Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong xu thế đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục - đào tạo theo định hướng hiện đại hóa, chuẩn hóa và hội nhập quốc tế, môn Toán ở bậc tiểu học giữ vị trí nền tảng trong việc trang bị cho học sinh hệ thống tri thức và kỹ năng thực hành thiết yếu như tính toán, đo đạc, đọc vẽ biểu đồ, ước lượng. Hoạt động giải toán là hình thức cơ bản của hoạt động học tập toán học ở trường phổ thông, đóng vai trò phương tiện trực tiếp giúp củng cố tri thức, phát triển tư duy logic và hình thành các phẩm chất trí tuệ cho người học.
Tuy nhiên, qua thực tiễn dạy học, tác giả nhận thấy đa số học sinh tiểu học vẫn có tâm lý e ngại môn Toán. Năng lực tư duy logic, khả năng phân tích, tổng hợp và suy luận của học sinh còn hạn chế, dẫn đến việc giải toán gặp nhiều khó khăn, ít học sinh đạt được yêu cầu giải đúng, chính xác, gọn gàng và hợp lý. Về phía giáo viên, phần lớn chỉ dừng lại ở mức độ truyền thụ kiến thức theo các bài mẫu có sẵn trong sách giáo khoa mà chưa chủ động hướng dẫn học sinh tìm tòi, tiếp cận bài toán theo nhiều hướng khác nhau. Xuất phát từ bối cảnh đó, khóa luận xác định việc nghiên cứu phương pháp dạy học giải bài toán bằng nhiều cách là giải pháp trọng tâm nhằm rèn luyện tư duy độc lập, kích thích tính sáng tạo và giúp học sinh khắc phục lối học máy móc, thụ động.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể nhằm:
- Giúp học sinh rèn luyện một số kỹ năng giải toán có lời văn thông qua các bài toán giải được bằng nhiều cách khác nhau.
- Phát triển ở học sinh các thao tác tư duy linh hoạt và năng lực sáng tạo khi tìm hiểu, phân tích để tìm cách giải cho mỗi bài toán.
- Góp phần phát triển năng lực người học, nâng cao chất lượng dạy học toán ở tiểu học và hình thành thái độ tự học cho học sinh.
Nhiệm vụ nghiên cứu gồm 3 nhiệm vụ cơ bản:
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận có liên quan đến nội dung phương pháp dạy học giải các bài toán bằng nhiều cách cho học sinh tiểu học.
- Đưa ra một số các bài toán có thể giải bằng nhiều cách khác nhau và hướng dẫn các cách phân tích để giải bài toán.
- Thực nghiệm sư phạm để bước đầu có những kết quả đối với việc rèn các phương pháp giải toán bằng nhiều cách ở tiểu học.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Phương pháp dạy học giải một số bài toán bằng nhiều cách ở tiểu học.
- Khách thể và địa bàn nghiên cứu: Học sinh lớp 5 của Trường Tiểu học Chu Văn Thịnh (Tiểu khu 14, Thị trấn Mai Sơn, Huyện Mai Sơn, Tỉnh Sơn La).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết của khóa luận tập trung làm rõ 4 chức năng cốt lõi của bài tập toán trong dạy học:
- Chức năng dạy học: Hình thành và củng cố tri thức, kỹ năng, kỹ xảo ở từng giai đoạn học tập.
- Chức năng giáo dục: Xây dựng thế giới quan duy vật biện chứng, niềm tin khoa học và phẩm chất đạo đức người lao động mới.
- Chức năng phát triển: Rèn luyện các thao tác trí tuệ (phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa) và phát triển tư duy khoa học linh hoạt.
- Chức năng kiểm tra: Đánh giá trình độ tiếp thu, năng lực học tập độc lập của học sinh và mức độ đạt mục tiêu dạy học.
Cơ sở phương pháp luận giải toán được xây dựng trên nền tảng quy trình 4 bước của George Polya:
- Bước 1: Tìm hiểu nội dung bài toán (xác định yếu tố đã biết, yếu tố chưa biết, yếu tố cố định và biến thiên; kiểm tra tính đầy đủ của dữ kiện đề bài).
- Bước 2: Tìm tòi lời giải bài toán (tóm tắt đề bằng chữ, sơ đồ đoạn thẳng hoặc biểu đồ Ven; phân tích ngược/xuôi, thiết lập mối liên hệ giữa các dữ kiện).
- Bước 3: Trình bày lời giải bài toán (suy luận logic hợp lý từ giả thiết đến kết luận; đặt câu hỏi gợi mở để tìm thêm các cách giải khác nhanh hơn, tối ưu hơn).
- Bước 4: Kiểm tra lại lời giải và nghiên cứu sâu bài toán (thử lại kết quả, rà soát tính hợp lý của lập luận và khái quát hóa phương pháp áp dụng cho các dạng toán tương tự).
Khóa luận hệ thống hóa các phương pháp giải toán đặc trưng ở bậc tiểu học, bao gồm:
- Phương pháp sơ đồ đoạn thẳng.
- Phương pháp rút về đơn vị và phương pháp tỷ số.
- Phương pháp chia tỷ lệ (áp dụng cho bài toán tìm hai số khi biết tổng/hiệu và tỷ số).
- Phương pháp thử chọn.
- Phương pháp khử.
- Phương pháp giả thiết tạm.
- Phương pháp tính ngược từ cuối.
- Phương pháp ứng dụng sơ đồ.
- Phương pháp dùng chữ thay số (dựa trên các quy tắc tìm thành phần chưa biết của phép tính).
- Các phương pháp suy luận hỗ trợ: Lập bảng, biểu đồ Ven, lựa chọn tình huống.
Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả triển khai gồm:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Đọc, phân tích và tổng hợp các tài liệu về tâm lý học, giáo dục học, giáo trình phương pháp dạy học toán tiểu học và các tài liệu chuyên ngành liên quan.
- Phương pháp điều tra, quan sát: Khảo sát thực trạng dạy và học toán tại một số trường tiểu học trên địa bàn tỉnh Sơn La; dự giờ, trao đổi thông tin với giáo viên và học sinh về thói quen giải toán và hiệu quả sử dụng bài tập.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy thực nghiệm trên đối tượng học sinh lớp 5 tại Trường Tiểu học Chu Văn Thịnh (huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La) nhằm kiểm nghiệm tính khả thi và đo lường tác động của các biện pháp đề xuất.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 1 tập trung làm rõ bản chất lý luận của hoạt động giải toán và phân tích thực trạng dạy học môn Toán tại địa phương nghiên cứu. Tác giả khẳng định giải toán là hình thức chủ yếu của hoạt động toán học ở trường tiểu học. Việc giải một bài toán theo nhiều cách đem lại các giá trị nhận thức rõ rệt: củng cố tính chất và mối quan hệ của các phép tính số học; giúp học sinh đào sâu cấu trúc bản chất của bài toán; tạo cơ hội so sánh các con đường giải quyết vấn đề để chọn ra cách giải ngắn gọn nhất; rèn luyện đức tính tiết kiệm và óc sáng tạo linh hoạt.
Về mặt thực tiễn, kết quả khảo sát của tác giả tại các trường tiểu học thuộc tỉnh Sơn La phản ánh những vấn đề sau:
- Về phía giáo viên: Hầu hết giáo viên đều khẳng định vai trò then chốt của môn Toán và hoạt động giải toán trong việc phát triển tư duy học sinh. Tuy nhiên, trong thực hành lên lớp, giáo viên rất ít chú trọng hướng dẫn học sinh giải bài toán bằng nhiều cách. Quá trình dạy học phụ thuộc chặt chẽ vào các bài toán mẫu có sẵn trong sách giáo khoa, thiếu mở rộng các bài toán tương tự hoặc biến thể. Các khó khăn chính gồm có: áp lực hoàn thành chương trình đúng thời lượng, quy mô sĩ số học sinh đông, trình độ nhận thức trong lớp không đồng đều; năng lực sư phạm của một bộ phận giáo viên vùng cao còn hạn chế do phải dạy nhiều môn, nhiều phân môn, thậm chí dạy ghép lớp tại các điểm trường lẻ; hình thức kiểm tra đánh giá hiện hành chủ yếu đo lường khả năng ghi nhớ và tái hiện máy móc.
- Về phía học sinh: Học sinh thường dừng lại ngay khi tìm ra một đáp số và hiếm khi có thói quen thử lại kết quả hay tìm tòi cách giải thứ hai. Học sinh chủ yếu giải được các bài toán đúng theo mẫu hướng dẫn, khi đề bài có sự thay đổi dữ kiện hoặc cách diễn đạt thì lập tức lúng túng. Đặc biệt, đa số học sinh trên địa bàn nghiên cứu là con em đồng bào dân tộc thiểu số (dân tộc Thái, H'mông), điều kiện kinh tế khó khăn, thiếu thốn sách vở, tài liệu học tập, kỹ năng tư duy toán học chỉ ở mức độ nhận biết cơ bản.
Chương 2: Một số bài toán có nhiều cách giải ở tiểu học
Chương 2 là nội dung trọng tâm của khóa luận, phân loại và hướng dẫn chi tiết cách khai thác nhiều lời giải cho 15 bài toán mẫu thuộc 5 mạch kiến thức, tuân thủ nghiêm ngặt quy trình 4 bước của George Polya, đồng thời cung cấp hệ thống 30 bài tập tự luyện có đáp số:
-
Các bài toán về cấu tạo số:
- Ví dụ 1: Tìm số có bốn chữ số, biết khi viết thêm chữ số 2 vào bên phải thì số đó tăng thêm 51059 đơn vị. Tác giả xây dựng 3 cách giải: Cách 1 dùng đại số (dùng chữ thay số $\overline{abcd}$, phân tích $\overline{abcd2} - \overline{abcd} = 51059$ ra $9 \times \overline{abcd} + 2 = 51059 \Rightarrow \overline{abcd} = 5673$); Cách 2 dùng phương pháp chia tỷ lệ qua sơ đồ đoạn thẳng (coi số cần tìm là 1 phần, số mới là 10 phần và 2 đơn vị, hiệu 9 phần tương ứng $51059 - 2 = 51057$); Cách 3 dựa vào kỹ thuật tính đặt phép cộng theo cột dọc ($51059 + \overline{abcd} = \overline{abcd2}$) để suy luận từng chữ số từ hàng đơn vị đến hàng nghìn.
- Ví dụ 2: Tìm số có ba chữ số, biết viết thêm chữ số 9 vào bên trái thì được số gấp 26 lần số cần tìm. Trình bày 2 cách giải: phương pháp chia tỷ lệ (hiệu là 9000, tỷ số là 26, tính ra 360) và phương pháp đại số ($26 \times \overline{abc} = 9000 + \overline{abc}$).
- Ví dụ 3: Cho số tự nhiên có 4 chữ số, chữ số hàng đơn vị bằng 9, khi xóa chữ số hàng đơn vị thì số giảm 4896 đơn vị. Trình bày 3 cách: phương pháp chia tỷ lệ, phương pháp đại số và kỹ thuật tính cộng cột dọc tìm ra số 5439.
- Ví dụ 4: Thay chữ số $a, b$ thích hợp trong phép nhân $\overline{ab} \times \overline{ba}$ có tích riêng thứ nhất là 114, tích riêng thứ hai là 304, tích chung là 3154. Trình bày 3 cách: biện luận từ chữ số tận cùng của tích riêng thứ nhất ($a \times b$ tận cùng là 4); biện luận từ tích riêng thứ hai ($b \times b$ tận cùng là 4); biện luận tính chia hết từ tích riêng thứ nhất ($114$ chia hết cho $a$). Kết quả xác định $a = 3, b = 8$.
- Mạch bài này đi kèm 8 bài tập tự luyện.
-
Bài toán có lời văn:
- Ví dụ 5: Bài toán tổ thợ 8 người đóng 500 viên gạch mất 4 giờ, hỏi 16 người đóng 1000 viên gạch mất bao lâu (năng suất như nhau). Tác giả đề xuất 5 cách giải: Cách 1 kết hợp kép phương pháp tỷ số; Cách 2 dùng phương pháp rút về đơn vị tính thời gian 1 người làm 1 viên gạch ($0,064$ giờ); Cách 3 dùng phương pháp tỷ số tính qua công đoạn 8 người đóng 1000 viên mất 8 giờ; Cách 4 dùng phương pháp tỷ số tính qua công đoạn 16 người đóng 500 viên mất 2 giờ; Cách 5 dùng phương pháp rút về đơn vị đơn giản tính 1 người đóng 500 viên (32 giờ), 1 người đóng 1000 viên (64 giờ) rồi chia cho 16 người. Cả 5 cách đều cho kết quả 4 giờ.
- Ví dụ 6: Bài toán tính tuổi ba mẹ con (mẹ sinh con lớn năm 25 tuổi, con nhỏ năm 32 tuổi, tổng tuổi bằng 54). Đưa ra 3 cách giải dựa trên phương pháp thay thế: Cách 1 biểu diễn tuổi hai con theo tuổi mẹ; Cách 2 biểu diễn tuổi mẹ và con lớn qua tuổi con nhỏ; Cách 3 biểu diễn tuổi mẹ và con nhỏ qua tuổi con lớn. Đáp số: Mẹ 37 tuổi, con lớn 12 tuổi, con nhỏ 5 tuổi.
- Ví dụ 7: Bài toán cửa hàng có 75 mét vải hoa, sáng bán $2/5$, chiều bán bằng $5/6$ buổi sáng. Trình bày 4 cách giải: tính tuần tự số mét vải từng buổi; quy đổi phân số buổi chiều ($1/3$ tổng số vải); tìm phân số chỉ số vải còn lại ($4/15$ số vải); tính số vải còn lại sau buổi sáng rồi trừ buổi chiều. Đáp số: 20 mét.
- Ví dụ 8: Bài toán 32 chai dầu hỏa loại 0,75 lít, mỗi lít dầu nặng 0,76 kg, vỏ chai nặng 0,25 kg. Giải bằng 3 cách: tính khối lượng 1 chai hoàn chỉnh ($0,82$ kg) rồi nhân 32; tính tổng khối lượng dầu của 32 chai ($18,24$ kg) rồi cộng khối lượng 32 vỏ chai ($8$ kg); tính tổng số lít dầu ($24$ lít) rồi nhân khối lượng riêng và cộng vỏ chai. Đáp số: 26,24 kg.
- Mạch bài đi kèm 7 bài tập tự luyện.
-
Bài toán về chuyển động đều:
- Ví dụ 9: Một người đi bộ 6 giờ được 24 km, hỏi 2 giờ đi được mấy km. Trình bày 3 cách: rút về đơn vị tính vận tốc theo giờ (4 km/giờ); rút về đơn vị quy đổi ra phút (360 phút, 1 km đi mất 15 phút); phương pháp tỷ số (6 giờ gấp 3 lần 2 giờ, lấy $24 : 3 = 8$ km).
- Ví dụ 10: Hai ô tô xuất phát cùng lúc đi ngược chiều nhau trên quãng đường AB dài 133 km, vận tốc xe A bằng $9/10$ vận tốc xe B, gặp nhau sau 1 giờ 24 phút ($1,4$ giờ). Giải bằng 3 cách: chia tỷ lệ quãng đường (do thời gian bằng nhau nên tỷ số quãng đường bằng tỷ số vận tốc $9/10$, quãng đường xe A đi được là 63 km, từ đó tính vận tốc hai xe là 45 km/giờ và 50 km/giờ); chia tỷ lệ vận tốc (tính tổng vận tốc hai xe bằng $133 : 1,4 = 95$ km/giờ rồi chia theo tỷ lệ $9/10$); giả thiết tỷ lệ tạm thời (giả sử vận tốc là 9 km/giờ và 10 km/giờ, tính quãng đường đi được trong 1,4 giờ là 26,6 km, so sánh tỷ lệ với 133 km gấp 5 lần).
- Mạch bài đi kèm 6 bài tập tự luyện.
-
Các bài toán có nội dung hình học:
- Ví dụ 11: Mảnh đất hình chữ nhật chu vi 98 m, thêm chiều rộng 3,5 m và bớt chiều dài 3,5 m thì thành hình vuông. Trình bày 2 cách giải: Cách 1 tính nửa chu vi không đổi (49 m), hiệu giữa chiều dài và chiều rộng ban đầu là $3,5 \times 2 = 7$ m, tìm chiều dài (28 m) và chiều rộng (21 m), tính diện tích 588 $\text{m}^2$; Cách 2 dựa trên chu vi hình vuông không đổi (98 m), tính cạnh hình vuông là $98 : 4 = 24,5$ m, từ đó suy ra kích thước ban đầu.
- Ví dụ 12: Tam giác ABC có chiều cao AH, điểm M trên AH sao cho $MH = \frac{1}{3} AH$, $BH = 6$ cm, $HC = 8$ cm, diện tích tam giác BMH là 12 $\text{cm}^2$. Trình bày 3 cách giải: tính chiều cao MH (4 cm), suy ra AH (12 cm) và đáy BC (14 cm) để tính diện tích ABC (84 $\text{cm}^2$); tính diện tích tam giác BAH gấp 3 lần BMH (36 $\text{cm}^2$), suy ra AH rồi tính diện tích ABC; tính diện tích tam giác AHC (48 $\text{cm}^2$) rồi cộng diện tích hai tam giác BAH và AHC.
- Mạch bài đi kèm 5 bài tập tự luyện.
-
Các bài toán vui và toán cổ:
- Ví dụ 13: Bài toán đàn cò đậu cây ("mỗi cò đậu 1 cây thì 3 cò không có cây; mỗi cây 3 cò đậu thì 3 cây không có cò"). Trình bày 5 cách giải: Cách 1 chia tỷ lệ bằng cách giả sử thêm 9 cò; Cách 2 chia tỷ lệ bằng cách giả sử bớt 3 cây; Cách 3 chia tỷ lệ bằng cách giả sử thêm 3 cây; Cách 4 chia tỷ lệ bằng cách giả sử bớt 3 cò; Cách 5 dùng phương pháp thử chọn các cặp số (kết quả: 6 cây và 9 con cò).
- Ví dụ 14: Bài toán quả bòng ("Bốn người một quả, thừa năm quả / Mỗi người một quả, bốn người không"). Trình bày 3 cách giải qua phương pháp chia tỷ lệ: giả sử thêm 20 người; giả sử bớt 5 quả; giả sử bớt 4 người (kết quả: 12 người và 8 quả bòng).
- Ví dụ 15: Bài toán dân gian "Vừa gà vừa chó, bó lại cho tròn, ba mươi sáu con, một trăm chân chẵn" được chuyển thành bài toán mẫu có số liệu: 16 con, 40 chân. Trình bày 3 cách giải: phương pháp thử chọn lập bảng (giới hạn số chó bé hơn hoặc bằng 9); phương pháp giả thiết tạm coi 16 con đều là gà (hụt 8 chân, suy ra 4 chó, 12 gà); phương pháp giả thiết tạm coi 16 con đều là chó (thừa 24 chân, suy ra 12 gà, 4 chó).
- Mạch bài đi kèm 4 bài tập tự luyện (chia bánh trung thu, gà và chó 36 con 100 chân, thuyền to thuyền nhỏ sang sông, cam quýt bổ chia).
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Chương 3 trình bày việc tổ chức dạy thực nghiệm nhằm đánh giá tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp sư phạm đã đề xuất.
- Mục đích và phương pháp thực nghiệm: Tổ chức dạy học có áp dụng quy trình 4 bước của Polya và các phương pháp giải toán linh hoạt để kiểm chứng khả năng tiếp thu của học sinh, so sánh đối chứng hiệu quả học tập giữa việc chỉ học một cách giải truyền thống với việc được khuyến khích tìm nhiều cách giải.
- Địa bàn và đối tượng thực nghiệm: Học sinh khối lớp 5 tại Trường Tiểu học Chu Văn Thịnh (Tiểu khu 14, Thị trấn Mai Sơn, Huyện Mai Sơn, Tỉnh Sơn La).
- Đánh giá thực nghiệm: Khóa luận xác lập hai kênh đánh giá gồm đánh giá định tính (sự biến chuyển về thái độ học tập, hứng thú giải toán, khả năng tư duy độc lập và thói quen rà soát bài làm) và đánh giá định lượng (kết quả đo lường từ các bài kiểm tra thực nghiệm tại lớp).
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã hệ thống hóa đầy đủ cơ sở lý luận về phương pháp dạy học giải toán, đồng thời xây dựng một hệ thống bài tập mẫu phong phú, minh chứng rõ ràng khả năng giải quyết một bài toán tiểu học bằng nhiều con đường tư duy khác nhau.
Bảng tổng hợp các dạng toán, phương pháp áp dụng và số lượng cách giải tiêu biểu trong công trình:
| Mạch kiến thức |
Dạng bài toán cụ thể |
Các phương pháp phối hợp chính |
Số cách giải minh họa |
| Cấu tạo số |
Thêm/bớt chữ số ở các hàng, tìm chữ số trong phép tính nhân |
Đại số (chữ thay số), chia tỷ lệ qua sơ đồ, kỹ thuật tính cột dọc, suy luận số tận cùng |
2 – 3 cách/bài |
| Bài toán có lời văn |
Đại lượng tỷ lệ thuận/nghịch, tính tuổi, phân số, khối lượng |
Tỷ số, rút về đơn vị, phương pháp thay thế dữ kiện qua sơ đồ |
3 – 5 cách/bài |
| Chuyển động đều |
Tính quãng đường theo thời gian, hai xe chuyển động ngược chiều |
Rút về đơn vị (giờ/phút), tỷ số, chia tỷ lệ quãng đường/vận tốc, giả thiết tỷ lệ |
3 cách/bài |
| Hình học |
Chu vi và diện tích hình vuông, hình chữ nhật, hình tam giác |
Phương pháp diện tích, biến đổi chu vi không đổi, so sánh tỷ số diện tích tam giác |
2 – 3 cách/bài |
| Toán vui và toán cổ |
Phân phối đối tượng (cò đậu cây, hái bòng), tìm hai số biết tổng và chân (gà và chó) |
Chia tỷ lệ kết hợp giả thiết thêm/bớt, thử chọn lập bảng, giả thiết tạm |
3 – 5 cách/bài |
Các giải pháp và kiến nghị sư phạm do tác giả đề xuất:
- Đối với giáo viên: Cần thay đổi thói quen dạy học rập khuôn, không thỏa mãn khi học sinh vừa tìm ra một cách giải; phải kiên trì vận dụng quy trình 4 bước của G. Polya, chú trọng bước 4 để học sinh phân tích, so sánh và chọn con đường giải tối ưu nhất; hướng dẫn học sinh lựa chọn phương pháp giải phù hợp với năng lực cá nhân nhằm loại bỏ lối học vẹt.
- Đối với công tác quản lý: Nhà trường và các cấp quản lý cần có chính sách động viên, khích lệ kịp thời đối với giáo viên tích cực đổi mới phương pháp; điều chỉnh giảm bớt áp lực về mặt sĩ số và phân bổ thời lượng hợp lý, đồng thời hỗ trợ tài liệu học tập cho học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Về mặt đóng góp, công trình góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và quy trình hướng dẫn học sinh tiểu học giải toán bằng nhiều cách; cung cấp hệ thống ví dụ phân tích mẫu chi tiết và bài tập thực hành ứng dụng trực tiếp cho sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học và giáo viên tiểu học.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận bộc lộ một số giới hạn xuất phát từ phạm vi nghiên cứu thực tế:
- Địa bàn khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm chỉ bó hẹp trong phạm vi Trường Tiểu học Chu Văn Thịnh, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, chưa có điều kiện khảo sát mở rộng tại nhiều trường thuộc các địa bàn kinh tế - xã hội khác nhau.
- Đối tượng thực nghiệm tập trung hoàn toàn vào học sinh khối lớp 5, chưa triển khai đối với các khối lớp 1, 2, 3 và 4 trong bậc tiểu học.
- Học sinh tại địa bàn nghiên cứu phần lớn là con em dân tộc thiểu số (Thái, H'mông) còn gặp rào cản về ngôn ngữ và thiếu thốn điều kiện học tập, ảnh hưởng đến tốc độ tiếp thu các cách giải nâng cao đòi hỏi tư duy trừu tượng.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được xác định:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu, áp dụng quy trình rèn luyện kỹ năng giải toán bằng nhiều cách cho học sinh ở các khối lớp khác (đặc biệt là lớp 4 và lớp 3).
- Xây dựng hệ thống bài tập phân hóa sâu hơn, phù hợp với từng đối tượng học sinh có trình độ nhận thức khác nhau tại các trường tiểu học vùng cao, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo thiết thực cho:
- Sinh viên chuyên ngành Giáo dục Tiểu học tại các trường đại học, cao đẳng sư phạm: Tài liệu cung cấp cơ sở lý luận bài bản về các chức năng của bài tập toán, các bước giải toán của G. Polya và kỹ năng thiết kế giáo án hướng dẫn học sinh giải toán đa hướng.
- Giáo viên trực tiếp giảng dạy tại các trường tiểu học: Nội dung Chương 2 có giá trị ứng dụng thực tiễn cao nhất với 15 bài toán điển hình được phân tích tỉ mỉ qua từng bước cùng hệ thống 30 bài tập tự luyện có sẵn đáp số, rất thuận tiện cho giáo viên sử dụng trong các tiết luyện tập toán hoặc bồi dưỡng học sinh khá, giỏi khối lớp 4 và lớp 5.
Câu hỏi thường gặp
-
Lược đồ 4 bước của G. Polya được tác giả cụ thể hóa như thế nào trong dạy học toán tiểu học?
Lược đồ được triển khai qua 4 bước: Bước 1 tìm hiểu đề (xác định rõ dữ kiện đã biết, chưa biết, yếu tố biến thiên); Bước 2 tìm tòi lời giải (tóm tắt bằng sơ đồ, phân tích ngược xuôi); Bước 3 trình bày lời giải (lập luận logic để ra kết quả và đặt câu hỏi gợi ý cách giải khác); Bước 4 kiểm tra và nghiên cứu sâu (thử lại phép tính, rà soát lập luận và rút ra bài học áp dụng cho các bài tương tự).
-
Đối với dạng toán cấu tạo số, tác giả thường hướng dẫn học sinh phối hợp những cách giải nào?
Tác giả hướng dẫn phối hợp 3 cách giải chủ đạo: cách 1 dùng phương pháp đại số (dùng chữ thay số để biểu diễn cấu tạo thập phân của số); cách 2 dùng phương pháp chia tỷ lệ (vẽ sơ đồ đoạn thẳng dựa trên mối quan hệ tỷ số và hiệu giữa số mới và số cũ); cách 3 dựa trên kỹ thuật tính (đặt tính phép tính cộng hoặc trừ theo cột dọc để suy luận chữ số tương ứng từng hàng).
-
Bài toán tỷ lệ về tổ thợ đóng gạch (Ví dụ 5) được tác giả giải quyết bằng bao nhiêu cách và cách nào dễ tiếp cận nhất?
Bài toán này được giải bằng 5 cách khác nhau: 1 cách rút về đơn vị phức tạp ra số thập phân ($0,064$ giờ/viên), 3 cách dùng phương pháp tỷ số qua các công đoạn trung gian, và 1 cách rút về đơn vị đơn giản (tính thời gian 1 người làm 500 viên rồi 1000 viên). Tác giả nhận xét cách rút về đơn vị đơn giản (Cách 5) là cách dễ hiểu, tự nhiên nhất và phù hợp với đại trà mọi đối tượng học sinh.
-
Nguyên nhân chủ yếu khiến việc dạy học sinh giải toán bằng nhiều cách ở Sơn La còn hạn chế là gì?
Nguyên nhân đến từ cả hai phía: Giáo viên chịu áp lực về thời gian, sĩ số lớp đông, ngại đổi mới do sợ quá tải tiết dạy, kỹ năng nghề nghiệp còn hạn chế khi phải dạy nhiều môn/lớp tại các điểm trường vùng cao; Học sinh phần lớn là con em dân tộc Thái, H'mông còn thiếu thốn đồ dùng học tập, quen lối học máy móc theo bài mẫu và chỉ dừng lại ngay sau khi tìm ra một đáp số.
-
Dạng toán dân gian "Vừa gà vừa chó" được giải quyết bằng những phương pháp cụ thể nào?
Bài toán được tác giả giải bằng hai phương pháp chính gồm: phương pháp thử chọn lập bảng (giới hạn số chó từ 1 đến 9 con do mỗi con có 4 chân) và phương pháp giả thiết tạm (chia làm hai hướng: giả định tất cả 16 con đều là gà để tính số chân hụt 8 chân, hoặc giả định tất cả 16 con đều là chó để tính số chân tăng thêm 24 chân). Cả hai phương pháp đều đưa ra kết quả 4 con chó và 12 con gà.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Trương Thị Trang đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu nghiên cứu thông qua việc làm sáng tỏ cơ sở lý luận về bài tập toán, lược đồ G. Polya và phân tích thực trạng dạy học môn Toán tại địa bàn tỉnh Sơn La. Công trình đóng góp hệ thống 15 bài toán mẫu thuộc 5 chuyên đề kiến thức được giải chi tiết bằng nhiều cách khác nhau, kèm theo 30 bài tập tự luyện có tính ứng dụng sư phạm rõ rệt. Đây là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên sư phạm tiểu học và giáo viên trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy, giúp rèn luyện tư duy linh hoạt và nâng cao năng lực giải toán cho học sinh tiểu học.