Luận án tiến sĩ sinh học nghiên cứu sự phân bố cấu trúc quần thể và một số tập tính của vượn đen má hung trung bộ ở việt nam bằng phương pháp phân tích âm học

Luận án tiến sĩ sinh học nghiên cứu phân bố cấu trúc quần thể và tập tính vượn đen má hung Trung Bộ tại Việt Nam qua phân tích âm học.

Trường đại học

Đại học Sư Phạm Huế

Chuyên ngành

Động vật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

171
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Nghiên cứu phân bố cấu trúc quần thể

Nghiên cứu tập trung vào việc xác định sự phân bố và cấu trúc quần thể của Vượn đen má hung Trung Bộ (Nomascus annamensis) tại ba khu vực chính: Khu bảo tồn Sao la Thừa Thiên Huế, Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Sao la Quảng Nam, và Vườn quốc gia Bạch Mã. Phương pháp phân tích âm học được sử dụng để ghi nhận tiếng hót của vượn, từ đó xác định vị trí phân bố và số lượng đàn. Kết quả cho thấy sự biến động về số lượng đàn qua các năm, phản ánh tình trạng bảo tồn và môi trường sống của loài.

1.1. Phân bố quần thể

Nghiên cứu ghi nhận sự phân bố của Vượn đen má hung Trung Bộ tại các khu vực rừng nhiệt đới, nơi có điều kiện sinh thái phù hợp. Số lượng đàn được xác định qua tiếng hót, với mật độ phân bố khác nhau giữa các khu vực. Khu bảo tồn Sao la Thừa Thiên Huế ghi nhận số lượng đàn cao nhất, trong khi Vườn quốc gia Bạch Mã có mật độ thấp hơn.

1.2. Cấu trúc quần thể

Cấu trúc quần thể của Vượn đen má hung Trung Bộ được phân tích dựa trên số lượng cá thể trong mỗi đàn và tỷ lệ giới tính. Kết quả cho thấy sự cân bằng giữa vượn đực và vượn cái, với sự hiện diện của các cá thể bán trưởng thành, phản ánh khả năng sinh sản và phát triển của quần thể.

II. Tập tính vượn đen má hung Trung Bộ

Nghiên cứu tập trung vào các tập tính sinh học của Vượn đen má hung Trung Bộ, bao gồm tập tính hót, ăn uống, và vận động. Tiếng hót của vượn được phân tích chi tiết, cho thấy sự khác biệt giữa vượn đực và vượn cái, cũng như các hình thức hót như hót đơn, hót đôi, và hót phức. Tập tính ăn uống và vận động được quan sát trong điều kiện nuôi nhốt, cung cấp thông tin về thói quen sinh hoạt của loài.

2.1. Tập tính hót

Tiếng hót của Vượn đen má hung Trung Bộ được ghi nhận và phân tích bằng phần mềm Avisoft SASLab Pro. Kết quả cho thấy sự khác biệt về tần số âm thanh giữa vượn đực và vượn cái, cũng như các hình thức hót như hót đơn, hót đôi, và hót phức. Tiếng hót đóng vai trò quan trọng trong giao tiếp và thiết lập lãnh thổ.

2.2. Tập tính ăn uống và vận động

Tập tính ăn uống của Vượn đen má hung Trung Bộ được quan sát trong điều kiện nuôi nhốt, cho thấy sự ưa thích các loại trái cây và lá cây. Tập tính vận động bao gồm leo trèo, nhảy, và đu cây, phản ánh khả năng thích nghi với môi trường rừng nhiệt đới.

III. Phân tích âm học trong nghiên cứu động vật

Phương pháp phân tích âm học được sử dụng để nghiên cứu tiếng hót của Vượn đen má hung Trung Bộ, cung cấp thông tin về đặc điểm âm thanh và tập tính giao tiếp của loài. Kết quả phân tích cho thấy sự khác biệt về tần số âm thanh giữa các cá thể, giới tính, và độ tuổi, giúp xác định cấu trúc quần thể và mối quan hệ xã hội trong đàn.

3.1. Đặc điểm âm thanh

Phân tích âm thanh tiếng hót của Vượn đen má hung Trung Bộ cho thấy sự khác biệt về tần số âm thanh giữa vượn đực và vượn cái. Vượn đực có tần số âm thanh cao hơn, trong khi vượn cái có tần số thấp hơn. Sự khác biệt này phản ánh vai trò giới tính trong giao tiếp và thiết lập lãnh thổ.

3.2. Ứng dụng trong nghiên cứu

Phương pháp phân tích âm học không chỉ giúp xác định vị trí phân bố và số lượng đàn mà còn cung cấp thông tin về tập tính và cấu trúc quần thể của Vượn đen má hung Trung Bộ. Đây là công cụ quan trọng trong nghiên cứu và bảo tồn động vật hoang dã.

IV. Bảo tồn động vật hoang dã

Nghiên cứu đánh giá các mối đe dọa đối với Vượn đen má hung Trung Bộ, bao gồm săn bắn và mất môi trường sống. Các giải pháp bảo tồn được đề xuất, tập trung vào việc bảo vệ môi trường sống, tăng cường tuần tra, và nâng cao nhận thức cộng đồng. Kết quả nghiên cứu góp phần vào việc bảo tồn và phát triển bền vững quần thể loài.

4.1. Mối đe dọa

Vượn đen má hung Trung Bộ đối mặt với nhiều mối đe dọa, bao gồm săn bắn trái phép và mất môi trường sống do phá rừng. Những yếu tố này dẫn đến sự suy giảm nghiêm trọng về số lượng và phân bố của loài.

4.2. Giải pháp bảo tồn

Các giải pháp bảo tồn được đề xuất bao gồm tăng cường tuần tra, bảo vệ môi trường sống, và nâng cao nhận thức cộng đồng về tầm quan trọng của Vượn đen má hung Trung Bộ. Nghiên cứu cũng đề xuất các chính sách quản lý và bảo tồn hiệu quả.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ sinh học nghiên cứu sự phân bố cấu trúc quần thể và một số tập tính của vượn đen má hung trung bộ ở việt nam bằng phương pháp phân tích âm học

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu sơ lược kết quả nghiên cứu về họ Vượn (Hylobatidae) 1. Phân loại học Các loài Linh trưởng họ Vượn (Hylobatidae) cùng với các loài Khỉ lớn không đuôi khác được gọi chung là Khỉ dạng người phân bố trên toàn bộ các khu vực rừng mưa nhiệt đới Đông Nam Á [48], [62], [64], [65], [71]. Chúng có một số đặc điểm tương tự với loài người về hình thái, sinh lý, di truyền tế bào và dữ liệu phân tử thuộc bộ Linh trưởng (Primates) [60], [69], [78], [81], [112].

Quan điểm này được khẳng định bởi các kết quả nghiên cứu so sánh về hình thái [31], [128], [133], [135], [136]; sinh lý [89]; di truyền tế bào [155] và dữ liệu phân tử [30], [53], [58], [61], [76], [77], [79], [80], [81], [132], [137], [138]. Họ Vượn chỉ phân bố ở các khu rừng nhiệt đới vùng Đông Nam Á và các vùng lân cận, từ Assam qua Burma, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đảo Hải Nam (Trung Quốc), Malaysia, Indonesia (Sumatra, Java, Borneo) và phía Nam Trung Quốc [45], [66], [78], [79], [107]. Như vậy, vùng Đông Nam Á và các vùng lân cận nêu trên là nơi duy nhất trên thế giới có mặt các loài vượn trong tự nhiên. Họ Vượn được xem là đặc hữu của vùng Đông Nam Á và các vùng lân cận.

Tuy số loài không nhiều và trong những thập kỷ qua, nhiều nghiên cứu khác nhau tập trung vào phân loại học, nhưng hệ thống phân loại họ Vượn vẫn còn có những ý kiến khác nhau. Ban đầu họ Vượn bao gồm hai giống: giống Symphalangus, gồm các loài Vượn đen lớn bản địa phân bố ở các đảo của Indonesia (Sumatra, Borneo) và bán đảo Malaysia và giống Hylobates, bao gồm tất cả các loài vượn còn lại phân bố trong lục địa [117]. Tuy nhiên, theo Groves C. (1972) [78] dựa trên kết quả phân tích nhiễm sắc thể đã chia họ Vượn thành ba giống với 9 loài: giống Symphalangus có 50 nhiễm sắc thể chỉ có 1 loài, giống Nomascus có 52 nhiễm sắc thể với 1 loài và giống Hylobates với 44 nhiễm sắc thể có 7 loài.

Sự phân chia họ 4 Vượn ra 03 giống như thế này đã được sự ủng hộ của một số nhà khoa học [47], [97]. Tuy nhiên, Corbet G. Dựa trên các nghiên cứu di truyền tế bào bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội, nhiều nhà khoa học đã thống nhất, rằng họ Vượn (Hylobatidae) có 4 giống: Hoolock (trước đây có tên Bunopithecus) (2n = 38), Hylobates (2n = 44), Symphalangus (2n = 50) và Nomascus (2n = 52) [113], [114], [125], [158]. Trên cơ sở phân tích âm học và di truyền, Văn Ngọc Thịnh và nnk (2001a), một lần nữa đã khẳng định quan điểm này, rằng họ Vượn (Hylobatidae) trên toàn vùng phân bố ở vùng Đông Nam Á được phân ra 4 giống với 24 loài và phân loài (Bảng 1.

Chúng phân bố ở các khu vực khác nhau trong vùng Đông Nam Á, trong đó có 6 loài và phân loài vượn phân bố ở Việt Nam (Hình 1. Một số đặc điểm sinh học, sinh thái họ Vượn (Hylobatidae) Đặc điểm sinh học, sinh thái họ Vượn đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu. Dưới đây chỉ điểm lại một số kết quả đã được khẳng định có liên quan tới Vượn mào. Hình thái và cấu tạo: Vượn cũng có các đặc điểm điển hình chung với các loài Linh trưởng trong tổng họ Khỉ dạng người (Hominoidae), như không có đuôi, bộ não to, phần ngực rộng, xương bả ở phía lưng, xương đòn dài, chi trước rất dài, xương cánh tay có mấu ròng rọc hình thìa, vùng eo lưng thắt nhỏ, số đốt sống cùng nhiều hơn, đuôi tiêu giảm, xương chậu tương đối rộng và vùng chai sần háng tiêu giảm.

Những đặc điểm đó tách biệt rõ ràng vượn với các loài Linh trưởng khác [60]. Vượn có mức độ dị hình giới tính cao, không làm tổ, chọn những cành, nhánh to đủ để ngủ, nghỉ vào ban đêm và kết đôi suốt đời. Tùy từng loài và phụ thuộc vào giới tính mà bộ lông của vượn có thể có màu từ nâu sẫm tới nâu nhạt, có khi đốm loang màu đen hay trắng. Thành phần loài và phân loài họ Vượn (Hylobatidae) (theo Văn Ngọc Thịnh 2010) [148] Tên loài và phân loài Tên Giống Tên khoa học Tên tiếng Anh, tiếng Việt Hoolock H.

hoolock Western hoolock gibbon (Vượn Cáo) H. leuconedys Eastern hoolock gibbon H. klossii Kloss’s gibbon H. pileatus Pileated gibbon H.

moloch Javan gibbon H. agilis Agile gibbon H. albibarbis White-bearded gibbon H. muelleri Müller’s gibbon Hylobates H.

funereus Northern Bornean gibbon (Vượn Lùn) H. abbotti Abbott’s gibbon H. lar White-handed or lar gibbon H. lar Malayan lar gibbon H.

yunnanensis Yunnan lar gibbon H. carpenteri Carpenter’s lar gibbon H. entelloides Mainland lar gibbon H. vestitus Sumatran lar gibbon Black crested gibbon, Vượn đen tuyền tây N.

hainanus Hainan crested gibbon, Vượn hải nam Nomascus N. nasutus Cao-vit crested gibbon, Vượn đen cao vít (Vượn Mào) Northern white-cheeked gibbon, Vượn đen N. siki Southern white-cheeked gibbon, Vượn siki Northern yellow-cheeked gibbon, Vượn đen N. annamensis má hung trung bộ Southern yellow-cheeked gibbon, Vượn đen N.

gabriellae má vàng Symphalangus S. syndactylus Siamang (Vượn Xiêm) 6 Hình 1. Khu vực phân bố các loài vượn ở vùng Đông Nam Á và phụ cận (theo Văn Ngọc Thịnh, 2010c) [152] 7 Thông thường, con non mới sinh ra dù đực hay cái đều có màu lông tương tự con cái trưởng thành. Màu lông con cái trưởng thành là màu vàng hoặc nâu và màu lông con đực trưởng thành là màu xám hoặc màu đen.

Sau khoảng hai năm, lông của vượn non thay đổi thành một màu đen tối, tương tự như màu của con đực trưởng thành. Khi chúng đã thành thục (khoảng 5 - 8 tuổi), con cái biến đổi lại thành màu lông điển hình của chúng, trong khi con đực vẫn giữ màu đen tối [42], [63], [71], [93], [122], [127]. Khối lượng cơ thể vượn đạt đến trọng lượng tối đa là 15 kg [64], [67], [71], [78]. Tập tính sinh thái: Vượn sống trong một khu vực nhỏ, cặp đôi gồm một đực và một cái trưởng thành sống như vợ chồng với con cái của chúng theo đơn vị gia đình [81].

Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây cho thấy rằng có những trường hợp ngoại lệ, các đơn vị gia đình bao gồm hơn một con cái và một con đực trưởng thành khá phổ biến trong nhiều quần thể vượn [32], [40], [93], [122], [127], [139]. Hơn nữa, các nghiên cứu di truyền và hành vi xác nhận thêm cặp quan hệ cha con [122], [127], hoặc nhập hoặc tách đàn của con trưởng thành, hoặc con bán trưởng thành tạo nên các đàn mới [71], [93], [120]. Vượn có những khác biệt với các nhóm Linh trưởng khác ở ba yếu tố chính: Vận động, cấu trúc xã hội và thông tin liên lạc [68], [71]. Về vận động: Vượn sống trên cây và chủ yếu di chuyển bằng tay [46], [96].

Chúng di chuyển bằng cách đu người vào cành cây bằng tay, lấy đà và đẩy người về phía trước bằng một tay, tay kia bám vào cành cây phía trước tiếp theo, cứ như thế chúng chuyển từ cành này sang cành khác và từ cây này sang cây khác trên không trung trên đường di chuyển của nó [72], [81], [82], [83]. Vượn có thói quen đứng ở tư thế thẳng [46], treo cơ thể rất độc đáo bằng cách thả lỏng toàn thân như người đang vít xà đơn mỗi khi ở trên cành cây. Chúng phát triển vượt trội so với các loài thú khác, khi di chuyển chuyền cành bằng hai tay, đu từ cành này sang cành khác, vận tốc cao tới 56 km/h (35 m/ph)… Chúng nhanh nhẹn và uyển chuyển nhất trong số các loài thú sống trên cây cao không biết bay. Vượn cũng có thể nhảy xa tới 8 m.

Để thích ứng với lối sống trên cây, vượn có chân tay dài nhưng tương đối nhỏ so với đười ươi và người [46], [71]. Tuy thích 8 nghi chuyên hóa với đời sống trên cây, nhưng đôi khi vượn cũng có thể xuống đất, đi lại bằng hai chân với hai tay giơ lên để giữ thăng bằng [64], [71], [78]. Về tiếng hót: Tiếng hót của vượn đã được nghiên cứu từ lâu. Các nhà khoa học xác định tiếng hót của vượn non thể hiện tiếng hót điển hình của loài từ bố mẹ, có tính di truyền hơn là do sự học tập [35], [44], [108].

Tất cả các loài vượn đều được biết là tạo ra các âm lạ lớn, dài, nhiều âm tiết và rập khuôn, gọi là tiếng hót lứa đôi của vượn [64], [66], [69], [85], [76]. Tiếng hót được phát ra vào buổi sáng sớm và kéo dài khoảng từ 6 đến 30 phút. Hầu hết ở các loài vượn, các cá thể kết hợp tiếng hót của mình tạo nên tiếng hót song ca, rập khuôn cả về cách thức và có cấu trúc đặc trưng riêng của loài [41], [68]. Trong nhiều năm gần đây, quan điểm này đã được củng cố và ủng hộ bởi các nghiên cứu về các mô hình tiếng hót của vượn lai trong môi trường nuôi nhốt hoặc ngoài môi trường hoang dã tự nhiên ở những vùng có các loài lai tạo [39], [64], [65], [106], [107], [108].

Những nghiên cứu này cho thấy rằng, các nhóm lai thể hiện tiếng hót và cấu trúc tiếng hót khác với những tiếng hót của cả bố và mẹ. Tiếng hót của các con lai trong một số khía cạnh là trung gian giữa các dạng bố mẹ, cho thấy đặc tính tiếng hót đặc trưng cho loài vượn được xác định chủ yếu về mặt di truyền. Vì vậy, nó đã được chứng minh rằng, đặc điểm tiếng hót của vượn là hữu ích cho việc đánh giá các mối quan hệ giữa các loài trong hệ thống của giống (genus) và cho phép xác định lại hệ thống phát sinh loài vượn [49], [64], [69], [84], [85], [86], [87], [106]. Hơn nữa, năm 2002, Geissmann et al.

(2000a) [71] đã sử dụng phương pháp cladistic cây phát sinh chủng loại so sánh ba loại dữ liệu khác nhau (dữ liệu màu lông, giải phẫu/ dữ liệu hình thái/dữ liệu âm thanh) đã chứng tỏ chúng phù hợp cho việc sắp xếp theo hệ thống phát sinh các loài vượn. Trong số ba bộ dữ liệu, thì dữ liệu âm thanh tiếng hót tạo ra các số liệu sinh học đáng tin cậy nhất dùng để tính toán, đánh giá cây phát sinh loài. Các tác giả kết luận, rằng dữ liệu âm thanh xuất hiện là phù hợp hơn cho xây dựng lại phát sinh loài vượn hơn hai bộ dữ liệu khác về màu lông, giải phẫu và dữ liệu hình thái. Việc sử dụng âm thanh để nghiên cứu vượn thông qua phân tích tiếng hót cũng đã được tiến hành ở Việt Nam, nhưng số lượng vẫn còn ít, chỉ dừng lại thu âm để xác định sự phân bố của loài.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu phân bố cấu trúc quần thể và tập tính vượn đen má hung Trung Bộ bằng phân tích âm học" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự phân bố và hành vi của loài vượn đen má hung tại khu vực Trung Bộ Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về cấu trúc quần thể của loài động vật này mà còn chỉ ra tầm quan trọng của việc bảo tồn và bảo vệ môi trường sống của chúng. Bằng cách sử dụng phân tích âm học, tài liệu mở ra một phương pháp mới trong việc nghiên cứu động vật hoang dã, từ đó giúp các nhà khoa học và nhà bảo tồn có thêm công cụ để theo dõi và bảo vệ các loài đang gặp nguy hiểm.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các nghiên cứu liên quan đến động vật và phương pháp nghiên cứu, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu các yếu tố tiên đoán kết quả dài hạn của nong van hai lá bằng bóng inoue, nơi khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe động vật. Ngoài ra, tài liệu Toàn văn luận án 1732610928437 cũng có thể cung cấp thêm thông tin về các phương pháp nghiên cứu khoa học. Cuối cùng, bạn có thể tham khảo Tiểu luận khái luận chung về logic học để hiểu rõ hơn về các phương pháp phân tích và lý luận trong nghiên cứu khoa học. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và cái nhìn về các vấn đề liên quan đến động vật và nghiên cứu khoa học.