MỞ ĐẦU * L DO CHỌN Đ T I Cây tiêu (Piper nigrum L.) là loại cây công nghiệp nhiệt đới, có giá trị xuất khẩu cao, đem lại nhiều lợi nhuận cho ngƣời trồng trọt. Tiêu đƣợc trồng ở nhiều vùng sinh thái của nƣớc ta nhƣ: Miền đồi núi Quảng Trị, vùng Đông Nam Bộ và các tỉnh Tây Nguyên [1]. Trong những năm gần đây, diện tích, năng suất và sản lƣợng hồ tiêu của Việt Nam tăng nhanh, từ năm 2002 đến nay là nƣớc giữ ngôi vị đứng đầu về sản xuất và xuất khẩu hồ tiêu trên thế giới. Theo số liệu thống kê, tới tháng 11 năm 2014, khối lƣợng xuất khẩu tiêu 11 tháng đầu năm của Việt Nam lên tới 151 nghìn tấn, với giá trị 1,16 tỷ USD, tăng 18,1% về khối lƣợng và tăng 35,7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2013 và chiếm khoảng 50% tổng lƣợng xuất khẩu hạt tiêu của thế giới [12].
Với xu hƣớng phát triển nhƣ vậy, Việt Nam sẽ là nƣớc quyết định tới giá cả và chi phối đƣợc thị trƣờng hồ tiêu thế giới trong thời gian tới. Mặc dù quy mô diện tích cũng nhƣ sản lƣợng của hồ tiêu tƣơng đối lớn nhƣng ngành sản xuất hồ tiêu của nƣớc ta chủ yếu là tự phát. Ngƣời dân trồng, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh hoàn toàn dựa vào kinh nghiệm sản xuất lâu đời [13]. Do vậy, ngƣời sản xuất gặp rất nhiều khó khăn khi áp dụng các biện pháp kỹ thuật cũng nhƣ các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới trong quá trình chăm sóc, khai thác cây tiêu.
Gia Lai là một tỉnh miền núi nằm ở phía bắc Tây Nguyên trên độ cao trung bình 700 – 800 m so với mực nƣớc biển, là nơi có nhiều điều kiện tự nhiên đất đai, khí hậu thuận lợi để phát triển cây hồ tiêu, trong những năm trở lại đây diện tích và sản lƣợng cây hồ tiêu tại Gia Lai tăng liên tục theo xu thế của cả nƣớc [2; 36]. Ở đây, ban đầu đã hình thành những vùng trồng tiêu chuyên canh, ngƣời dân có nhiều kinh nghiệm và thƣờng tập trung đầu tƣ thâm canh, đặc biệt là đầu tƣ phân bón để có thể đạt năng suất cao. Tuy nhiên, việc lạm dụng quá nhiều phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật làm mất cân bằng sinh thái trong đất, phá vỡ cấu trúc đất, tiêu diệt nhiều loại sinh vật có lợi. dẫn đến phát sinh nhiều loại bệnh dịch nguy hiểm làm giảm năng suất, sản lƣợng và tuổi thọ của vƣờn tiêu, đặc biệt là các bệnh hại nhƣ bệnh chết nhanh (Phytophthora capsici), bệnh tuyến trùng nốt sần rễ (Meloidogyne sp.), bệnh chết chậm (Fusarium sp.
Để hạn chế bệnh hại trên cây tiêu cần phải áp dụng một cách có hệ thống và đồng bộ của nhiều biện pháp khác nhau, trong đó có biện pháp sinh học. Biện pháp sinh học có thể nói đơn giản là sử dụng các sinh vật để khống chế sinh vật hại và rộng hơn là dùng các vi sinh vật và các sản phẩm của chúng để kiềm hãm sinh vật gây hại. Có thể nói hiện nay biện pháp sinh học là một biện pháp chủ lực trong quản lý dịch hại tổng hợp [3; 17; 23]. Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 2 Bệnh chết nhanh (Phytophthora capsici) là bệnh nguy hiểm số một ở tất cả các vùng trồng tiêu ở nƣớc ta, nhiều nơi không thể phát triển hoặc mở rộng diện tích trồng tiêu chủ yếu là do bệnh này hoành hành.
Bệnh có thể gây hại ở cá bộ phận nhƣ thân, lá, hoa, trái… nhƣng nguy hiểm nhất vẫn là trên cổ rễ. Bệnh chết nhanh rất khó phòng trừ triệt để bằng các phƣơng pháp hóa học. Chính vì vậy việc nghiên cứu quy trình để phòng trừ bệnh chết nhanh cho cây hồ tiêu thực sự có ý nghĩa. Kết quả nghiên cứu của Trần Thị Thu Hà và các cộng sự chỉ ra rằng: Chế phẩm sinh học Pseudomonas có khả năng phòng trừ bệnh chết nhanh (Phytophthora capsici) trên cây hồ tiêu.
Chế phẩm sinh học Pseudomonas đƣợc tạo ra từ chủng vi khuẩn đối kháng Pseudomonas putida (P. putida) đƣợc phân lập từ rễ cây hồ tiêu khoẻ ở Việt Nam và có khả năng tạo ra chất hoạt dịch putisolvin, có khả năng phân giải bào tử động của bệnh chết nhanh. Ngoài ra chủng P. putida có khả năng tạo ra indol acetic acid (IAA) là một chất kích thích sinh trƣởng cho cây trồng [23].
Kết quả thử nghiệm chế phẩm tại 16 mô hình trồng tiêu ở Quảng Trị, Gia Lai, Đắc Lắc, cho thấy: Chế phẩm không chỉ có khả năng phòng trừ bệnh tốt (hạn chế và phòng ngừa đƣợc sự lây lan của bệnh, giảm tỷ lệ cây tiêu bị chết xuống còn 15 – 30%) mà còn giúp kích thích sự phát triển của cây tiêu thời kỳ kiến thiết cơ bản và kinh doanh. Đối với hồ tiêu ƣơm hom giống, khi sử dụng chế phẩm này cho tỷ lệ sống đạt trên 90 – 95%, cây sinh trƣởng và phát triển tốt, cho nhiều rễ, tạo ra cây giống khỏe. Đây còn là phƣơng pháp phòng trừ bệnh rất thân thiện với môi trƣờng, giúp thực hiện sản xuất hồ tiêu theo hƣớng bền vững. Đã có nhiều nghiên cứu cho thấy việc áp dụng biện pháp sử dụng các chế phẩm sinh học từ Trichoderma, Pseudomonas trên cây hồ tiêu cho kết quả cao.
Tuy nhiên, những nghiên cứu này chỉ tập trung vào cây tiêu giai đoạn kinh doanh. Những hiểu biết về phòng trừ bệnh cho cây tiêu giai đoạn vƣờn ƣơm và kiến thiết cơ bản đang còn rất hạn chế. Bên cạnh đó, việc sử dụng các chế phẩm sinh học nhằm phòng trừ bệnh chết nhanh vẫn chƣa đƣợc ứng dụng một cách rộng rãi. Xuất phát từ nhu cầu thực tế trên chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu ứng dụng chế phẩm sinh học Pseudomonas trong sản xuất hồ tiêu tại Tân Sơn, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
* MỤC Đ CH V U CẦU C A Đ T I M t u ầu t Hoàn thiện quy trình sản xuất cây giống hồ tiêu có xử lý chế phẩm sinh học Pseudomonas từ hom thân với số đốt/hom theo phƣơng pháp nhân giống truyền thống của nông dân. Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 3 - Xây dựng đƣợc mô hình sử dụng chế phẩm Pseudomonas putida trên cây hồ tiêu tại xã Tân Sơn, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. - Xác định hiệu quả của chế phẩm sinh học Pseudomonas đến phòng trừ bệnh chết nhanh, sinh trƣởng phát triển và năng suất cây hồ tiêu, nâng cao hiệu quả trong sản xuất hồ tiêu theo hƣớng bền vững ở Gia Lai. * NGH A HOA HỌC V NGH A TH C TIỄN ng ĩ k o ọc - Góp phần cung cấp cơ sở khoa học nhằm hạn chế việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất hồ tiêu, làm giảm ô nhiễm môi trƣờng.
- Góp phần cung cấp cơ sở khoa học nhằm hạn chế thiệt hại về kinh tế do bệnh hại gây ra trong sản xuất cây hồ tiêu. ng ĩ t ực tiễn - Xây dựng đƣợc mô hình sử dụng chế phẩm Pseudomonas putida trên quy trình sản xuất hồ tiêu ở giai đoạn kiến thiết cơ bản và kinh doanh tại xã Tân Sơn, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. - Chuyển giao quy trình sản hồ tiêu có sử dụng chế phẩm Pseudomonas và quy trình ứng dụng chế phẩm Pseudomonas trong phòng trừ bệnh hại trên cây hồ tiêu, đặc biệt là bệnh chết nhanh (Phytophthora capsici) và bệnh chết chậm (Fusarium sp.) cho các nông hộ sản xuất hồ tiêu ở xã Tân Sơn, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. * ĐỐI TƢỢNG V PHẠM VI Đố tƣơng ng n ứu - Bệnh chết nhanh hồ tiêu (Phytophthora capsici).
- Chế phẩm sinh học Pseudomonas đƣợc làm từ chủng vi khuẩn đối kháng P. putida 199B [23], sử dụng than bùn đã đƣợc hoạt hóa làm chất mang với mật độ bào tử 108 CFU/g chế phẩm. - Hồ tiêu giâm hom giai đoạn vƣờn ƣơm và vƣờn sản xuất, hồ tiêu ở vƣờn kiến thiết cơ bản và vƣờn kinh doanh. Phạm vi nghiên cứu Các thí nghiệm đƣợc bố trí tại Tân Sơn, Pleiku, Gia Lai, trong thời gian từ tháng 6/2015 - 12/2015.
Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 C ƣơng 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN Đ NGHI N C U 1. NGUỒN GỐC VÀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CÂY HỒ TIÊU Cây hồ tiêu (Piper nigrum L.) thuộc họ Piperaceae, bộ Piperales, có số nhiễm sắc thể 2n = 52 [10]. Cây hồ tiêu có nguồn gốc ở Ấn Độ, mọc hoang trong các rừng nhiệt đới ẩm phía Tây vùng Ghats và Assam [10]. Cây tiêu thƣờng xuất hiện ở vùng đồng bằng và ít khi đƣợc tìm thấy ở độ cao trên 1500 m [28].
Ngƣời Hi Lạp gọi là Piperi, các nƣớc nói tiếng Latin gọi là Piper và ngƣời Anh gọi là Pepper. Tất cả các tên gọi này đều bắt nguồn từ Sanskrit, ngƣời dân bản xứ gọi là Pippali, chính là tên của loại tiêu dài mà cho đến nay không còn đƣợc tìm thấy ở Châu u nữa. Tuy nhiên Chevalier (1925) cho biết cây tiêu chắc chắn là cây bản địa ở Đông Dƣơng, bằng chứng là Balanca đã tìm thấy tiêu dại ở vùng núi Ba Vì, miền Bắc Việt Nam. Ở Campuchia, ngƣời Stiêng đôi khi cũng thu hoạch tiêu trong rừng.
Tiêu là sản phẩm đƣợc ƣa thích tại Ấn Độ từ thời xa xƣa và là loại gia vị đƣa đến Châu u trong thời Hy Lạp và Rome cổ. Theo triết gia Theophrastus (372 – 287 TCN), những nhà triết học Hy Lạp thỉnh thoảng gọi nó là cha của những loài thực vật và đã đƣợc một học trò của Alexander, dƣới thời Aristotle phân biệt đƣợc hai loại tiêu có tên là tiêu đen và loại kia là Piper nigrum, cho thấy sự xuất hiện rất sớm của hạt tiêu tại Châu u. Các nhà khoa học cho rằng, con ngƣời bắt đầu trồng tiêu từ những năm 2000 trƣớc công nguyên. Không biết rằng các vƣờn tiêu đầu tiên xuất hiện khi nào, nhƣng vào cuối thế kỷ thứ XVIII, tiêu đã đƣợc trồng phổ biến tại Malabar, Ấn Độ.
Theo Jan Kieniewicz vào cuối thế kỷ XVIII, mỗi vƣờn tiêu rộng từ 0,5 đến 1 mẫu Anh và có khoảng 50 đến 150 trụ, một trụ trồng khoảng 6 dây tiêuvà thu hoạch từ 125 đến 600 pounds. Các nhà vƣờn lúc này sử dụng hạt tiêu cho các hoạt động trong gia đình và bán ra bên ngoài [4]. Từ bờ biển Malabar thuộc Ấn Độ, tiêu đã đƣợc vận chuyển qua những con đƣờng mòn trên lục địa cũng nhƣ trên biển bằng những con tàu đƣợc xây dựng bởi Rome và Ấn Độ đã giúp cho việc buôn bán thứ gia vị này trở nên thuận lợi và độc quyền.