phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 3 chương: hương 1: ơ sở lý luận về dạy học theo hướng tích cực hóa người học. hương 2: Thực trạng dạy học môn tiếng Anh 9 tại trường TH S Linh Đông. hương 3: Áp dụng phương pháp và kỹ thuật dạy học theo hướng tích cực hóa người học cho môn tiếng Anh 9 tại trường TH S Linh Đông. Luan van 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC THEO HƢỚNG TÍCH CỰC HÓA NGƢỜI HỌC 1.
Lịch sử vấn đề nghiên cứu: 1. Trên thế giới: Tư tưởng về tính tích cực của người học đã có từ lâu. Từ thời cổ đại, các nhà sư phạm lỗi lạc đã đề cập đến tầm quan trọng của vấn đề này và đã bàn đến nhiều biện pháp phát huy tính tích cực của người học. Socrates (469 – 339 TCN), người thầy vĩ đại của Hy Lạp cổ đại đã từng dạy các học trò của mình bằng cách luôn đặt các câu hỏi gợi mở nhằm giúp người học dần dần phát hiện ra chân lý [33, tr.
Ở Trung Hoa, Khổng Tử (551 – 479 T N) đòi hỏi người học phải tìm tòi, suy nghĩ, đào sâu trong quá trình học. Ông nói: “Không tức giận vì muốn biết thì không gợi mở cho, không bực tức vì không rõ được thì không bày vẽ cho. Vật có bốn gốc, bảo cho biết một góc mà không suy ra ba góc kia thì không dạy nữa” [32, tr. Montaigne (1533 – 1592) nhà quý tộc Pháp, người chuyên nghiên cứu lý luận, đặc biệt là về giáo dục đã đề ra phương pháp giáo dục “học qua hành”.
Ông cho rằng: “Muốn đạt được mục tiêu này, tốt nhất là bắt trò liên tục hành để học, học qua hành. Vậy vấn đề không phải là giảng dạy một cách giáo điều, thầy nói liên tục. Trái lại, chủ yếu bắt trò hoạt động, vận dụng khả năng phán đoán của mình [14, tr.Komensky (1592 – 1670), nhà giáo dục Tiệp Khắc đã đưa ra bí quyết về phương pháp giảng dạy: “Bí quyết của giáo dục là rèn luyện cho các em một tâm hồn dễ dàng, tích cực, tự do, ngăn cản được các điều mà các em muốn làm, ngược lại đẩy được các em làm những điều mà chúng không muốn”. Ông nêu rõ: “ hủ yếu dạy các em qua việc làm chứ không phải qua lời giảng”.
Trong tác phẩm “Lý luận Luan van 6 dạy học vĩ đại” của mình, ông đã nêu tính tự giác, tính tích cực với tư cách là một trong những nguyên tắc dạy học quan trọng và cơ bản nhất [11].Rousseau (1712 – 1778) là lý luận thiên tài của Pháp thời kỳ khai sáng, kịch liệt phê phán nhà trường đương thời lạm dụng lời nói, ông coi trọng sự phát triển tự nhiên, tự do, coi trọng tự giáo dục của trẻ, phản đối việc chèn ép cá tính của trẻ. Ông cho rằng muốn giáo dục con người tốt phải bằng hoạt động tiếp cận đối tượng với hoạt động, với thực tế. Ông nhận xét cách giảng dạy ba hoa sẽ tạo nên những con người ba hoa, đừng cho trẻ em khoa học mà phải để tự nó tìm tòi ra khoa học. Ông viết: “Không dạy các em môn khoa học mà chỉ khêu gợi tinh thần yêu chuộng khoa học và cấp cho các em phương pháp học khoa học, khi nào tinh thần yêu chuộng khoa học phát triển hơn nữa.
Đó là nguyên tắc căn bản của mỗi nền giáo dục tốt” [23, tr. Như vậy, với các tư tưởng giáo dục tiến bộ trên, chúng ta thấy giáo dục có ý nghĩa rất rộng, bao hàm phần lớn các lĩnh vực và khái niệm học tập tích cực như: học qua trải nghiệm, học thông qua giải quyết vấn đề,. Kế thừa ý tưởng giáo dục của các thời đại trước, trong thế kỷ XIX, XX các nhà giáo dục Đông – Tây đều tìm đến con đường phát huy tính tích cực học tập, chủ động, sáng tạo của người học. Nước Đức là một quốc gia điển hình chịu ảnh hưởng sâu rộng quan điểm sư phạm hiện đại của Pestalozzi “lấy học sinh làm trung tâm”, nhiều trường học được thiết lập và áp dụng phương pháp giáo dục mới.
Vào đầu thế kỷ XIX, nước Anh nhận định rằng phương pháp mới đối với họ có giá trị nhưng chưa có điều kiện thực hiện và phổ biến. Tại Mỹ, phương pháp sư phạm mới được giới thiệu Philadelphia. Tại Thụy Sĩ, một trung tâm giáo dục được thiết lập để giảng dạy theo phương pháp lấy học sinh làm trung tâm [33, tr.Piaget cho rằng: “dựa trên quan điểm cá nhân luôn hoạt động, không có hoạt động thì cá nhân không tồn tại trong môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh mình. Chỉ có trong Luan van 7 hoạt động thì tính tích cực, tâm lý, ý thức của con người mới bộc lộ, nảy sinh, hình thành và phát triển” [20].Rubinstein khẳng định: “Bất kỳ hoạt động nào của con người cũng xuất phát từ chỗ nó là một cá nhân, như một chủ thể của hoạt động đó”.
Học là một hoạt động, một hành vi tích cực chứ không phải là chỉ tiếp nhận, có động cơ cá nhân chứ không phải có sự khác biệt cá nhân, do xã hội quy định chứ không phải nội sinh và phụ thuộc cao độ vào phương pháp. Muốn học sinh chuyển tri thức nhân loại thành kiến thức của bản thân thì người thầy phải tổ chức cho học sinh tích cực hoạt động [35]. Nghiên cứu của S.Franz về những biểu hiện thái độ học tập tích cực đã được công nhận và sử dụng rộng rãi đó là: 1/ trên lớp chú ý nghe giảng; 2/ học bài và làm bài đầy đủ; 3/ cố gắng vươn lên học được nhiều; 4/ không vội vàng phản ứng tiêu cực nếu có chỗ nào chưa hiểu hoặc không nhất trí với bài giảng; 5/ đảm bảo kỷ luật để học tốt; 6/ cố gắng đạt thành tích học tập tốt và nâng cao thành tích học tập của mình một cách trung thực; 7/ thích độc lập thực hiện nhiệm vụ học tập; 8/ hăng hái nhiệt tình trong giờ thảo luận và chữa bài tập; 9/ hoàn thành nhiệm vụ học tập một cách nghiêm túc; 10/ giữ gìn tài liệu học tập cẩn thận [27].Ôkôn trong cuốn “Những cơ sở của việc dạy học nêu vấn đề” cho rằng tính tích cực là lòng mong muốn hành động được nảy sinh một cách không chủ định và gây nên những biểu hiện bên ngoài hay bên trong của sự hoạt động. Chủ thể đã ý thức được mục đích hành động [34].Pôlia trong cuốn “Sáng tạo toán học”-1977, I.Kharlamôp trong cuốn “Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào”-1978 đã cho rằng tính tích cực là trạng thái hoạt động của chủ thể [13], [18].
Trong cuốn “Dạy học nêu vấn đề” của I.Lecne, nhà giáo dục Xô Viết đã nói: “Mục đích của tập sách này là làm sáng rõ bản chất của PPDH gọi là dạy học nêu vấn đề, vạch rõ cơ sở của phương pháp đó, tác dụng của nó và phạm vi áp dụng nó” [14, tr. Đầu thế kỷ XIX trong tác phẩm của mình, nhà giáo dục Nga K.Usinxki, đã nhiều lần khẳng định tầm quan trọng của tính tích cực và độc lập trong quá trình Luan van 8 dạy học như là “cơ sở vững chắc cho mọi sự học tập có hiệu quả”. Các công trình nghiên cứu về tính tích cực của HS ngày càng được quan tâm và chú trọng nhiều hơn, gắn với tên tuổi của các nhà tâm lý học và giáo dục học như ristova, M. Tại Việt Nam: Ở Việt Nam, các tác giả như Trần Bá Hoành, Nguyễn Cảnh Toàn, Vũ Hồng Tiến xem tư tưởng dạy học theo hướng tích cực hóa người học là một chủ trương quan trọng của ngành giáo dục, được giới thiệu rộng khắp trên các báo và tạp chí chuyên ngành.
Tác giả Trần Bá Hoành với các bài “Dạy học lấy học sinh làm trung tâm” đăng trên tạp chí nghiên cứu giáo dục (NCGD) số 3/1996, bài “Phát triển trí sáng tạo của học sinh và vai trò của giáo viên” đăng trên tạp chí NCGD số 9/1996 nêu rõ thế nào là dạy học lấy HS làm trung tâm, thế nào là PPDH tích cực hóa người học, thế nào là phương pháp hợp tác. Tác giả cũng chỉ rõ đặc trưng tính và tính tích cực của HS trong các PPDH trên [15, tr. Ông Trần Hồng Quân (nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) trong bài “ ách mạng về phương pháp sẽ đem lại bộ mặt mới, sức sống mới cho giáo dục ở thời đại mới” đăng trên tạp chí NCGD số 1/1995 viết: “Muốn đào tạo được con người khi bước vào đời là con người tự chủ, năng động và sáng tạo thì phương pháp giáo dục cũng hướng vào việc khơi dậy, rèn luyện và phát triển khả năng nghĩ và làm một cách tự chủ, năng động và sáng tạo. Người học tích cực học bằng hành động của mình.
Người học tự tìm hiểu, phân tích, xử lý tình huống và giải quyết vấn đề, khám ra ra cái chưa biết. Nhiệm vụ của người thầy là chuẩn bị cho HS thật nhiều tình huống chứ không phải là nhồi nhét thật nhiều kiến thức vào đầu óc HS” [30, tr. Tác giả Nguyễn Kỳ trong bài “Biến quá trình dạy học thành quá trình tự học” đã đưa ra những cơ sở lý luận về PPDH theo hướng tích cực hóa người học. Tác giả cũng chỉ rõ quá trình tự học là quá trình tự nghiên cứu, tự thể hiện, tự kiểm tra, tự điều chỉnh dưới sự hướng dẫn, tổ chức, trọng tài của thầy.
Trong bài “Phương pháp giáo dục tích cực” đăng trên tạp chí NCGD số 7/1993 chỉ rõ: trẻ em là chủ thể học Luan van 9 tích cực bằng hành động của chính mình. Lớp học là cộng đồng các chủ thể thể [10, tr. Tác giả Nguyễn Ngọc Bảo với cuốn sách “Phát triển tính tích cực, tính tự lực của học sinh trong quá trình dạy học” đã đưa ra quan niệm học là hoạt động tích cực, tự lực và là trung tâm của quá trình dạy học và đã nêu lên các phương pháp tích cực hóa hoạt động học tập của HS [32, tr. Bên cạnh đó, các tác giả như Phạm Minh Hạc, Nguyễn Quang Uẩn, Trần Trọng Thùy, Hồ Ngọc Đại, Trần Hữu Luyến, Nguyễn Kế Hảo, Bùi Văn Huệ, Ngô Công Hoàn tiếp cận quan điểm duy vật biện chứng và hoạt động đều coi nhân cách là chủ thể có ý thức.
Tính tích cực là một thuộc tính của nhân cách. Tính tích cực của nhân cách bao gồm các thành tố tâm lý như nhu cầu, động cơ, hứng thú, niềm tin, lý tưởng.