MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Nghiên cứu về học tập của SV được xem là xu hướng chung và tất yếu của những người làm giáo dục. Nghiên cứu về phương thức học (PTH) được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu từ những năm 70 như là Marton và Saljo (1976), Entwistle (1983, 1984, 1997), Biggs (1987, 1993, 2001), Dolmans (2016), Doleck (2020), Qingna (2023), v.v… Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng sinh viên (SV) có ba dạng PTH: học bề mặt (Surface learning approaches), học sâu (Deep learning approaches) và học có chiến lược (Strategic learning approaches). Phương thức học sâu nhấn mạnh đến động cơ nội tại, tập trung vào khả năng giải quyết vấn đề, nâng cao khả năng tư duy phản biện (Qingna, 2023).
Trong khi đó, SV với PTH học bề mặt kết quả đạt được ở mức độ tư duy bậc thấp (Marton và Saljo, 1976; Biggs và Collis, 1982). Sinh viên có PTH nào là do sự tác động của các yếu tố ảnh hưởng thuộc về đặc điểm SV và bối cảnh học tập. Do đó, để có những thiết kế dạy học phù hợp nhằm tác động nâng cao kết quả học tập GV hiểu về PTH của SV là cần thiết. Theo Theodore Von Karman (Hồ Tấn Nhựt, 2010), “Nhà khoa học thì khám phá ra những thứ tồn tại trên thế giới; người kỹ sư thì kiến tạo những thứ chưa từng có”.
Có thể nhận thấy, công việc chính yếu của người kỹ sư là vận dụng một cách có hiệu quả các kiến thức khoa học vào thực tiễn và tạo ra các ứng dụng nhằm đáp ứng nhu cầu cuộc sống. Ngày nay, với xã hội công nghiệp 4.0 là xã hội của tư duy bậc cao và sự sáng tạo, trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence), IoT (Internet of Things), … phát triển ngày càng mạnh mẽ và được ứng dụng vào nhiều lĩnh vực. Xã hội công việc sẽ có sự cạnh tranh giữa trí tuệ, kỹ năng của con người và Robot trong tương lai. Vì vậy, SV ngành Kỹ thuật Công nghệ cần có kỹ năng tư duy bậc cao để có thể đảm đương công việc, phát triển và sáng tạo hơn là chỉ có khả năng xử lý công việc mang tính rập khuôn, máy móc.
Xã hội công việc cần SV ngành kỹ thuật ra trường có khả năng nhận thức ở mức cao, năng lực không chỉ đòi hỏi đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp ở mức đạt (mức vận dụng được) mà còn phải có khả năng phát triển, tạo ra cái mới hay giải quyết các vấn đề phức tạp. Lý luận dạy học nhấn mạnh vai trò trung tâm của hoạt động học. Trong đó, SV đóng vai trò chủ thể và quyết định đến kết quả học tập. Cách học của SV có ảnh hưởng 1 đến kết quả học tập (Marton và Saljo, 1976; Biggs và Collis, 1982).
Cho nên, việc tìm hiểu PTH vào giảng dạy có ý nghĩa quan trọng, đặc biệt phát triển PTH phù hợp cho SV ngành Kỹ thuật công nghệ nhằm đạt mục tiêu phát triển giáo dục bền vững trong bối cảnh khoa học công nghệ kỹ thuật phát triển một cách vượt bậc như hiện nay. Theo quan điểm chỉ đạo của Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 đã nêu rõ: “…đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc.…” :“…Chú trọng phát triển năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, đạo đức nghề nghiệp và hiểu biết xã hội, từng bước tiếp cận trình độ khoa học và công nghệ tiên tiến của thế giới…” (Ban chấp hành TW, 2013). Nghị quyết cũng đã chỉ ra cần thay đổi phương pháp dạy học nhằm thúc đẩy tính tích cực, chủ động, phát triển khả năng vận dụng và năng lực sáng tạo ở SV. Giảng viên cần dạy cách học, khuyến kích SV tự học, tránh ghi nhớ máy móc.
Với cách học chủ động, tích cực, học hiểu bản chất luôn là yếu tố cốt lõi nhằm giúp SV có thể đáp ứng với mọi sự thay đổi trong thế giới công việc. Tuy nhiên, về thực trạng học tập hiện nay, nhiều giảng viên (GV) cho rằng trong quá trình học tập còn nhiều SV không quan tâm nhiều đến việc học, học thụ động, học đối phó cho qua môn dẫn đến kết quả học không tốt, năng lực kém,…Trong khi đó, bối cảnh xã hội có sự gia tăng nhanh về lượng kiến thức cũng như sự phát triển nhanh của khoa học kỹ thuật thì theo lẽ đương nhiên SV phải học “chắc” (học hiểu bản chất) để có thể tồn tại và phát triển nghề nghiệp, hay SV cần có PTH sâu. Do đó, đây cũng là vấn đề mà nhiều trường ĐH đang phải đối mặt khi có nhiều SV chỉ học đối phó, không hứng thú với việc học hơn là học để hiểu bản chất và vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề trong nhiều tình huống khác nhau. Theo thống kê của Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin, thị trường lao động TP.Hồ Chí Minh cho thấy nhóm ngành kỹ thuật công nghệ hiện nay chiếm tỷ trọng 45% nhu cầu thị trường lao động.
Trong đó, các ngành trọng điểm như Điện, Cơ 2 khí, Công nghệ thông tin, Hóa dược, Thực phẩm,… chiếm tỷ trọng gần 24% thị trường lao động. Khi khoa học kỹ thuật ngày một phát triển thì lĩnh vực kỹ thuật luôn có nhu cầu lao động cao. Tuy nhiên, hàng năm, số SV ra trường khoảng 20% không tìm được việc, 40% SV có năng lực không đáp ứng được yêu cầu công việc dẫn đến việc làm trái ngành nghề. Nhiều SV thiếu năng lực nghề nghiệp, khó xoay xở trong công việc đã dẫn đến một thực trạng thị trường lao động “vừa thừa-vừa thiếu” (Trần Anh Tuấn, 2018).
Điều này cho thấy xã hội luôn có nhu cầu lao động trong lĩnh vực kỹ thuật nhưng năng lực của SV ra trường không đáp ứng được. Vậy, dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn, câu hỏi đặt ra là nguyên nhân nào dẫn đến các vấn đề trên? Có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả học tập, ảnh hưởng đến năng lực nghề nghiệp, nhưng theo người nghiên cứu tập trung nhiều ở điểm mấu chốt xuất phát từ vấn đề “tự thân” ở SV. Bởi vì, SV là chủ thể của hoạt động học, có vai trò quyết định đối với việc học tập của chính họ. Giảng viên là người tổ chức, tạo điều kiện, khuyến khích, gợi mở, chuyển tải thông tin có liên quan.
Thông tin sẽ được tiếp nhận, xử lý như thế nào là phụ thuộc rất nhiều ở cách học, cách xử lý vấn đề của SV. Có thể nói rằng, cách học đúng, phù hợp luôn là yếu tố nền tảng nhằm giúp SV đạt được kết quả học tập tốt. Vì vậy, với thực trạng học tập hiện nay, sự thay đổi về cách học và cách dạy là cần thiết và cấp bách nhằm giúp SV có năng lực đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Để có cơ sở cho việc thay đổi về cách học, cách dạy nhằm hướng SV đến PTH sâu (học tích cực, chủ động, học hiểu bản chất, …), nghiên cứu cần làm rõ thực trạng PTH của SV, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến PTH.
Trên cơ sở đó, GV có những tác động, hướng dẫn SV phát triển PTH sâu. Nghiên cứu về PTH, mặc dù đã được quan tâm bởi nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới, như các nhóm nghiên cứu của Marton và Saljo, Biggs, Entwistle,… nhưng vẫn còn khá mới cho các nhà nghiên cứu tại Việt Nam. Hơn nữa, người nghiên cứu làm việc trong môi trường giảng dạy kỹ thuật nên cũng có những mong muốn tìm hiểu, phát triển PTH sâu cho SV. Vì vậy, để làm rõ những vấn đề trên, người nghiên cứu thực hiện đề tài “Nghiên cứu phương thức học của SV các trường Đại học Kỹ thuật Công nghệ” sẽ mang lại ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn.
Kết quả nghiên cứu này sẽ là cơ sở cho các nhà giáo dục, các GV có những thiết kế DH phù hợp để phát triển PTH sâu cho SV. Mục tiêu nghiên cứu Xây dựng khung lý thuyết về phương thức học (PTH) của SV và cách thức phát triển PTH cho SV các ngành Kỹ thuật Công nghệ (KTCN); Đánh giá thực trạng PTH và thực trạng phát triển PTH sâu cho SV các ngành KTCN; Từ đó, luận án đề xuất các biện pháp về phương pháp dạy học nhằm phát triển PTH sâu cho SV các ngành KTCN. Khách thể, đối tượng nghiên cứu 3. Khách thể nghiên cứu Quá trình học các học phần ngành KTCN.
Đối tượng nghiên cứu Phương thức học của SV các ngành KTCN. Nhiệm vụ nghiên cứu Luận án thực hiện các nhiệm vụ sau: - Nghiên cứu lý luận về PTH của SV và cách thức phát triển PTH cho SV các ngành Kỹ thuật công nghệ (KTCN); - Đánh giá thực trạng PTH của SV các ngành KTCN trên địa bàn TP.HCM và công tác phát triển PTH cho SV các ngành KTCN ở các trường; - Đề xuất biện pháp về phương pháp dạy học nhằm phát triển PTH sâu cho SV các ngành KTCN trên địa bàn TP. - Thực nghiệm sư phạm biện pháp phát triển PTH sâu cho SV các ngành KTCN. Giả thuyết khoa học Luận án xác định 2 giả thuyết khoa học sau: 1).
Phương thức học của SV các ngành KTCN chủ yếu là học chiến lược và học bề mặt, PTH sâu ở mức không cao; 2). Phương thức học sâu của SV các ngành KTCN sẽ phát triển khi GV vận dụng các PPDH chủ động và trải nghiệm, và các PP đánh giá yêu cầu mức độ tư duy bậc cao. Phạm vi nghiên cứu 6. Nội dung nghiên cứu Luận án nghiên cứu ở những nội dung như sau: - Nghiên cứu các dạng PTH của SV: PTH bề mặt, PTH sâu và PTH có chiến lược.
Trong đó, NC tập trung vào PTH sâu; 4 - Nghiên cứu phát triển PTH sâu cho SV ngành KTCN tập trung vào các PPDH thúc đẩy SV học chủ động và trải nghiệm và PP đánh giá yêu cầu mức độ tư duy cao. - Thực nghiệm biện pháp phát triển PTH sâu cho SV ngành KTCN đối với môn Nhập môn ngành Điện – Điện tử; 6. Phạm vi khảo sát Luận án khảo sát SV, GV và nhà quản lý tại 4 trường: 1) Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM; 2) Đại học Bách khoa – Đại học Quốc gia TP.HCM; 3) Đại học Công nghiệp TP.HCM; 4) Đại học Công nghệ TP.