Luận Văn Thạc Sĩ: Thiết Lập Phương Pháp ELISA Để Chẩn Đoán Porcine Circovirus Type 2

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu vnua thiết lập phương pháp elisa sử dụng kháng nguyên tự chế để chẩn đoán porcine circovirus type 2, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề

Chuyên ngành

Thú y

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn

2016

56
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

3. PHẦN 3: NỘI DUNG, NGUYÊN LIỆU, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4. PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

5. PHẦN 5: KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Phương Pháp ELISA Chẩn Đoán Porcine Circovirus Type 2

Phương pháp ELISA (Enzyme-Linked Immunosorbent Assay) đã trở thành một công cụ quan trọng trong việc chẩn đoán các bệnh do virus gây ra, đặc biệt là Porcine Circovirus Type 2 (PCV2). Việc sử dụng kháng nguyên tự chế trong phương pháp này không chỉ giúp nâng cao độ chính xác mà còn giảm chi phí cho người chăn nuôi. Nghiên cứu này nhằm thiết lập một quy trình ELISA hiệu quả, sử dụng kháng nguyên tái tổ hợp từ virus PCV2, nhằm phát hiện kháng thể trong huyết thanh lợn.

1.1. Khái Niệm Về Virus Porcine Circovirus Type 2

Virus PCV2 là một trong những tác nhân gây bệnh phổ biến ở lợn, dẫn đến nhiều vấn đề nghiêm trọng trong chăn nuôi. Virus này có kích thước nhỏ, không có vỏ bọc và chứa ADN đơn. Việc hiểu rõ về virus này là cần thiết để phát triển các phương pháp chẩn đoán hiệu quả.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Phương Pháp ELISA Trong Chẩn Đoán

Phương pháp ELISA cho phép phát hiện kháng thể kháng virus trong huyết thanh lợn một cách nhanh chóng và chính xác. Đặc biệt, việc sử dụng kháng nguyên tự chế giúp giảm thiểu chi phí và tăng tính khả thi trong việc áp dụng tại các trang trại.

II. Thách Thức Trong Việc Chẩn Đoán Bệnh Do Porcine Circovirus

Mặc dù phương pháp ELISA đã được áp dụng rộng rãi, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong việc chẩn đoán bệnh do Porcine Circovirus gây ra. Một trong những vấn đề lớn nhất là độ nhạy và độ đặc hiệu của các bộ kit thương mại hiện có. Nhiều bộ kit không đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, dẫn đến việc chẩn đoán sai lệch.

2.1. Độ Nhạy Và Độ Đặc Hiệu Của Các Bộ Kit Hiện Có

Nhiều bộ kit thương mại có độ nhạy và độ đặc hiệu không cao, điều này có thể dẫn đến việc bỏ sót các trường hợp nhiễm virus. Việc phát triển một phương pháp ELISA mới với kháng nguyên tự chế có thể giải quyết vấn đề này.

2.2. Chi Phí Cao Của Các Bộ Kit Nhập Khẩu

Chi phí cao của các bộ kit nhập khẩu là một rào cản lớn đối với người chăn nuôi. Việc phát triển kháng nguyên tự chế không chỉ giúp giảm chi phí mà còn tạo ra sản phẩm phù hợp với điều kiện thực tế tại Việt Nam.

III. Phương Pháp ELISA Sử Dụng Kháng Nguyên Tự Chế Để Chẩn Đoán PCV2

Nghiên cứu đã thiết lập một quy trình ELISA sử dụng kháng nguyên tái tổ hợp từ protein ORF2 của virus PCV2. Phương pháp này đã được kiểm tra và cho thấy độ nhạy đạt 100% và độ đặc hiệu đạt 97.16%. Điều này chứng tỏ rằng phương pháp này có thể được áp dụng rộng rãi trong chẩn đoán bệnh do PCV2.

3.1. Quy Trình Thiết Lập Phương Pháp ELISA

Quy trình thiết lập phương pháp ELISA bao gồm các bước chuẩn bị mẫu, xử lý kháng nguyên và thực hiện phản ứng. Việc tối ưu hóa từng bước là rất quan trọng để đạt được kết quả chính xác nhất.

3.2. Đánh Giá Độ Nhạy Và Độ Đặc Hiệu Của Phương Pháp

Đánh giá độ nhạy và độ đặc hiệu của phương pháp ELISA sử dụng kháng nguyên tự chế cho thấy kết quả khả quan. Điều này mở ra cơ hội cho việc áp dụng phương pháp này trong thực tiễn chăn nuôi.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Phương Pháp ELISA Trong Chẩn Đoán PCV2

Phương pháp ELISA sử dụng kháng nguyên tự chế không chỉ giúp phát hiện nhanh chóng virus PCV2 mà còn hỗ trợ trong việc điều tra dịch tễ học. Việc áp dụng phương pháp này trong thực tiễn sẽ giúp nâng cao hiệu quả chẩn đoán và kiểm soát dịch bệnh ở lợn.

4.1. Ứng Dụng Trong Chẩn Đoán Dịch Tễ Học

Phương pháp ELISA có thể được sử dụng để theo dõi sự lây lan của virus PCV2 trong các đàn lợn. Điều này giúp các nhà chăn nuôi có thể đưa ra các biện pháp phòng ngừa kịp thời.

4.2. Tác Động Đến Ngành Chăn Nuôi

Việc áp dụng phương pháp ELISA sẽ giúp giảm thiểu thiệt hại do bệnh do PCV2 gây ra, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế cho ngành chăn nuôi lợn tại Việt Nam.

V. Kết Luận Về Phương Pháp ELISA Sử Dụng Kháng Nguyên Tự Chế

Phương pháp ELISA sử dụng kháng nguyên tự chế đã chứng minh được tính hiệu quả trong việc chẩn đoán Porcine Circovirus Type 2. Nghiên cứu này không chỉ góp phần nâng cao chất lượng chẩn đoán mà còn mở ra hướng đi mới cho ngành thú y tại Việt Nam.

5.1. Tương Lai Của Phương Pháp ELISA Trong Chẩn Đoán

Với những kết quả đạt được, phương pháp ELISA có thể được phát triển thêm để cải thiện độ nhạy và độ đặc hiệu, từ đó phục vụ tốt hơn cho công tác chẩn đoán và phòng chống dịch bệnh.

5.2. Khuyến Nghị Đối Với Ngành Chăn Nuôi

Ngành chăn nuôi cần chú trọng đầu tư vào nghiên cứu và phát triển các phương pháp chẩn đoán mới, nhằm nâng cao hiệu quả phòng chống dịch bệnh và bảo vệ sức khỏe đàn lợn.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnua thiết lập phương pháp elisa sử dụng kháng nguyên tự chế để chẩn đoán porcine circovirus type 2

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Ứng dụng hệ thống biểu hiện baculovirus nhằm mục đích chế tạo kháng nguyên tái tổ hợp PCV2 dùng cho công tác chẩn đoán cũng như chế tạo văc xin tái tổ hợp phòng PCV2 đã được nghiên cứu và phát triển thành những sản phẩm thương mại ở nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên đây là hướng đi còn tương đối mới mẻ ở Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực Thú y. Hiện nay, hầu hết các kít ELISA chẩn đoán PCV2 cũng như vắc xin tiểu phần phòng PCV2 đều phải nhập ngoại với giá thành quá cao, không đáp ứng được nhu cầu giá cả của người chăn nuôi cũng như phục vụ công tác phòng chống dịch PMWS do PCV2 gây ra. Do vây, chúng tôi mạnh dạn đề xuất ứng dụng hệ thống baculovirus nhằm tái tổ hợp các protein của PCV2 nhằm mục đích tạo kháng nguyên tái tổ hợp dùng trong ELISA chẩn đoán và bước đầu sản xuất protein tái tổ hợp có kháng nguyên tính làm nguyên liệu tiến tới sản xuất vắc xin phòng PCV2.

Mục tiêu của luận văn là tạo ra những chế phẩm sinh học có chất lượng tương đương nhưng giá thành thấp hơn so với các sản phẩm cùng loại nhập ngoại. Hơn nữa, việc xây dựng qui trình công nghệ sử dụng hệ thống biểu hiện baculovirus nhằm mục đích tái tổ hợp những protein quan trong dùng trong y tế và thú y là việc làm rất cần thiết, đáp ứng nhu cầu “Tự cung - Tự cấp” các chế phẩm sinh học cũng như tiếp cận và ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật của thế giới vào công tác chẩn đoán và phong trị bệnh cho vật nuôi tại Việt Nam. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trong công tác phòng chẩn đoán và chống các bệnh có liên quan đến vi rút PCV2, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “THIẾT LẬP PHƢƠNG PHÁP ELISA SỬ DỤNG KHÁNG NGUYÊN TỰ CHẾ ĐỂ CHẨN ĐOÁN PORCINE CIRCOVIRUS TYPE 2”. Luận văn gồm hai nội dung chính: A.

Sản xuất protein ORF2 tái tổ hợp của vi rút PCV2 dùng làm nguyên liệu thiết lập ELISA Việc sản xuất kháng nguyên tự chế bằng hệ thống biểu hiện baculovirus là rất quan trọng, quyết định sự thành công của luận văn. Sản phẩm của nội dung này sẽ được sử dụng làm nguyên liệu để thiết lập ELISA dùng trong chẩn đoán ở nội dung 2. Thiết lập phƣơng pháp ELISA phát hiện kháng thể kháng PCV2 trong huyết thanh lợn bằng kháng nguyên tự chế 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đây được xem là nội dung then chốt của luận văn. Việc thiết lập thành công ELISA sử dụng kháng nguyên tự chế nhằm từng bước hoàn thiện và tiến tới chế tạo Kit ELISA chẩn đoán bệnh do vi rút PCV2 gây ra, có ý nghĩa quan trong trong công tác phòng và kiểm soát dịch bệnh của vật nuôi tại Việt Nam trong tương lai 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 2.1 Hiểu biết về vi rút Circo và bệnh do vi rút Circo gây ra 2. Lịch sử căn bệnh Virus PCV1 phát hiện năm 1974 trên môi trường tế bào dòng thận lợn PK15, Tuy nhiên, 8 năm sau đặc điểm của vi rút đã được chứng minh là có hình cầu, rất nhỏ, chứa một sợi ADN đơn và được đặt tên là Porcine circovirus(PCV). Năm 1995 các nhà phân loại học đã chỉ ra họ của vi rút PCV là Circoviridae dựa trên các cấu trúc đặc trưng của vi rút. Các thành viên khác của họ vi rút có thể gây bệnh: bệnh trên chim, bệnh tích ở mỏ và lông vũ trên vẹt, bệnh thiếu máu ở gà và bệnh trên chim bồ câu(John A.Ellis et al.

Virus PCV 2 được phân lập tại Pháp năm 1997, những nghiên cứu tiếp theo chỉ ra sự rõ ràng sự hiện diện của kháng thể capsid riêng của PCV 2 và chính bản thân virus trong mô, huyết thanh. PCV 2 trên toàn cầu có sự tương đồng là 96 % và tương đồng ít nhất 60% so với PCV 1, sự khác nhau cơ bản nằm ở trên protein capsid. Nghiên cứu hồi cứu mẫu huyết thanh đã tìm ra kháng thể với PCV2 rất sớm từ năm 1969 ở Belgium,1970 tại Anh, 1973 tại Ireland và 1985 Tây Ban Nha. Kháng thể với PCV2 tìm thấy trong 13,6% từ mô liên kết từ lợn tại Canada năm 1985, dương tính với vi rút PCV2 tăng đến 72,4% năm 1989, và 66,7% năm 1997 (J.

Gillespie et al. Cấu trúc của vi rút PCV2 Hình 1.1: Cấu trúc của vi rút PCV2 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo như hình 2.1 (Merial Limited và Merial SAS, 2011) Circo vi rút có kích thước nhỏ, đường kính 20-25 nm, không có vỏ bọc, hình cầu đối xứng. Hạt vi rút cấu tạo bởi 60 tiểu đơn vị capsid, bọc lấy ADN đơn của vi rút, hệ gen bao gồm ADN đơn, kích thước 1,7-2 kb. Hiện nay, các chủng đã phân lập của PCV2 được chia thành 2 nhóm chính là PCV2a và PCV2b, ngoài ra còn có PCV2c và PCV2d ( chủ yếu ở Trung Quốc).

Sự khác nhau về đặc tính di truyền giữa các chủng phân lập là nguyên nhân các chủng có động lực khác nhau.M & McNeilly, (1998) Hệ gen của PCV2 gồm 11 khung dọc mở ORF (open reading frame)mã hóa cho các phân tử protein trong bộ gen, trong đó hai khung dọc mở chính (ORF1 và ORF2) theo hướng ngược nhau. Theo Meehan BM và cs (1999), ORF1 được xác định vị trí trên chuỗi dương tính và định hướng theo chiều kim đồng hồ. ORF1 mã hóa protein có trọng lượng phân tử 37,7 kDa. ORF1 của 2 chủng PCV1 và PCV2 có sự tương đồng về nucleotide và acid amin lần là 86% theo J.

Gillespie et al. Theo Dominique Mahe et al.Rathkjen et al. (2003) ORF2 nằm trên chuỗi bổ sung và định hướng ngược chiều kim đồng hồ, nó mã hóa cho protein cấu trúc của vi rút, chủ yếu liên quan đến sự hình thành vỏ capsid, có trọng lượng phân tử là 27,8 kDa của PCV. PCV1 and PCV2 có mức tương đồng trong ORF2 về trình tự nucleotide và amino acid lần lượt là 67%, 65%.

Trình tự acid amin trong ORF2 giữa 2 chủng PCV1 và PCV2 khác nhau tại vị trí 65-87, 113-139, 193-207 và PCV2 chủng Châu Âu và chủng Bắc Mỹ trong cấu trúc ORF2 tại đoạn acid amin 117-131 khác nhau 1 acid amin, vì vậy người ta sử dụng kháng thể nguồn gốc ORF2 như một công cụ để chẩn đoán phân biệt PCV. (1997) cho biết ORF3 được định vị trên chuỗi bổ sung, định hướng ngược chiều kim đồng hồ và chồng chéo lên ORF1. Nó mã hóa cho protein không phải cấu trúc với chiều dài 105 aa, có trọng lýợng phân tử là 11,8 kDa, không có vai trò trong quá trình nhân lên của vi rút nhưng có tác dụng gây apoptosis ở tế bào nhiễm và ảnh hưởng đến mầm bệnh trong cơ quan của cơ thể sống hay trong ống nghiệm, theo Kwang Soo Lyoo (2009) và Qiang Liu et al. ORF4 mã hóa cho protein có trọng lượng phân tử 6,5 kDa (vị trí nucleotide khoảng từ 912-733) có sự tương đồng về phân tử protein do ORF4 mã hóa với PCV1 là 83%, protein này giàu cysteine nhưng chưa rõ chức năng, theo Meehan B.

4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Sức đề kháng PCV2 có sức đề kháng với nhiệt độ cao, formalin, pH thấp (Sebastian Knell et al.Có thể duy trì tính gây nhiễm trong điều kiện pH<2, nhưng giảm đi đáng kể ở pH= 11, gần như biến mất tại pH=12. PCV2 bất hoạt ở nhiệt độ 56°c trong 1h, trong 15’ ở 75°c và bị diệt ở 80°c trong 15’ (Welch J, Bienek và cs , 2006). Trong điều kiện khô, virus chịu được ở 120°c trong 30’.Có thể phân lập vi rút trong mẫu bệnh phẩm bảo quản ở -700 C (Ellis et al.

Virus khó bị tiêu diệt bằng thuốc tẩy rửachứa lipit hoà tan, iodine và phenol nhưng không hoạt động bởi các chất tẩy kiềm ( sodium hydroxide), tác nhân oxyt (sodium hypochlorite), hỗn hợp 1/4 ammonium, 2% các chất diệt trùng hỗn hợp 1(20% glutaraldehyde, 12% 2-propenal, polymervớiformaldehyde), hỗn hợp 2 (55 acidformic%, 7% glyoxylicacid) sau 120 phút ở 200C, nhưng tác dụng rất kém ở 100C (Meehan B. Loài mắc bệnh Theo John A.Ellis (2003) và Jimmerman (2012) thì PCV2 phổ biến trên toàn thế giới, lợn nhà và lợn rừng đều có thể mắc phải. Những loài khác, bao gồm cả con người không dễ mắc PVC2, không thấy các bệnh tích đại thể và tổn thương vi thể sau khi gây nhiễm PCV2 trên cừu và bê, kháng nguyên không tìm thấy trong các mô. Bằng phản ứng ELISA, John A.Ellis et al.

(2001) đã chứng minh ngựa, trâu, bò không cảm nhiễm với bệnh. Chuột lại là trung gian truyền bệnh PCV2, chuật nhắt và chuột nhà quanh những trại lợn dương tính với PCV2 và kháng thể được tìm thấy trong huyết thanh chuột gây nhiễm ( Jun Li et al. Lứa tuổi mắc bệnh Theo John C.Harding et al. (1998) thì hội chứng PMWS do PCV2 thường gây bệnh cho lợn từ 2-17 tuần tuổi, chủ yếu là lợn từ 2-5 tuần, tại thời điểm lợn không còn bú mẹ và không nhận được kháng thể từ mẹ.

Trong lứa tuổi mắc bệnh không có sự ảnh hưởng của tuổi đến số lượng vi rút trong huyết thanh và mức tổn thương mô bào. Chất chứa virus Virus có trong dịch mũi miệng,phân và nước tiểu, hạch amidan, phế quản, chất bài tiết của mắt nước bỏ, sữa, sữa non và tinh trùng của lợn bệnh. Theo 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Timmusk et al. (2006), ở lợn đực gây nhiễm virus được tìm thấy sau 5-35 ngày trong tinh dịch, kháng thể xuất hiện sau 11-90 ngày.

Virus xuất hiện ở máu lợn nái mang thai sau 7-14 ngày sau thụ tinh nhân tạo, trong lợn con chết lưu, thai bị sảy và lơn yếu khi sinh. Kháng nguyên và acid nucleic PCV2 thường được tìm thấy trong các hạch lympho sưng lớn (100%), 88% ở lách, 64% tại phổi, 35% tại thận và 15% tại gan cũng tìm thấy trong các đại thực bào tại trung tâm của các ổ viêm, biểu mô đường hô hấp, tế bào biểu mô, niêm mạc và hạ niêm mạc ruột non (Allan GM, 2000). Triệu chứng bệnh do virus PCV2 gây ra Hội chứng lợn còi cọc sau cai sữa phổ biến trên lợn từ 2-4 tháng tuổi, vào thời gian đó những con lợn bị nhiễm có biểu hiện lâm sàng có lượng virus tập trung trong huyết thanh cao nhất, thải virus ở mức độ cao và chứng minh một phản ứng kháng thể yếu hơn so với những con vật mắc bệnh cận lâm sàng. Lợn sau cai sữa và lợn thịt: bệnh tiến triển chậm.

Lợn kém vận động, gầy, giảm cân,lông thô, da xanh đôi khi trở nên vàng. Đôi khi nhợt nhạt thiếu máu không phục hồi do kết hợp với vi rút tác độngđến tủy xương hoặc do suy dinh dưỡng, (John A.SHarding et al.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Phương Pháp ELISA Chẩn Đoán Porcine Circovirus Type 2 Sử Dụng Kháng Nguyên Tự Chế" cung cấp một cái nhìn sâu sắc về phương pháp chẩn đoán virus Porcine Circovirus Type 2 (PCV2) thông qua kỹ thuật ELISA. Tài liệu này không chỉ mô tả quy trình thực hiện mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sử dụng kháng nguyên tự chế, giúp nâng cao độ chính xác và hiệu quả trong việc phát hiện virus. Độc giả sẽ nhận được những thông tin quý giá về cách thức áp dụng phương pháp này trong thực tiễn, từ đó cải thiện quy trình chẩn đoán và quản lý sức khỏe đàn heo.

Để mở rộng kiến thức về các ứng dụng sinh học trong nông nghiệp, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ứng dụng chế phẩm sinh học pseudomonas trong sản xuất hồ tiêu tại tân sơn thành phố pleiku tỉnh gia lai, nơi nghiên cứu về các chế phẩm sinh học trong sản xuất nông nghiệp. Ngoài ra, tài liệu Luận án nghiên cứu sử dụng chế phẩm vi khuẩn có ích bacillus trong sản xuất lạc ở quảng nam cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về việc ứng dụng vi khuẩn có ích trong sản xuất nông sản. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu về Luận văn thạc sĩ nghiên cứu một số đặc tính của các chủng bacillus subtilis trong điều kiện in vitro nhằm tạo chế phẩm ứng dụng trong chăn nuôi, giúp bạn hiểu rõ hơn về các chế phẩm sinh học trong chăn nuôi. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và khám phá thêm nhiều khía cạnh thú vị trong lĩnh vực sinh học và nông nghiệp.