năm 2010, Văn Ngọc Thịnh, Mootnick, Vũ Ngọc Thành, Nadler & Roos chính thức mô tả Vượn đen má hung trung bộ (Nomascus annamensis) là một loài mới tách biệt khỏi Nomascus gabriellae và Nomascus siki dựa trên phân tích hình thái, âm học tiếng hót và phân tích gen.

Tên loài Sách Đỏ Việt Nam (2007) Danh lục Đỏ IUCN (2019)
Nomascus nasutus (Vượn đen cao vít) Chưa phân hạng CR
Nomascus concolor (Vượn đen tuyền tây bắc) EN CR
Nomascus leucogenys (Vượn đen má trắng) EN CR
Nomascus siki (Vượn siki) EN CR
Nomascus annamensis (Vượn đen má hung trung bộ) Chưa phân hạng EN
Nomascus gabriellae (Vượn đen má vàng) EN EN

Ghi chú: CR: Cực kỳ nguy cấp; EN: Nguy cấp.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết là tình trạng thiếu hụt dữ liệu định lượng dài hạn về phân bố địa lý, quy mô bầy đàn, tỷ lệ thành phần cá thể và các biến đổi âm học tiếng hót của loài Nomascus annamensis ngoài tự nhiên. Trong khi các nghiên cứu trước đây chủ yếu dừng lại ở việc khảo sát sơ bộ sự hiện diện hoặc phân tích phân loại học, luận án tiến hành giám sát thực địa kéo dài 7 năm (2012 - 2018) kết hợp ứng dụng phần mềm phân tích âm thanh chuyên dụng tại ba khu vực rừng thuộc Trung Trường Sơn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu dựa trên cơ sở sinh học và tập tính học linh trưởng: tiếng hót của họ Vượn có tính chất rập khuôn, mang đặc trưng loài, phản ánh mối quan hệ phát sinh chủng loại và mang tính di truyền cao hơn sự học tập (Geissmann, 1984; Geissmann và nnk, 2000). Các loài thuộc giống Nomascus sở hữu tiếng hót có tính dị hình giới tính rõ nét: con cái phát ra các đoạn âm lớn có tần số tăng dần và dồn dập về cuối; con đực phát ra các đoạn âm biến đổi thăng trầm, lặp lại. Giống Nomascus là nhóm duy nhất có hình thức hót đôi song ca mà tiếng hót con đực giữ vai trò ưu thế.

Phương pháp nghiên cứu thực địa bao gồm:

  • Phương pháp phỏng vấn và kế thừa thông tin: Thu thập báo cáo điều tra từ cán bộ kiểm lâm địa phương, cán bộ dự án WWF và người dân bản địa; kế thừa các bản đồ địa hình và dữ liệu tuần tra rừng.
  • Xác định điểm thu âm và kỹ thuật thu âm: Tại mỗi khu vực bảo tồn, thiết lập các điểm thu âm cố định trên các đỉnh núi cao hoặc sườn dông có tầm bao quát rộng. Thiết bị ghi âm gồm máy ghi âm IC Recorder kết hợp micro định hướng Sennheiser MKE 300. Thời gian thu âm tập trung vào buổi sáng sớm (khoảng 5h00 đến 11h00), tiến hành 3 ngày liên tục tại mỗi điểm, không thu âm vào các ngày mưa to gió lớn.
  • Phương pháp phân tích số liệu âm học: Các file âm thanh được xử lý và phân tích bằng phần mềm chuyên dụng Avisoft SASLab Pro (Đức) để trích xuất biểu đồ phổ âm thanh (spectrogram), đo đạc tần số âm thanh thấp nhất, tần số âm thanh cao nhất, thời lượng các cụm âm và các pha tiếng hót. Số liệu tần số âm thanh sau đó được xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS.
  • Phương pháp xác định số lượng đàn và nơi phân bố: Căn cứ vào hướng thu âm, góc phương vị, cự ly âm thanh nghe được, sự trùng lặp thời gian phát âm giữa các điểm thu và phân tích đối chiếu phổ âm thanh của từng cá thể để xác định vị trí tọa độ của từng đàn vượn, tránh đếm lặp.
  • Phương pháp nghiên cứu tập tính sinh thái: Ghi nhận tập tính hót ngoài thực địa theo các khung giờ trong ngày; quan sát và ghi nhận tập tính ăn uống, tư thế ngồi, kiểu vận động đu cành, nhảy chuyền của cá thể vượn nuôi nhốt tại Trung tâm cứu hộ Linh trưởng nguy cấp Cúc Phương.

Tổng hợp công sức điều tra thực địa và thu thập số liệu âm thanh của luận án qua các năm:

Khu vực nghiên cứu Năm điều tra Số điểm thu âm Số ngày thu âm
KBT Sao la Thừa Thiên Huế 2012 10 30
2014 10 30
2016 10 30
2018 08 24
Tổng KBT Sao la TT-Huế 2012 - 2018 38 114
KBT loài và sinh cảnh Sao la Quảng Nam 2012 10 30
2014 10 30
2016 10 30
2018 08 18
Tổng KBT Sao la Quảng Nam 2012 - 2018 38 108
Vườn quốc gia Bạch Mã 2012 10 27
2014 10 30
2016 10 30
2018 08 24
Tổng VQG Bạch Mã 2012 - 2018 38 111
Tổng cộng cả ba khu vực 2012 - 2018 114 lượt điểm 333 ngày

Tổng số mẫu âm thanh ghi nhận được trong toàn bộ quá trình nghiên cứu là 128 files với tổng thời lượng tích lũy đạt 68.927 giây.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Chương này tổng kết có hệ thống cơ sở phân loại học, đặc điểm hình thái, sinh học và sinh thái học của họ Vượn (Hylobatidae) và giống Vượn mào (Nomascus). Giống Nomascus có khối lượng cơ thể trung bình 7 - 8 kg, nhiễm sắc thể lưỡng bội 2n = 52, có hiện tượng dị hình và dị sắc giới tính rõ rệt (vượn đực trưởng thành có mào lông dựng đứng và bộ lông màu đen; vượn cái trưởng thành có màu lông vàng nhạt, vàng da cam hoặc be nhạt; con non mới sinh có lông màu sáng, chuyển dần sang đen sau 1 - 2 năm và con cái chuyển lại màu vàng khi thành thục sinh dục ở 5 - 8 tuổi). Chương 1 phân tích hiện trạng của 6 loài và phân loài Vượn mào ở Việt Nam (N. nasutus, N. concolor, N. leucogenys, N. siki, N. annamensis, N. gabriellae) cùng các quy định bảo tồn tại Nghị định 06/2019/NĐ-CP (nhóm IB).

Về điều kiện khu vực nghiên cứu:

  • Khu bảo tồn Sao la Thừa Thiên Huế: Diện tích 15.519,93 ha thuộc địa bàn hai huyện A Lưới (9 tiểu khu) và Nam Đông (6 tiểu khu). Độ cao dao động từ 120 m đến 1.200 m, độ dốc bình quân 25°. Rừng nguyên sinh rậm thường xanh cây lá rộng đất thấp, ghi nhận 1.035 loài thực vật bậc cao và 564 loài động vật có xương sống (trong đó có 48 loài nguy cấp). Vùng đệm có 2.378 hộ với 10.457 nhân khẩu gồm các dân tộc Cơ Tu (45,60%), Kinh (23,35%), Tà Ôi (21,28%).
  • Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Sao la Quảng Nam: Diện tích vùng lõi 15.508,45 ha (gồm 22 tiểu khu), vùng đệm 35.135,44 ha. Đỉnh núi cao nhất đạt 1.446 m. Ghi nhận 154 loài động vật có xương sống trên cạn (31 loài thú, 61 loài chim, 34 loài bò sát, 28 loài lưỡng cư), có 5 loài đặc hữu Đông Dương gồm Sao la, Mang Trường Sơn, Chà vá chân nâu, Trĩ sao và Vượn đen má hung trung bộ. Dân số vùng đệm gồm 10.294 người thuộc 6 xã.
  • Vườn quốc gia Bạch Mã: Tổng diện tích 37.487 ha nằm trên địa phận hai tỉnh Thừa Thiên Huế và Quảng Nam; đỉnh Bạch Mã cao 1.450 m. Thảm thực vật gồm 2.373 loài nấm và thực vật; khu hệ động vật gồm 2.151 loài thuộc 51 bộ và 292 họ (trong đó có 136 loài thú, 365 loài chim). Vùng đệm có 12.960 hộ với 62.115 nhân khẩu.

Chương 2: THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương 2 mô tả chi tiết phương thức tổ chức thực địa và các bước kỹ thuật thu thập, phân tích số liệu:

  • Bố trí 10 điểm thu âm cố định tại mỗi khu bảo tồn trong giai đoạn 2012 - 2016. Đến năm 2018, qua theo dõi nhận thấy một số điểm không còn ghi nhận tín hiệu âm thanh của vượn nên số điểm thu âm tại mỗi khu vực rút xuống còn 8 điểm (tổng số điểm khảo sát qua 4 kỳ điều tra là 38 điểm/khu vực).
  • Tổng thời gian khảo sát thực địa đạt 333 ngày công, trong đó KBT Sao la Thừa Thiên Huế là 114 ngày, KBT loài và sinh cảnh Sao la Quảng Nam là 108 ngày và VQG Bạch Mã là 111 ngày.
  • Quy trình chuẩn hóa việc tiếp cận đỉnh núi cao, lắp đặt micro định hướng MKE 300 kết nối máy ghi âm IC Recorder, ghi chép điều kiện thời tiết, hướng âm thanh và cự ly phát âm.
  • Chi tiết phương pháp nhập dữ liệu âm thanh dạng sóng vào phần mềm Avisoft SASLab Pro để tạo biểu đồ phổ âm thanh (spectrogram), trích xuất các thông số tần số âm thanh (Hz) và sử dụng phần mềm SPSS để kiểm định, so sánh thống kê tần số âm thanh giữa các giới tính và giữa ba khu vực.
  • Kỹ thuật quan sát trực tiếp hành vi ăn uống và vận động của cá thể nuôi nhốt tại Trung tâm cứu hộ Linh trưởng nguy cấp Cúc Phương nhằm bổ sung các thông tin tập tính mà sinh cảnh tự nhiên không cho phép quan sát liên tục.

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Chương 3 trình bày các kết quả định lượng thu được qua phân tích âm học và điều tra thực địa:

  1. Phân bố và biến động số lượng đàn vượn: Luận án xác định tọa độ phân bố không gian của các đàn vượn tại ba khu vực nghiên cứu qua các đợt khảo sát, thể hiện biến động số lượng đàn:
Khu vực nghiên cứu Năm 2012 Năm 2014 Năm 2016 Năm 2018
KBT loài và sinh cảnh Sao la Quảng Nam (ghi nhận âm) 6 đàn 5 đàn 2 đàn
KBT Sao la Thừa Thiên Huế 21 đàn 3 đàn 15 đàn 14 đàn
Vườn quốc gia Bạch Mã 12 đàn 9 đàn 12 đàn 13 đàn

Tại KBT loài và sinh cảnh Sao la Quảng Nam, số đàn ghi nhận suy giảm từ 6 đàn (năm 2014) xuống còn 5 đàn (năm 2016) và chỉ còn 2 đàn (năm 2018). Tại KBT Sao la Thừa Thiên Huế, số đàn ghi nhận đạt cao nhất vào năm 2012 với 21 đàn, giảm xuống 3 đàn năm 2014 (do ảnh hưởng thời tiết và điều kiện khảo sát), sau đó duy trì ở mức 15 đàn (năm 2016) và 14 đàn (năm 2018). Tại VQG Bạch Mã, số lượng đàn duy trì tương đối ổn định với 12 đàn (năm 2012), 9 đàn (năm 2014), 12 đàn (năm 2016) và 13 đàn (năm 2018).

  1. Cấu trúc quần thể và các kiểu tiếng hót:
  • Cấu trúc bầy đàn gồm các đàn đơn tính (cá thể đực sô lô) và các đàn gia đình gồm một vượn đực trưởng thành, một vượn cái trưởng thành cùng các con non hoặc cá thể bán trưởng thành.
  • Phân tích âm học bằng SPSS trên tập dữ liệu ghi nhận (bao gồm phân tích chi tiết tần số trung bình của 86 cá thể vượn cái) cho thấy: tần số âm thanh của vượn đực và vượn cái có sự phân tách rõ rệt. Tần số tiếng hót của vượn cái bắt đầu ở dải tần trung bình thấp và tăng nhanh dần, đạt biên độ cao vút về cuối đoạn hót. Tiếng hót của vượn đực biến đổi đa dạng về nốt âm và lặp lại theo chu kỳ.
  • Phân loại 3 hình thức tiếng hót điển hình:
    • Hót đơn (sô lô): Chủ yếu do con đực trưởng thành phát ra khi chưa ghép đôi hoặc đã tách đàn đi tìm bạn đời để báo hiệu lãnh thổ và tìm kiếm bạn tình.
    • Hót đôi (song ca): Sự kết hợp đồng bộ giữa một con đực và một con cái trưởng thành đã ghép đôi, thường phát ra vào buổi sáng sớm trước khi đi kiếm ăn. Đoạn hót của con đực trải qua 4 giai đoạn: khởi đầu, chuẩn bị vào song ca, vào song ca và kết thúc; đoạn hót của con cái gồm 3 giai đoạn: khởi đầu, song ca và kết thúc.
    • Hót đa (hót phức): Tiếng hót hòa âm giữa cặp bố mẹ với các con non và cá thể bán trưởng thành trong đàn.
  1. Tập tính sinh thái:
  • Tập tính hót theo thời gian: Tiếng hót phát ra chủ yếu vào khoảng thời gian sáng sớm, dao động từ 6 đến 30 phút mỗi đợt.
  • Tập tính dinh dưỡng và vận động (quan sát tại Cúc Phương): Vượn có tập tính ngồi ăn, dùng tay trái hoặc tay phải cầm nắm thức ăn đưa lên miệng; ngồi xổm trên cành cây hoặc ngồi dưới đất. Vận động đặc trưng là đu cành chuyền tay (brachiation) với tốc độ cao, leo cây, nhảy xa tới 8 mét và có tư thế treo mình thả lỏng bằng một tay.
  1. Mối đe dọa và bảo tồn: Dữ liệu tuần tra rừng do WWF thực hiện giai đoạn 2011 - 2017 và 6 tháng cuối năm 2017 cho thấy áp lực từ các bẫy dây thép, lán trại trái phép của người dân vào rừng săn bắt động vật hoang dã và khai thác lâm sản phụ. Luận án xây dựng sơ đồ cây nguyên nhân xác định tình trạng thiếu việc làm của cư dân vùng đệm (khoảng 15% lao động thiếu việc làm) và áp lực kinh tế là yếu tố trực tiếp dẫn đến xâm hại sinh cảnh loài.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt lý luận khoa học và thực tiễn:

  • Lập được bản đồ phân bố không gian, xác định số lượng đàn, cấu trúc thành phần quần thể và mật độ cư trú của Vượn đen má hung trung bộ (Nomascus annamensis) tại Khu bảo tồn Sao la Thừa Thiên Huế, Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Sao la Quảng Nam và Vườn quốc gia Bạch Mã qua các mốc thời gian từ 2012 đến 2018.
  • Ứng dụng phần mềm Avisoft SASLab Pro xác định các đặc trưng âm học định lượng về tần số âm thanh thấp nhất, cao nhất của vượn đực trưởng thành, vượn cái trưởng thành (phân tích chi tiết 86 vượn cái qua SPSS), vượn bán trưởng thành; làm rõ 3 hình thức phát âm gồm hót sô lô, hót song ca và hót phức.
  • Cung cấp dữ liệu về tập tính xã hội biểu hiện qua tiếng hót ngoài tự nhiên và bổ sung dẫn liệu mô tả tập tính ăn, uống, các kiểu tư thế vận động của loài trong điều kiện nuôi nhốt tại Trung tâm cứu hộ Linh trưởng nguy cấp Cúc Phương.
  • Cập nhật số liệu tuần tra thực tế về các mối đe dọa (lán trại, bẫy bắt thú rừng) từ dự án WWF và xây dựng cây nguyên nhân làm cơ sở đề xuất hệ thống giải pháp bảo tồn loài và sinh cảnh tại khu vực Trung Trường Sơn.

Các giải pháp bảo tồn được đề xuất tập trung vào:

  • Duy trì và tăng cường hoạt động tuần tra thực thi pháp luật của lực lượng kiểm lâm phối hợp với các đội tuần tra bảo vệ rừng chuyên trách để tháo dỡ bẫy thú và triệt phá lán trại trái phép.
  • Bảo vệ nguyên vẹn các sinh cảnh rừng tự nhiên thường xanh đất thấp và rừng trên núi đá, ngăn chặn chia cắt sinh cảnh do xây dựng đường giao thông hoặc công trình thủy điện.
  • Nâng cao nhận thức bảo tồn cho cộng đồng dân cư vùng đệm và hỗ trợ sinh kế nhằm giảm bớt sự phụ thuộc của người dân bản địa vào tài nguyên rừng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế nghiên cứu:

  • Hoạt động thu âm tiếng hót ngoài thực địa bị chi phối bởi các yếu tố thời tiết; các đợt mưa lớn kéo dài làm gián đoạn việc thu âm hoặc làm giảm chất lượng âm thanh thu được.
  • Địa hình vùng núi Trung Trường Sơn hiểm trở, độ chia cắt sâu và độ dốc lớn khiến việc tiếp cận trực tiếp để quan sát cá thể ngoài tự nhiên gặp nhiều trở ngại; do đó dữ liệu tập tính ăn uống và phương thức vận động chi tiết phải thực hiện trên các cá thể nuôi nhốt tại Trung tâm cứu hộ Linh trưởng nguy cấp Cúc Phương thay vì theo dõi liên tục ngoài sinh cảnh hoang dã.
  • Một số điểm thu âm không còn ghi nhận tín hiệu vượn trong các đợt khảo sát sau dẫn đến việc phải giảm quy mô điểm thu từ 10 xuống 8 điểm vào năm 2018.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Duy trì chương trình giám sát âm học dài hạn tại các điểm cố định để theo dõi biến động số lượng cá thể và nguy cơ suy thoái cục bộ của quần thể, đặc biệt tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Sao la Quảng Nam.
  • Mở rộng phạm vi khảo sát âm học sang các vùng rừng phòng hộ đầu nguồn lân cận thuộc dải Trường Sơn nối giữa Thừa Thiên Huế, Quảng Nam và Kon Tum để xác định các hành lang sinh cảnh di chuyển của loài.
  • Triển khai nghiên cứu chuyên sâu về thành phần thức ăn tự nhiên và tập tính sinh thái dinh dưỡng của loài ngoài môi trường rừng hoang dã.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng và lĩnh vực sau:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Động vật học, Sinh thái học, Quản lý tài nguyên rừng và Bảo tồn đa dạng sinh học: Tham khảo khung phương pháp luận về việc sử dụng kỹ thuật âm sinh học (bioacoustics) để điều tra định lượng các loài linh trưởng sống trên tán rừng khó quan sát bằng mắt thường; quy trình xử lý dữ liệu sóng âm bằng phần mềm Avisoft SASLab Pro và phân tích thống kê tần số âm thanh qua SPSS.
  • Cán bộ kỹ thuật và Ban quản lý các khu rừng đặc dụng (KBT Sao la Thừa Thiên Huế, KBT loài và sinh cảnh Sao la Quảng Nam, VQG Bạch Mã): Sử dụng các bản đồ phân bố vị trí đàn và số liệu mật độ bầy đàn qua các năm để xây dựng kế hoạch phân vùng bảo vệ nghiêm ngặt, bố trí tuyến tuần tra tháo gỡ bẫy bắt thú rừng.
  • Các tổ chức bảo tồn quốc tế (như Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên - WWF, Hội Động vật Frankfurt): Sử dụng dữ liệu về biến động số lượng bầy đàn giai đoạn 2012 - 2018 và cây nguyên nhân đe dọa để đánh giá hiệu quả của các dự án bảo tồn đa dạng sinh học (như dự án CARBI, VCF) và hoạch định các chương trình hỗ trợ sinh kế cho cộng đồng vùng đệm.

Câu hỏi thường gặp

  1. Loài Vượn đen má hung trung bộ (Nomascus annamensis) được mô tả và công bố chính thức vào năm nào, dựa trên những căn cứ khoa học nào? Loài này được Văn Ngọc Thịnh, Mootnick, Vũ Ngọc Thành, Nadler & Roos chính thức mô tả và công bố vào năm 2010. Việc xác lập loài mới được dựa trên các phân tích so sánh đối chiếu về hình thái bên ngoài (màu lông má hung vàng ngắn không kéo dài lên trên mặt con đực), đặc điểm di truyền phân tử (khác biệt về gen với các loài cùng giống Nomascus) và các đặc trưng âm học tiếng hót (khác biệt về tần số và nhịp độ âm thanh so với N. siki và N. gabriellae).

  2. Tổng quy mô thời gian thực địa và khối lượng dữ liệu âm thanh mà luận án đã thu thập được là bao nhiêu? Tổng thời gian khảo sát thực địa thu âm tiếng hót vượn tại ba khu vực nghiên cứu là 333 ngày công (trong đó KBT Sao la Thừa Thiên Huế là 114 ngày, KBT loài và sinh cảnh Sao la Quảng Nam là 108 ngày và VQG Bạch Mã là 111 ngày), thực hiện trên 114 lượt điểm thu. Kết quả đã ghi nhận và xử lý được 128 files âm thanh với tổng thời lượng đạt 68.927 giây.

  3. Biến động số lượng đàn vượn ghi nhận tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Sao la Quảng Nam diễn ra như thế nào qua các năm điều tra? Số lượng đàn vượn ghi nhận tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Sao la Quảng Nam có xu hướng giảm liên tục qua các đợt khảo sát: năm 2014 ghi nhận được 6 đàn phân bố tại các khu vực điều tra; năm 2016 giảm xuống còn 5 đàn; và đến năm 2018 chỉ còn ghi nhận được 2 đàn vượn phát âm tiếng hót.

  4. Luận án phân loại tiếng hót của Vượn đen má hung trung bộ thành những hình thức điển hình nào và cấu trúc ra sao? Luận án phân loại tiếng hót thành 3 hình thức điển hình:

  • Hót đơn (sô lô): Thường do các con đực chưa ghép đôi phát ra để đánh dấu lãnh thổ hoặc tìm bạn đời.
  • Hót đôi (song ca): Do cặp đực và cái trưởng thành phối hợp phát ra vào sáng sớm trước khi đi ăn; tiếng hót con đực gồm 4 giai đoạn (khởi đầu, chuẩn bị vào song ca, vào song ca, kết thúc) và con cái gồm 3 giai đoạn (khởi đầu, song ca, kết thúc).
  • Hót đa (hót phức): Tiếng hót hòa âm tập thể giữa cặp bố mẹ và các con non hoặc con bán trưởng thành trong đơn vị gia đình.
  1. Luận án sử dụng các thiết bị phần cứng và phần mềm chuyên dụng nào để thu thập và phân tích dữ liệu âm thanh? Thiết bị thu âm thực địa gồm máy ghi âm IC Recorder kết hợp micro định hướng Sennheiser MKE 300. Phần mềm chuyên dụng để phân tích phổ âm thanh, đo đạc tần số và trích xuất spectrogram là Avisoft SASLab Pro (sản xuất tại Đức). Phần mềm thống kê được sử dụng để kiểm định, phân tích các chỉ số tần số trung bình thấp nhất và cao nhất là SPSS.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Thiện đã thực hiện nghiên cứu chuyên sâu về phân bố không gian, cấu trúc đàn và âm học tiếng hót của Vượn đen má hung trung bộ (Nomascus annamensis) tại ba khu rừng đặc dụng trọng điểm thuộc miền Trung Việt Nam qua 333 ngày khảo sát thực địa từ năm 2012 đến 2018. Bằng phương pháp phân tích âm sinh học qua phần mềm Avisoft SASLab Pro và thống kê SPSS trên 128 files âm thanh (thời lượng 68.927 giây), tác giả đã định lượng hóa các đặc trưng tần số tiếng hót đực, cái, bán trưởng thành cũng như mô tả các hình thức hót sô lô, song ca và hót phức. Kết quả nghiên cứu chỉ ra sự biến động và suy giảm đàn vượn tại một số điểm khảo sát, đồng thời xác lập cơ sở thực tiễn từ áp lực bẫy bắt để đề xuất các giải pháp bảo tồn loài linh trưởng đặc hữu nguy cấp này.